Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TỨC Y DƯỢC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TỨC Y DƯỢC. Hiển thị tất cả bài đăng

Sắn dây củ tròn-Pueraria mirifica Airy Shaw & Suvat.; họ Đậu-Fabaceae

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

Sắn dây củ tròn


Tên Latinh: Pueraria mirificaAiry Shaw & Suvat.; họ Đậu-Fabaceae
Tên đồng nghĩa: Pueraria candollei var. mirifica (Airy Shaw & Suvat.) Niyomdham.
Tên Việt Nam: Kwao Krua Trắng, Sắn dây củ tròn, Sâm tố nữ
Tên nước ngoài: Kwao Kruea Khao, White Kwao Krua (Thái Lan)
Đặc điểm thực vật:
- Cây dây leo cứng, leo quanh các gốc cây lớn. Lá hình chân vịt, có 3 lá chét trên 1 cuống. Lá đơn, hình trứng, đỉnh nhọn. Hoa màu tím hơi xanh, cụm hoa dài 30 cm, mọc ở đầu cành. Hoa tương tự như hoa đậu, có 5 cánh. Cánh ở ngoài cùng lớn nhất, hai cánh hai bên uốn cong, cái ở trong cùng bao bọc bầu hoa. Quả già có vỏ màu nâu, có 3-5 hạt. Rễ củ có nhiều kích thước khác nhau. Bên ngoài trông giống củ khoai lang, bên trong màu trắng, khi nếm có thể gây đau đầu, chóng mặt. Cây ra hoa từ tháng 2-3 và kết quả vào tháng 4. Củ to hay nhỏ là phụ thuộc vào điều kiện môi trường , thổ nhưỡng và thời gian trồng.

Sắn dây củ tròn-Pueraria mirifica Airy Shaw & Suvat.; họ Đậu-Fabaceae
Pueraria mirifica
Pueraria mirifica Airy Shaw & Suvat.; họ Đậu-Fabaceae
Đa dạng di truyền:Theo người dân Thái Lan, có ít nhất 3 “giống” Sắn dây củ tròn, bao gồm: giống đen, giống trắng và giống đỏ. Về hình dạng, ít nhất có 2 “giống”: củ tròn và củ dài Các “giống” này được sử dụng khác nhau.
Phân bố: Ở vùng núi cao trên 600m so với mực nước biển,  phía Bắc Thái Lan, Mi-an-ma.
Bộ phận dùng: Rễ phơi hay sấy khô (Radix Puerariae mirificae)
Thành phần hóa học:
Rễ củ cây Sắn dây củ tròn trắng có chứa các hợp chất giống estrogen như miroestrol, deoxymiroestrol, và các isoflavonoid như puerarin, daidzin, genistin, daidzein và genistein (Cain JC., 1960).
Ngoài ra trong cây còn chứa một số isoflavone như kwakhurin, kwakhurin hydrate (Dweck AC., 2003). Rễ cây có chứa: mirificoumestan, deoxymiroestrol, coumestrol (Anthony C. Dweck, FLS, FRSC, FRSH, 2009). Hàm lượng các phytoestrogen trong rễ củ của cây thay đổi và phụ thuộc vào điều kiện trồng (Cherdshewasart W, Subtang S, Dahlan W. J, 2007).
Hàm lượng miroestrol và deoxymiroestrol trong rễ củ của cây lần lượt là 182.18±8.25 µg/g và 154.34±5.70 µg/g tính theo khối lượng dược liệu khô, ngoài ra thành phần isoflavonoid có hàm lượng 5.45±0.04 mg/g tính theo khối lượng dược liệu khô (G. Yusakul và cộng sự, 2011).
Năm 2012, bằng phương pháp Sắc ký lỏng hiệu năng cao đã phát hiện ra ít nhất 17 hợp chất estrogel thực vật, trong đó chủ yếu là các isoflavones (daidzin, daidzein, genistin, genistein và puerarin) và những chất khác như miroestrol và các dẫn xuất của nó, beta-sitosterol, stigmasterol, coumestrol, puerarin, mirificoumestan, kwakhurinmirificin, b-sitosterol, ankan rượu, chất béo và đường. Isoflavon (Malaivijitnond S, et al., 2012).
Tác dụng dược lý:
1. Tác dụng estrogen
- Ở Thái Lan, cây được dùng với tác dụng nở ngực, làm đẹp vòng ngực cho phụ nữ. Cụ thể giúp tăng kích thước và làm tăng kích thước vòng ngực.
- Cây được sử dụng từ lâu trong dân gian, được dùng như một chất bổ sung dinh dưỡng có tác dụng làm giảm các triệu chứng của quá trình lão hóa như chảy xệ ngực, nhăn da, loãng xương, bạc tóc, v.v… Cây là nguồn giàu sterol và các chất giống hormone có tác dụng trong điều trị nhăn và lão hóa da (Anthony C. Dweck, FLS, FRSC, FRSH, 2009).
- Cây Kwao Krua Trắng còn có tác dụng chống loãng xương. Tác dụng này đã được tiến hành trên chuột đực vào năm 2007 (Urasopon N, Hamada Y, Asaoka K, et al.,2007). Các tác giả này cũng tiến hành nghiên cứu tác dụng chống loãng xương của cây trên chuột cái đã cắt bỏ buồng trứng. Nghiên cứu cho thấy tác dụng chống loãng xương của cây phụ thuộc vào loại xương, vị trí trên xương, và khoang xương (Urasopon N, et al., 2008).
- Dịch chiết thô và các thành phần tinh khiết từ cây Kwao Krua Trắng đã được chứng minh có tác dụng estrogen trong nhiều thí nghiệm tiến hành trên chuột chưa trưởng thành (Jones HEM, Pope GS., 1960), chuột cái (Jaroenporn S, Malaivijitnond S,Wattanasirmkit K, et al., 2007), chuột bị cắt bỏ buồng trứng (Benson GK, Cowie AT, Hosking ZD., 1961; Malaivijitnond S, Chansri K, Kijkuokul P, et al., 2006; Cherdshewasart W, Kitsamai Y, Malaivijitnond S., 2007), khỉ cái (Trisomboon H, Malaivijitnond S, Cherdshewasart W, et al., 2007), khỉ cái đã mãn kinh (Trisomboon H, Malaivijitnond S,Watanabe G, et al., 2006), chuột đực (Jaroenporn S, Malaivijitnond S,Wattanasirmkit K, et al., 2006), và trong một thử nghiệm lâm sàng trên người (Cain JC., 1960; Muangman V, Cherdshewasart W., 2001).
- Một loạt chất có nguồn gốc từ xenobiotic ở cây cỏ và xenobiotic nhân tạo đã được báo cáo là đều có các hoạt động do hoóc môn gây ra. Nghiên cứu hiện nay đã tiến hành các khảo sát về tác dụng của Pueraria Mirifica (PM) – đã được sử dụng như một loại thuốc cổ truyền chống lão hóa ở Thái Lan, bằng cách dùng men tái hợp, các tế bào MCF-7 sinh sản nhanh và phân tích sự mở rộng tạm thời của các tế bào HepG2.
- Trong các phân tích của men tái hợp, 0.025, 0.25, 2.5, 25, 2.5 x 10(2), 2.5 x 10(3), 2.5 x 10(4) ng/ml PM cô đặc không cho thấy dấu hiệu hoạt động nào của estrogen, trong khi 10(-9) trong số 17 beta-estradiol lại cho kết quả hoạt động estrogen cao. Các hoạt động estrogen được quy lại ở dạng 2.5 ng/ml đến 25 microg/ml PM cô đặc trong một lượng tùy thuộc vào các tế bào MCF-7, những ảnh hưởng estrogen của PM được hạn chế bằng cách sử dụng tamoxifen, là một loại kháng estrogen phổ biến. PM còn cho thấy tác dụng của estrogen lên các tuyến tế bào u gan, các tế bào HepG2, có chứa gien của cơ quan nhận cảm estrogen và luciferase. Chung quy lại, PM tự bản thân nó có thể không mang đặc tính estrogen trong hệ thống men, nhưng lại có đặc tính estrogen trong các tế bào MCF-7 và HepG2 mang những enzim chuyển hóa của con người. Các kết quả đã chỉ ra rằng PM có thể cần fải được kích hoạt những chuyển hóa để estrogen có thể hoạt động được (Lee YS et al, 2002).
- Nghiên cứu của Udomsuk L trên chuột đực chủng C57BL/6 cho thấy Miroestrol và deoxymiroestrol phân lập từ rễ củ của loài Pueraria candollei var. mirifica có tác dụng trên các enzyme trong con đường sinh tổng hợp các Hormon sinh dục tương tự estradiol. Cụ thể, hai chất này làm giảm hoạt tính của các enzym 3β-HSD, 17β-HSD1, CYP17 và CYP19 mRNA, trong khi đó gây tăng hoạt tính enzyme 17β-HSD2 (Udomsuk L et al, 2011). 9 loại isoflavonoid, gồm có cả chất pterocarpene mới như puemiricarpene, đã được tách ra từ củ rễ của Pueraria mirifica (Leguminosae). Cấu trúc của puemiricarpene đã được xác định bằng các phương pháp quang phổ. Hoạt động estrogen của những loại isoflavonoid được tách biệt đã được thử nghiệm trên các tế bào ung thư vú MCF-7 ở con người. Các hoạt động đều đặn đã được theo dõi, đặc biệt là chất kwakhurin, là một loại prenylated isoflavonoid. (Chansakaow S, 2000).
- Trên mô hình sinh trưởng của tế bào MCF-7 và tế bào cổ tử cung, Sookvanichsilp N đã phát hiện ra hoạt tính estrogen của các dịch chiết từ rễ loài Pueraria mirifica, bao gồm: dịch chiết cồn, dichloromethane. Trong ba dịch chiết này thì dịch chiết Dichloromethan có hoạt tính estrogel mạnh nhất (Sookvanichsilp N, 2008).
- Một loạt các nghiên cứu liên quan đến tác động của các chất trong cây Pueraria mirifica trên các dòng tế bào vú trong ống nghiệm đã được thực hiện bởi Trường Đại học Emory Y khoa ở Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ, và Bộ phận sản phụ khoa,Phramongkutklao College of Medicine, Bangkok, Thái Lan. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng chiết xuất rễ củ cây Pueraria mirifica (Smith Naturals Co Ltd, Bangkok) có thể chống estrogen thuộc tính chống lại các dòng tế bào ung thư tích cực trong ống nghiệm, đặc biệt là các tăng sinh thụ thể estrogen dương tính (ER +) dòng ung thư vú (T47-D, MCF-7, và ZR-75-1) thu được từ Viện Ung thư MD Anderson (Texas) và Viện Ung thư Quốc gia (NCI) tại Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) Pueraria mirifica thúc đẩy các nguyên bào sợi trong tế bào vú bình thường và ức chế tế bào ung thư vú phụ thuộc estrogen (Chưa công bố, Sawatsri.S, et al., 2001).
2. Tác dụng chống oxy hóa
Nghiên cứu tác dụng của Miroestrol và deoxymiroestrol – các Phytoestrogen chiết xuất từ loài Pueraria candollei var. mirificatrên chuột của Udomsuk L (Udomsuk L et al, 2011) cho thấy:
- Các hợp chất này có tác dụng trên các enzyme Cytochrome P450 của gan, cụ thể: gây tăng hoạt tính benzyloxyresorufin O-dealkylase và giảm hoạt tính methoxyresorufin O-dealkylase. Kết quả này khẳng định ảnh hưởng của Miroestrol và deoxymiroestrol trên hai enzyme Cytochrome P450 là CYP2B9 (kích thích) và CYP1A2 (ức chế).
- Nghiên cứu trên tế bào não chuột: hai hợp chất này có tác dụng làm giảm sự oxy hóa lipid thôg qua sự giảm sinh malondialdehyde trong não.
- Từ phân đoạn Ethyl acetat tách từ dịch chiết cồn rễ củ loài Pueraria candollei var. mirifica Sucontphunt A đã nghiên cứu trên tế bào thần kinh đại não chuột chủng HT22 thấy có tác dụng chống oxy hóa và kháng độc với glutamat rõ ràng ở nồng độ 10 và 50 µg/ml theo cơ chế bất hoạt tác dụng của H2O2. Tác dụng thể hiện trên hình ảnh vi học tế bào và số lượng tế bào còn sống (Sucontphunt A et al, 2011).
3. Tác dụng trên chuyển hóa
Những estrogen thực vật tách từ rễ củ qua thử nghiệm tác dụng lên sự chuyển hóa lipid trên những phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh cho thấy chúng có tác dụng làm tăng đáng kể nồng độ Lipoprotein tỷ trọng cao – HDL (34%) và apolipoprotein A-1 (40%), đồng thời giảm nồng độ Lipoprotein tỷ trọng thấp – LDL (17%) và aplipoprotein B (9%). Khi xét tỷ lệ LDL/HDL và Apo B/Apo A thấy hai tỷ lệ này giảm rõ rệt (lần lượt là 37% và 35%) sau 2 tháng dùng thuốc (Okamura S, 2008).
4. Tác dụng ức chế gây đột biến
Nghiên cứu trên vi khuẩn Salmonella typhimuriumchủng TA98 và TA100 thấy dịch chiết từ hai loài Pueraria mirificaPueraria lobata không gây đột biến tế bào, mặt khác còn thể hiện rõ tác dụng ức chế đột biến liều dùng 2.5, 5, 10 và 20mg/khoanh khi sử dụng tác nhân gây đôt biến là 2-(2-furyl)-3-(5-nitro-2-furyl)- acrylamide và benzo(a)pyrene (Cherdshewasart W, 2009).

Tài liệu tham khảo
1. Yagi N, Nakahashi H, Kobayashi T, Miyazawa M (2013). Characteristic chemical components of the essential oil from white kwao krua (Pueraria mirifica). J Oleo Sci.;62(3):175-9.
2. Chatuphonprasert W, Udomsuk L, Monthakantirat O, Churikhit Y, Putalun W, Jarukamjorn K. (2013),  Effects of Pueraria mirifica and miroestrol on the antioxidation-related enzymes in ovariectomized mice. J Pharm Pharmacol.; 65(3):447-56.
3. Wiriyakarun S, Yodpetch W, Komatsu K, Zhu S, Ruangrungsi N, Sukrong S. (2012), Discrimination of the Thai rejuvenating herbs Pueraria candollei (White Kwao Khruea), Butea superba (Red Kwao Khruea), and Mucuna collettii (Black Kwao Khruea) using PCR-RFLP. J Nat Med.
4. Udomsuk L, Chatuphonprasert W, Monthakantirat O, Churikhit Y, Jarukamjorn K. (2012),  Impact of Pueraria candollei var. mirifica and its potent phytoestrogen miroestrol on expression of bone-specific genes in ovariectomized mice. Fitoterapia.;83(8):1687-92.
5. Udomsuk L, Juengwatanatrakul T, Putalun W, Jarukamjorn K. (2012), Suppression of BSEP and MRP2 in mouse liver by miroestrol and deoxymiroestrol isolated from Pueraria candollei. Phytomedicine.;19(14):1332-5.
6. Tiyasatkulkovit W, Charoenphandhu N, Wongdee K, Thongbunchoo J, Krishnamra N, Malaivijitnond S. (2012 ), Upregulation of osteoblastic differentiation marker mRNA expression in osteoblast-like UMR106 cells by puerarin and phytoestrogens from Pueraria mirifica. Phytomedicine.;19(13):1147-55.
7. Shimokawa S, Kumamoto T, Ishikawa T, Takashi M, Higuchi Y, Chaichantipyuth C, Chansakaow S. (2013), Quantitative analysis of miroestrol and kwakhurin for standardisation of Thai miracle herb 'Kwao Keur' (Pueraria mirifica) and establishment of simple isolation procedure for highly estrogenic miroestrol and deoxymiroestrol. Nat Prod Res.; 27(4-5):371-8.
8. Malaivijitnond S. (2012), Medical applications of phytoestrogens from the Thai herb Pueraria mirifica. Front Med.;6(1):8-21

Sắn dây củ tròn – Cây thuốc giúp tăng kích thước “vòng một”

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012


Sắn dây củ tròn hay còn gọi là Sâm tố nữ (tên khoa học: Pueraria mirifica; họ Đậu-Fabaceae), được biết đến từ lâu với khả năng hồi xuân đặc biệt ở nữ giới và chỉ được tìm thấy phần lớn ở những vùng cao phía bắc Thái Lan, Mi-an-ma.


Sắn dây củ tròn - Pueraria mirifica; họ Đậu-Fabaceae
Sắn dây củ tròn - Pueraria mirifica; họ Đậu-Fabaceae

Ở Thái Lan, Sắn dây củ tròn (có tên gọi là Kwao Krua trắng trong tiếng Thái) đã được sử dụng từ rất lâu với mục đích làm thuốc bổ và làm đẹp cho phụ nữ. Từ năm 2000, các nhà khoa học Thái Lan, Nhật Bản, Anh Quốc đã tiến hành nghiên cứu các hoạt tính sinh học của chiết xuất từ củ Sắn dây củ tròn dưới dạng cao và xác định cao Sắn dây củ tròn có chứa các phyto-estrogen quý có tác dụng tương tự nội tiết tố nữ estrogen: kích thích sự phát triển của các tuyến ngực và mô ngực do đó giúp ngực nở và săn chắc tự nhiên, chống lão hóa mạnh như kích thích mọc tóc, chống bạc tóc sớm, giúp da căng mịn, giảm nếp nhăn và tàn nhang; giúp vóc dáng eo thon, giảm nguy cơ béo phì và ung thư…
Các phyto-estrogen đó là các Isoflavon như genistin, daizein… Đặc biệt là chất miroestrol và deoxymiroestriol, những chất này chỉ được tìm thấy duy nhất ở Sắn dây củ tròn. Các nhà khoa học cũng chứng minh được đây là hai chất có hoạt tính estrogen mạnh gấp 100 lần so với các phyto-estrogen từ đậu tương (Soy – isoflavon) và mạnh nhất trong các loài thực vật. Mặc dù đã có nhiều báo cáo cho thấy các loài Sắn dây khác cùng họ với Sắn dây củ tròn (Sâm tố nữ) cũng có Isoflavon, nhưng những giống cây này có hình thái sinh vật khác và không có các đặc tính tốt như những nghiên cứu đã tìm thấy ở loài Pueraria có xuất xứ từ Thái Lan.
Trong một thử nghiệm lâm sàng được thực hiện tại Đại học Chulalongkorn Thái Lan và Anh Quốc, đã xác định được tỷ lệ phụ nữ sử dụng bột chiết xuất từ củ Sắn dây củ tròn (liều 800mg/ngày trong 2 tháng) có hiệu quả làm nở ngực là 82% và săn chắc ngực là 88%.

Chất độc trong mầm khoai tây

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Mầm khoai tây có chứa solanin, một loại glycoalkaloid đắng và độc - C45H73NO15. Ngoài ra chất này còn có ở cà chua và các cây khác trong họ Solanaceae. Solanincó tính gây mê và trước đây được dùng để chữa chứng động kinh. Solanin là dạng glycosid được tạo thành từ alkaloid solanidin và mạch đường. Solanin có thể xuất hiện một cách tự nhiên trong bất cứ bộ phận nào của cây, bao gồm cả lá, quả và củ. Nó rất độc, thậm chí ở hàm lượng rất nhỏ. Solanin có cả tính diệt nấm và trừ sâu và nó là một trong những chất tự nhiên bảo vệ cây. Khoai tây sản xuất solanin và chaconin, một chất glycoalkaloid cùng họ, một cách tự nhiên như cơ chế bảo vệ chống lại côn trùng và các tác nhân gây bệnh. Lá và thân cây khoai tây có hàm lượng glycoalkaloid tự nhiên cao.

Solasonin
Solasonin
Để củ khoai tây tiếp xúc với ánh sáng, dù ở trên cánh đồng, trong quá trình bảo quản, trong kho bảo quản hay tại nhà sẽ sản sinh quá trình tạo sắc tố xanh trên bề mặt củ. Quá trình này được gọi là táo lục và biểu thị sự hình thành sắc tố chlorophyll. Sắc tố này hoàn toàn vô hại và được tìm thấy ở tất cả các loại cây xanh, rau rậm lá, rau cải bắp....

Khoai tây mọc mầm
Khoai tây mọc mầm
Thế nhưng, ở củ khoai tây, điều này giống như một "dấu hiệu nhận biết". Khi khoai tây có màu xanh tức là hàm lượng solanin đạt mức có nguy cơ gây nguy hiểm. Vì vậy, không nên tiêu thụ những phần củ có màu xanh.
Các loại khoai tây thương mại được chiếu để kiểm tra hàm lượng của solanin và thường có mức solanin dưới 0,2mg/g. Tuy nhiên, khi khoai tây tiếp xúc với ánh sáng và bắt đầu có màu xanh có nghĩa là hàm lượng này có thể đã đạt đến mức 1mg/g hay thậm chí hơn. Khi đó, một củ khoai tây chưa gọt có thể chứa một liều lượng đủ gây nguy hiểm.
Khi mức solanin tăng, nó cũng đồng thời tạo vị đắng cho khoai tây sau khi nấu chín. Sự sinh tổng hợp solanin xuất hiện đồng thời nhưng độc lập với sự sinh tổng hợp chlorophyll; quá trình này có thể diễn ra không cần quá trình kia. Khác với chlorophyll, sự hình thành solanin không cần ánh sáng nhưng ánh sáng có thể thúc đẩy nó diễn ra nhanh hơn. Sự hình thành solanine ở khoai tây diễn ra trên bề mặt vỏ, thường không sâu hơn 3mm. Trong khoai tây chế biến như khoai tây sấy khô và khoai tây chiên, phần vỏ có nguy cơ gây nguy hiểm này bị loại bỏ.
Ngộ độc solanin:
Ngộ độc solanin chủ yếu gây rối loạn tiêu hóa và thần kinh.
Triệu chứng bao gồm buồn nôn, tiêu chảy, đau rút ở dạ dày, khô rát cổ họng, đau đầu và chóng mặt. Ảo giác, mất cảm giảc, tình trạng tê liệt, sốt, bệnh vàng da, giãn đồng tử và giảm thân nhiệt cũng được đề cập trong các ca nguy cấp.
Ở hàm lượng lớn, ngộ độc solanin có thể gây tử vong. Có nghiên cứu cho rằng liều lượng từ 2- 5mg/kg thể trọng có thể gây triệu chứng ngộ độc và liều lượng từ 3-6mg/kg thể trọng có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 8-12 giờ sau khi ăn, nhưng cũng có thể diễn ra trong vòng 30 phút khi ăn thức ăn có hàm lượng solanin cao.
Phần lớn solanin xuất hiện ở vỏ hay ngay dưới lớp vỏ của khoai tây. Khoai tây đã gọt vỏ chứa ít solanin hơn khoai tây chưa gọt vỏ. Khoai tây có màu xanh lục cần phải được gọt vỏ nếu có ý định chế biến. Solanin và chaconin cũng có mặt trong chồi khoai tây.

Khoai tây chiên ngập dầu ở 1700C không có tác dụng làm giảm mức glycoalkaloid cũng như luộc. Sử dụng lò vi sóng cũng chỉ có tác dụng làm giảm chút ít.

Phân biệt khái niệm ma túy, heroin, cần sa và cocain

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Trước khi nói tới điểm khác nhau thì có hai điểm giống nhau ở các loại ma túy này là chúng đều được chiết xuất từ các loại cây tự nhiên và có khả năng gây nghiện cao. Xin giới thiệu với các bạn một số cách phân biệt các loại thuốc gây nghiện, với mục đích chung tay đẩy lùi ma túy và giảm thiểu tác hại do các chất gây nghiện gây ra.
Sau đây là cách phân biệt một số loại ma tuý thường gặp

Thuốc phiện (Anh túc)

Cây thuốc phiện (cây Anh túc) có tên khoa học (Papaver somniferum L.) là loại cây thân cỏ, thân thẳng đứng, cao từ 1 - 1,5m, mọc ở nơi khí hậu mát, thích hợp với đất sét vôi. Cây có từ 8 - 12 nhánh phụ, mỗi nhánh có 1 bông hoa nhiều màu sắc, từ hoa sinh ra quả. Nhựa từ quả gọi là thuốc phiện sống.
Nhựa thuốc phiện thường dùng để hút. Lúc đầu hút vào thấy có sự khoái lạc, tạo cảm giác hưng phấn, làm giảm đau nhức, mệt mỏi. Nhưng càng hút thì càng ngày càng phải tăng liều mới đạt được cảm giác như lần trước. Dần dần người hút bị suy sụp, mất hết nghị lực, ý chí và cả cảm giác không còn. Hơn thế, ở người sử dụng ma tuý hút thuốc phiện còn xuất hiện các biến chứng như: viêm dạ dày, viêm ruột mãn tính, táo bón dai dẳng, phát ban ngoài da, tiểu tiện ra albumin, thường hay bị sưng phổi, mạch đập chậm và không đều. Nguy hiểm hơn là khi không có thuốc, người sử dụng ma tuý phải nạo xái trong ống thuốc ra để hút, hút xái độc hơn vì nó có khoảng 80 - 90% chất morphin.

Morphin

Là chất được dùng làm chất giảm đau và nguyên liệu bán tổng hợp để sản xuất thuốc trị ho, giảm đau, ỉa chảy... trong y học. Morphin có tác dụng chọn lọc và trực tiếp tới tế bào thần kinh trung ương, nhất là vỏ não làm cho thần kinh trung ương bị ức chế (như trung tâm đau, trung tâm hô hấp, trung tâm gây ho) và mốt số trung tâm bị kích thích gây nôn, co đồng tử, chậm nhịp tim...
Với liều điều trị Morphin làm tăng trí tưởng tượng, mất buồn rầu, mất sợ hãi, tạo trạng thái lạc quan, nhìn màu sắc thấy đẹp, nghe tiếng động thấy dễ chịu, mất cảm giác đói. Liều cao Morphin làm hạ huyết áp, làm giảm dịch tiết, lại ra mồ hôi nhiều.
Phụ nữ có thai dùng Morphin rất nguy hiểm, gây tác hại lâu dài đến sự trưởng thành của trẻ như đẻ non, suy dinh dưỡng, rối loạn hành vi, nôn, mất ngủ, đi lỏng... Morphin rất nguy hiểm với trẻ em dưới 5 tuổi. Nó có thể dẫn đến trẻ bị gù, vẹo, thương tổn đầu sọ, hen phế quản, bệnh và thận mãn tính...
Người sử dụng Morphin có mắt bị phù, móng tay và môi thâm tím; bị rối loạn tâm lý, nói không thật, lười biếng, ít chú ý đến vệ sinh thân thể, thường hay ngáp vặt, co đồng tử, thiếu máu, chán ăn nên sút cân, mất ngủ, già trước tuổi, nôn, vã mồ hôi, chảy nước mắt, đau thắt ngực, trầm cảm, thầm kinh bị kích thích. Sau khi tiêm vào cơ thể khoảng 24 giờ thì 85 - 90% lượng Morphin được thải ra từ cơ thể theo nước tiểu.

Heroin

Thường được chế biến thành 02 loại: Loại bột trắng hồng, xốp như bông gọi là "Heroin4" (còn gọi là bạch phiến) dùng để chích vào tĩnh mạch. Loại bột màu nâu hồng gọi là "Heroin 3" dùng để hút, hít.

Công thức hóa học Heroin
Công thức hóa học Heroin
Heroin được bán tổng hợp từ morphine chiết xuất từ cây thuốc phiện bằng cách chế thuốc phiện với các hóa chất để tạo ra morphin và sau đó kết tủa ra Heroin dạng thô. Hiện tại trên thế giới có hơn 100 loài cây thuộc họ Papaver nhưng chỉ có 2 loại cây thuốc phiện là có khả năng sản xuất ra morphin. Người ta lấy nhựa loãng từ quả thuốc phiện rồi sấy khô để tạo ra nhựa thuốc phiện thô, sau đó mới dùng nhựa này chế tạo tiếp. Ngay từ thời xưa, các vua quan Việt Nam đã biết tác hại của thuốc phiện và ra lệnh cấm từ thế kỷ XVII (năm Cảnh Trị 3 – 1665). Càng về sau, việc chống thuốc phiện càng hà khắc hơn, sát sao hơn, đặc biệt là dưới thời nhà Nguyễn (nhất là ở thời vua Minh Mạng và Tự Đức).
Dùng Heroin lần đầu sẽ có cảm giác mơ màng, khoan khoái, quên mọi khổ đau, sầu não, bi thương... Nhưng khi cơn nghiện đến mà không có Heroin người sẽ bị đau co thắt. Nếu dùng quá liều Heroin thì người sẽ bị tê liệt thần kinh, hôn mê và có thể chết sau vài phút. Nghiện Heroin làm cho con người thay đổi về tính cách, trở nên cô độc, thù ghét đồng loại, mất khả năng sinh dục; dễ gây ra các hành vi vi phạm pháp luật.

Cocain

Cocain là một chất tự nhiên được chiết xuất từ lá cây coca ở Nam Mỹ. Từ xa xưa, thổ dân các nước này đã dùng lá coca để làm thức ăn và được xem như một loại thực phẩm cứu đói và chữa bệnh mệt mỏi. Cho tới thế kỷ XIX, Cocain mới được chiết xuất dưới dạng tinh khiết dùng để làm thuốc tê trong các ca mổ. Ban đầu nhà phân tâm học nổi tiếng Sigmund Freud đã coi Cocain như một loại thuốc đặc biệt để sử dụng phối hợp với các loại thuốc khác nhằm điều trị các bệnh thần kinh nhưng sau này ông đã từ bỏ ý kiến nói trên vì biết tới khả năng gây nghiện tiềm tàng của Cocain.Cocain là một chất tự nhiên được chiết xuất từ lá cây coca ở Nam Mỹ. Từ xa xưa, thổ dân các nước này đã dùng lá coca để làm thức ăn và được xem như một loại thực phẩm cứu đói và chữa bệnh mệt mỏi. Cho tới thế kỷ XIX, Cocain mới được chiết xuất dưới dạng tinh khiết dùng để làm thuốc tê trong các ca mổ. Ban đầu nhà phân tâm học nổi tiếng Sigmund Freud đã coi Cocain như một loại thuốc đặc biệt để sử dụng phối hợp với các loại thuốc khác nhằm điều trị các bệnh thần kinh nhưng sau này ông đã từ bỏ ý kiến nói trên vì biết tới khả năng gây nghiện tiềm tàng của Cocain.

Cần sa

Cần sa là loại thực vật có tên khoa học là Cannabis sativaL. Còn gọi là cây Gai dầu, cây Gai mèo, cây Đai ma, Bồ đà. Cây cần sa được trồng ở các vùng có nhiệt dộ cao như các vùng nhiệt đới gió mùa Nam Mỹ, châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á. Từ cây cần sa người ta có thể chế tạo ra cần sa thảo mộc, cần sa nhựa và cần sa tinh dầu. Cần sa trong lịch sử đã từng được sử dụng để chữa các bệnh quáng gà, thiên đầu thống. Cho tới năm 1830 người ta mới phát hiện được các tính chất gây nghiện của cần sa. Ở các nước Đông Nam Á, việc trồng, vận chuyển và tàng trữ cần sa đứng thứ 2 sau thuốc phiện. Trong y hoc, Cần sa còn có tác dụng chữa bệnh mất ngủ. Người ta sau khi hút cần sa thường có những thay đổi tâm lý đột ngột như: cười to lên hoặc khóc than vãn, hoặc có nhiều hành vi vô nghĩa khác. Cần sa còn làm cho con người ta có những ảo giác khác thường và cả những cơn ác mộng. Sau những ảo giác, ác mộng đó là sự mệt mỏi, buồn ngủ nhưng giấc ngủ chập chờn và cũng đầy ác mộng. Do vậy nếu sử dụng lâu, người sẽ trở nên gầy gò ốm yếu, ủ dột, có thể loạn thần kinh...

Ma tuý tổng hợp

Là chất ma tuý được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hoá học toàn phần từ các hoá chất (được gọi là tiền chất). Điển hình là amphetamin. Nhìn chung, các chất ma tuý tổng hợp có tác dụng kích thích mạnh và nhanh hơn các chất ma tuý tự nhiên và bán tổng hợp. Chúng có tác dụng kích thích nhất thời hệ thống thần kinh trung ương gây hưng phấn và ảo giác hoang tưởng. Do vậy chúng còn gọi là "các chất loạn thần", "ma tuý điên", " ma tuý bạo lực". Hiện nay các chất ma tuý này được coi là những chất ma tuý nguy hiểm nhất.
Những năm gần đây nước ta đã xuât hiện các chất ma tuý tổng hợp rất nguy hiểm, đặc biệt là các chất ma tuý kích thích dạng amphetamin (viết tắt là ATS-amphetamine-type- stimulans) có xu hướng gia tăng rất mạnh. Các chất ma tuý thuộc nhóm ATS như amphetamine, methamphetamine, MDMA (3, 4 methylenedioxymethaphetamin, còn gọi là Ecstasy) đều có thể được hấp thụ qua đường tiêu hoá, sau 24 giờ thì khoảng 70 - 90% được bài tiết qua nước tiểu và được bài tiết gần hết sau 2 - 3 ngày.
Nếu dùng ATS thời gian dài sẽ gây nghiện. Người sử dụng ATS thường thiếu ngủ, chán ăn, đánh trống ngực, chóng mặt và các dấu hiệu cường giao cảm như: tăng huyết áp, tăng thân nhiệt và rối loạn tâm thần, rối loạn nội tiết, rối loạn tâm sinh lý và nhiều chức năng khác của cơ thể. Dùng ATS liều cao có thể sử dụng bằng nhiều hình thức như tiêm chích, hút, hít... Nhưng hiện nay, hình thức sử dụng ATS phổ biến nhất là dạng thuốc viên (như viên nhộng, viên nén) có kích thước, màu sắc, kí hiệu khác nhau.
Như vậy, các loại ma túy gây hại này được xuất phát từ các loại thực vật tự nhiên khác nhau và cần quá trình chế biến khác nhau. Ngày nay, tác hại của việc sử dụng ma túy đã được nêu rõ, Nhà nước cũng đã và đang sử dụng mọi biện pháp khác nhau để ngăn trừ ma túy và đưa những người nghiện ma túy trở lại với cộng đồng.

Cà dái dê giúp tránh cao huyết áp, giảm cholesterol trong máu

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

Không chỉ được sử dụng như một món ăn thông thường, cà tím còn là một loại rau quả chứa nhiều chất dinh dưỡng và có tác dụng giảm bớt lượng cholesterol trong máu.
Cà tím, hay còn được dân gian gọi nôm na “cà dái dê”, có tên khoa học là Solanum melongena L.; họ Cà-Solanaceae. Mặc dù tên gọi phổ biến là “cà tím” nhưng loài cây thuộc họ cà này có đến 3 loại khác nhau, cho ra quả với những màu sắc khác nhau là tím, xanh và trắng. Tuy vậy, tất cả chúng đều có công dụng như nhau.

Cà dái dê tím
Cà dái dê tím
Cà tím là loại rau quả rất giàu dinh dưỡng, chứa nhiều vitamins A, B1, B2, C và các protein. Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, cà tím là loại rau củ có lượng vitamin P kỷ lục. Mỗi kg cà tím chứa tới 7.200mg vitamin P-mức được đánh giá là rất cao theo bảng phân loại thực phẩm có lợi cho sức khỏe hiện nay.
Vitamin P là loại vitamin chủ yếu trong việc làm tăng cường sự kết dính giữa các tế bào, giảm bớt lượng cholesterol và duy trì sự dẻo dai của các mạch máu. Vì vậy, đối với người cao tuổi, ăn cà tím có thể giúp phòng ngừa được bệnh cao huyết áp và xơ cứng động mạch.

Cà dái dê tím
Cà dái dê xanh
Theo các nhà khoa học Mỹ, ăn cà tím là một trong những biện pháp hàng đầu để giảm cholesterol trong máu.
Trong thực tế, cà tím không chỉ giúp giảm cholesterol và hạ huyết áp mà còn chứa nhiều chất chống ung thư. Khoa học hiện đại khám phá ra rằng, trong cà tím có “solanin” – chất có thể ngăn chặn việc phát triển của khối u trong hệ tiêu hóa. Lời khuyên của giới chuyên gia dành cho các bệnh nhân ung thư là hãy biến cà tím thành món ăn thường xuyên.
Ngoài các công dụng trên, cà tím cũng có thể giúp chúng ta kiểm soát bệnh ho khạc ra máu, hạn chế đốm lão hóa trên da và có tác dụng nhất định đối với những bệnh nhân mắc gout.

Cà dái dê trắng
Cà dái dê trắng
Dù không có chất béo và cholesterol nhưng theo các nhà khoa học Australia, cà tím có đặc tính thấm dầu nhanh hơn bất kỳ một loại rau quả nào (chúng có thể thẩm thấu 83g chất béo trong 70 giây, cao gấp 4 lần khoai tây chiên). Vì vậy, nếu ăn nhiều cà tím xào sẽ làm tăng lượng chất béo nạp vào cơ thể.
Tốt nhất bạn nên ăn cà ninh, hoặc hầm nhừ. Cách này sẽ không làm mất đi những thành phần dinh dưỡng vốn có trong cà tím mà vẫn giúp bạn có một món ăn ngon, bổ dưỡng. Việc ngâm qua nước pha muối và sau đó rửa lại các miếng cà tím đã thái sẽ làm nó mềm hơn và loại bỏ gần hết vị đắng của cà, làm cho món ăn ngon hơn.

Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

 Thông tin về loại cây cỏ ngọt (stevia) có có độ ngọt gấp 300 lần mía đường gần đây được rất nhiều người quan tâm và săn tìm.

Cây cỏ ngọt
 Cây cỏ ngọt

GS-Viện sĩ Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Cây trồng VN, cho biết cây cỏ ngọt được ông đưa về VN trồng từ năm 1988 chủ yếu dùng trong dược phẩm. Do thiếu đầu ra, người trồng không mặn mà, có thời gian cỏ ngọt gần như bị lãng quên. Năm 2009, Mỹ và cộng đồng châu Âu chính thức khuyến khích sử dụng rộng rãi và thu mua cỏ ngọt thay thế đường. Cây cỏ ngọt dần dần được hồi sinh và trở thành mặt hàng “nóng” mang lại giá trị xuất khẩu cao. Tuy nhiên, công dụng mà cây cỏ ngọt mang lại không phải ai cũng biết. Theo ông, cỏ ngọt thuộc họ cúc, có nguồn gốc từ Nam Mỹ, độ ngọt tự nhiên 100%, gấp 300 lần so với đường mía. Có thể coi đây là một loại đường không năng lượng, không chứa calo, dễ bảo quản do tính kháng khuẩn.

 

Trong công nghiệp thực phẩm, cỏ ngọt là chất phụ gia điều vị để sản xuất bánh mứt kẹo, rượu màu và nước giải khát cho người ăn kiêng. Hiện nhiều quốc gia trên thế giới đang đề nghị thay thế 30% đường mía bằng loại đường từ cỏ ngọt. Tại VN, Hiệp hội Giống cây trồng VN đã đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề án phát triển cỏ ngọt theo hướng công nghệ cao. Theo đó, cây cỏ ngọt được đưa vào trồng tại các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Hà Nội, Hòa Bình, Hưng Yên, Thái Bình, Nghệ An, Lâm Đồng...

Cuộc sống hiện đại, ai cũng lo sợ mắc các căn bệnh “thời đại”. Vì vậy, khi hay tin cỏ ngọt được mệnh danh là chất ngọt “hoàng gia” tốt cho sức khỏe, trên các diễn đàn trên internet những ngày qua, nhiều người phát “sốt” vì tìm giống cây cỏ ngọt. Anh Bùi Thanh Việt (Vũng Tàu) cho hay, anh đã nhờ một người bạn lùng mua được 5 cây từ Hà Nội, gửi qua đường hàng không về trồng. Chị Đinh Thu Hiền (Cầu Giấy, Hà Nội) chia sẻ: “Từ một năm nay, nhà mình uống nước cỏ ngọt thay nước đun sôi để nguội. Mỗi ngày, chỉ cần ngắt 3 lá cho vào ấm nước đun lên, uống ngọt hương vị rất dễ chịu”. 
 
Thông tin cỏ ngọt chữa được nhiều bệnh khiến cho những người nông dân trồng cỏ cũng được “thơm lây”. Ông Đỗ Quang Hòa, thôn Đại Cát, xã Liên Mạc, Từ Liêm cho biết, gia đình ông bắt đầu trồng cỏ ngọt từ năm 1988, nhưng mãi đến gần đây cây cỏ ngọt mới được để ý. “Từ cuối năm 2011, rất nhiều người ở nội thành về Liên Mạc tìm mua cây cỏ ngọt về trồng trong nhà. Tính ra giá bán giống hơn nhiều so với bán lá thành phẩm. Cũng giống như các loại cỏ khác, cỏ ngọt rất dễ sống”. 

Theo kinh nghiệm của những người trồng cỏ, cây này có khả năng đẻ nhánh rất tốt. Nhánh già nhân giống, cắt râm cành xuống đất ẩm, phun sương, một tuần cây bén rễ. Mỗi năm có thể thu hoạch 3-4 lần. Tuy nhiên, phương pháp này thích hợp với những người trồng quy mô lớn, biết cách chăm sóc cây trồng. Còn với những hộ gia đình có quy mô nhỏ, trồng cỏ để sử dụng hằng ngày nên lựa chọn cây khỏe, có chất lượng. Hiện trên thị trường có một số công ty bán cây giống trồng với quy mô lớn với giá 350 đồng/cây, mầm giống 125 đồng/cây. Với những người không có điều kiện chăm sóc, có thể tìm mua lá khô tại các tiệm thuốc bắc trên phố Lãn Ông (Hà Nội) với giá 80.000 -100.000 đồng/kg hoặc mua trà túi lọc giá 35.000 đồng/hộp. 

Dược liệu Việt Nam cần cú hích để phát triển

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Nước ta có tài nguyên cây thuốc rất phong phú, nhưng việc khai thác bừa bãi, không bảo tồn hợp lý đã và đang làm cho nguồn tài nguyên quý giá này ngày một cạn kiệt, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Nam  dược trị Nam nhân

Sinh thời, Đại danh y Tuệ Tĩnh đã nêu quan điểm tự chủ trong chữa bệnh của mình: Nam dược trị Nam nhân. Để có quan điểm tự chủ và đầy tự hào đó, hẳn ông “thánh thuốc Nam” Tuệ Tĩnh từ hơn 6 thế kỷ trước đã biết kho tàng dược liệu của nước ta vô cùng phong phú và đáng tự hào.
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng với khoảng 10.350 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo. Kết quả điều tra, cả nước ghi nhận được 3.948 loài thực vật và nấm lớn có thể sử dụng làm thuốc, trong đó có hàng chục loại có giá trị chữa bệnh cao.

Tổng sản lượng dược liệu ở Việt Nam hằng năm ước tính khoảng từ 3 - 5 nghìn tấn. Một số dược liệu quý đã được thế giới công nhận và có tiềm năng phát triển rất lớn như: hồi, trinh nữ hoàng cung, quế, atisô, sâm Ngọc Linh, tràm, thanh hao hoa vàng, hoa hòe...

Tuy nhiên, trong một thời gian dài, do thiếu sự khảo sát đánh giá, điều tra và bảo vệ nên vùng phân bố tự nhiên của nhiều loại cây thuốc bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác một cách cạn kiệt. Nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú nay đã hoàn toàn bị phá bỏ như khu vực núi Hàm Rồng (Sa Pa, Lào Cai); cao nguyên An Khê (thuộc hai tỉnh Gia Lai và Bình Ðịnh)..., thậm chí nhiều loại có nguy cơ tuyệt chủng.

Hiện nay có 144 loài cây thuốc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn: sâm Ngọc Linh (một trong bốn loại sâm giá trị nhất thế giới), sâm Vũ Diệp, tam thất hoang, đảng sâm, ba kích, thanh mộc hương, bách hợp.


 Chăm sóc cây tràm Úc - một dược liệu quý trong khu bảo tồn dược liệu 25ha của Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười. Ảnh: Dương Thế Hùng

Vì sao dược liệu Việt Nam chưa phát triển?

PGS.TS. Lê Minh Sắt - Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ ra rằng, với nguồn dược liệu vô cùng phong phú như đã kể trên nhưng ngành dược liệu của nước ta chưa phát triển vì chúng ta chưa có ngành công nghiệp về dược liệu mạnh để có thể sơ chế, chế biến, bảo quản tốt. Chính vì vậy, khi nhu cầu tiêu thụ giảm, nông dân và
doanh nghiệp kinh doanh dược liệu đều gặp khó khăn như đã từng chứng kiến với cây thanh hao, cây bạch chỉ, ngưu tất, cây quế ở Quảng Nam, cây nghệ ở Tây Nguyên, cây lô hội và bụp dấm ở Bình Thuận.

Bên cạnh đó là dược liệu chất lượng kém từ biên giới, nhập khẩu không kiểm soát đã khiến doanh nghiệp kinh doanh dược liệu trong nước khốn khó. Dược liệu chất lượng kém, dược liệu "rác" từ biên giới nhập khẩu với giá rẻ nên dược liệu trong nước có giá cao không cạnh tranh được...

Hơn nữa, nhiều địa phương có đầy đủ các điều kiện để trồng trọt dược liệu có giá trị cao, nhưng do cách làm manh mún, tự phát, thiếu liên kết và thị trường dược liệu không ổn định nên việc phát triển các vùng dược liệu hiện nay gặp nhiều khó khăn.

Làm thế nào để phát triển bền vữngdược liệu?

Để vực dậy ngành dược liệu, Chính phủ, Bộ Y tế đã có nhiều chính sách, giải pháp để hỗ trợ ngành dược liệu trong nước. Bản thân các doanh nghiệp dược liệu đã và đang thực hiện quản lý chất lượng sản xuất dược liệu theo tiêu chuẩn thực hành nuôi trồng, thu hái và sản xuất tốt.

Hiện cả nước có hơn 300 cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu trong nước, trong đó có 10 cơ sở sản xuất đông dược đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (GMP - WHO). Hơn 1.000 số đăng ký thuốc từ dược liệu còn hiệu lực. Bên cạnh thuốc cao đơn, hoàn, tán cổ truyền, thuốc đông dược sản xuất trong nước hiện khá phổ biến dưới các dạng bào chế như viên nang cứng, nang mềm, cao dán thấm qua da.

Trong nước cũng đã có một số cơ sở trồng trọt dược liệu đạt tiêu chuẩn VietGAP, nhiều đơn vị đang triển khai áp dụng nguyên tắc "thực hành tốt trồng trọt, thu hái cây thuốc". Bên cạnh đó, cũng có những cơ sở chế biến thực hiện việc thu mua dược liệu, lo đầu ra cho các hộ trồng trọt, kết hợp các hoạt động tập huấn quy trình kỹ thuật, cung cấp giống cây trồng, phân bón cho nhà nông, hình thành các vùng dược liệu trọng điểm...Giải pháp gắn kết chặt chẽ giữa 3 nhà: nhà nông – nhà doanh nghiệp – nhà khoa học là giải pháp cần thiết để lấy lại niềm tự hào cho thuốc Nam đất Việt.      

GS-NGND Vũ Văn Chuyên - Cuốn từ điển sống về thực vật chữa bệnh

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Những người thành danh cùng thế hệ đã lần lượt ra đi, nay chỉ còn lại vài người, trong đó có ông - GS, Nhà giáo nhân dân Vũ Văn Chuyên. Nhiều bài báo đã từng viết về ông, ca tụng ông với một tấm lòng kính trọng, tình cảm trìu mến. Với bất cứ ai, dù chỉ tiếp xúc với ông một lần cũng đều rất ấn tượng, lưu lại những tình cảm tốt đẹp về ông. Đặc biệt, những cống hiến của ông cho sự nghiệp giáo dục và ngành thực vật học Việt Nam là rất đáng được trân trọng và ghi nhận.


      Chúng tôi đến thăm ông vào một buổi tối cuối tháng 10.2008. Dù đã có sự chuẩn bị trước, song lúc đến, chúng tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên khi thấy ngay lập tức xuất hiện một ông già nhưng còn rất nhanh nhẹn đi từ phía trong ra. So với tuổi 86, ông quả là một người có sức khoẻ tốt, và trí óc thì rất minh mẫn, thông tuệ. Suốt hơn 2 tiếng đồng hồ, ông ngồi kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời dạy học cùng sự nghiệp nghiên cứu, phát hiện các loại cây thuốc của mình, điểm lại không sót một cây thuốc nào mà ông đã đặt tên, những cuốn sách ông đã từng viết (ông là một trong số ít những nhà khoa học của Việt Nam có thể sử dụng thành thạo 6 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Bồ Đào Nha, Đức, Latinh). 

       Ông cũng cho chúng tôi xem những tấm hình kỷ niệm ghi lại những thời khắc quá khứ không thể nào quên. Tuy đôi tai không còn nghe rõ nữa, nhưng giọng nói đầy nhiệt huyết và trí nhớ kỳ lạ của ông làm chúng tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

       Những mốc thời gian đáng nhớ
       Ông sinh ngày 9.8.1922, tại quê ngoại ở Nam Định (nguyên quán xã Vân Phương, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên). Từ năm 1945 đến 1946, ông làm thí nghiệm viên, giảng dạy tại Bộ môn Thực vật, Trường Cao đẳng khoa học Hà Nội. Năm 1950, ông tốt nghiệp đại học chuyên ngành Vạn vật học. Sau đó 4 năm lại thi đỗ dược sỹ cao cấp. Trước ngày giải phóng Thủ đô (năm 1954), mặc dù nhận được nhiều lời mời vào Nam làm việc với những điều kiện hấp dẫn, song ông đã nhất quyết ở lại miền Bắc phục vụ cho đất nước. Từ năm 1955, ông là giảng viên Bộ môn Thực vật học của Trường Đại học y dược Hà Nội, đồng thời giảng dạy về thực vật học cho sinh viên, học viên nhiều trường khác như Học viện Quân y, Đại học Nông lâm, Đại học Tổng hợp Hà Nội… Ông đã có gần 20 năm làm chủ nhiệm Bộ môn Thực vật của Trường Đại học dược Hà Nội. Ông được phong học hàm PGS năm 1980 và GS năm 1984. Sau một năm nhận danh hiệu Nhà giáo ưu tú, ông đã được tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân vào năm 1990.

      Với những công lao trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, các Huy chương: Vì sức khoẻ nhân dân, Vì sự nghiệp giáo dục, Vì sự nghiệp KH&CN, Lao động sáng tạo, Vì thế hệ trẻ, Hữu nghị Campuchia... 

      Từ khi nghỉ hưu (năm 1995) đến nay, ông là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển dược liệu, nay là Viện trưởng Viện Nghiên cứu và điều trị các bệnh hiểm nghèo.

         Giờ đây, đối với ông, khi quỹ thời gian không còn nhiều nữa, thì những kỷ niệm quá khứ lại càng trở nên quý giá hơn bao giờ hết. Có lẽ, những kỷ niệm đáng nhớ nhất và quý báu nhất là những lần ông được nhìn thấy và gặp Bác Hồ: Ngày 2/9/1945, ông được phân công tham gia giữ trật tự ở quảng trường Ba Đình, phục vụ cho Lễ Tuyên ngôn Độc lập. Hôm đó, ông mặc áo sơmi trắng, quần tây trắng, đứng ở vệ đường, về phía Chùa Một Cột. Một đoàn xe ô tô có chở Bác Hồ đi lướt qua chỗ ông đứng, về phía quảng trường Ba Đình. Tuy chỉ được nhìn thấy bóng dáng Bác trong giây phút nhưng những kỷ niệm đó không phai mờ trong tâm trí ông. 

            Những kỷ niệm không thể quên
           Hơn một năm sau, ông đã được gặp Bác một cách thật tình cờ. Lúc đó, ông đang dạy học ở Trường Tri Phương, phố Phủ Doãn, thì Bác vi hành đến thăm Trường. Ông đã vinh dự được Bác hỏi chuyện về nghề, về công việc lúc đó. Ông nhớ nhất lời căn dặn của Người: “Vì lợi ích mười năm thì trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì trồng người”. Ông đã hứa với Bác, sẽ trọn đời theo nghề dạy học, và ông đã làm đúng theo lời hứa đó.

      Ông cũng không thể quên được những lần nhận nhiệm vụ, công tác đặc biệt với những người lãnh đạo, đồng chí của mình năm xưa, như các đồng chí: Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Phan Nông, Đặng Vũ Hỷ, Vũ Văn Cẩn, Phạm Biểu Tâm, Đàm Quang Trung…

       Hơn nửa thế kỷ cống hiến cho sự nghiệp trồng người
      Hơn nửa thế kỷ cống hiến cho sự nghiệp trồng người Có những lần đi rừng, thầy trò ông phải cắt cỏ tranh, trải nilông lên mà ngủ… Vượt qua nhiều gian khó, phải lăn lộn với thực tiễn, nhiều học trò của ông đã trưởng thành, trở thành người giữ trọng trách lớn trong xã hội. Dưới sự hướng dẫn của ông, một sinh viên đã phát hiện ra cây Tai nghé ở vùng núi Ba Vì, có thể dùng thay thế vỏ cây canh ki na. Khoá Địa chất đầu tiên (năm 1955) tại Chùa Láng do ông dạy, có một sinh viên sau này đã trở thành Chủ tịch nước, đó chính là đồng chí Trần Đức Lương. Với khối lượng kiến thức rộng lớn, sự am hiểu sâu sắc trong lĩnh vực thực vật học, dược học, với nhiệt tình trong sáng, phương pháp giảng dạy khoa học, sinh động, phong cách giản dị mà hóm hỉnh, 50 năm trong sự nghiệp trồng người, ông đã đào tạo ra bao lớp học trò ưu tú, hướng dẫn cho nhiều nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án TS. Nay đã ở tuổi bát thập, nhưng ông vẫn thường xuyên đọc và cho ý kiến nhận xét nhiều luận án TS về thực vật học.

       Những công trình nghiên cứu
      Nhiều công trình nghiên cứu khoa học của ông đã được đồng nghiệp, bạn bè trong nước và quốc tế biết đến. Gần 50 đầu sách về cây thuốc Việt Nam do ông viết hoặc tham gia biên soạn đã được xuất bản. Đó là những cuốn sách, giáo trình tổng kết những công trình điều tra, nghiên cứu cơ bản và kinh nghiệm giảng dạy của ông qua nửa thế kỷ giảng dạy. 

     Tên tuổi của GS Vũ Văn Chuyên và các công trình khoa học của ông đã được ghi nhận trong bộ Niên giám quốc tế về cỏ, cây, gia vị và cây thuốc do Trường Đại học tổng hợp Massachusetts xuất bản tại Mỹ năm 1994. Rất nhiều nhà khoa học ở Pháp, Canada, Thụy Điển, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á có quan hệ mật thiết với ông trong công việc nghiên cứu, sưu tầm và phát hiện các cây thuốc.

      Trong một lần đưa sinh viên đi thực tập nhận thức cây thuốc ở SaPa, ông và cộng sự đã thu thập vỏ cây xoan nhừ, xoan trà và phát hiện ra công dụng chữa bỏng tuyệt vời của nó. Sau này, vỏ cây này đã được dùng làm nguyên liệu chế thuốc bỏng B76 dùng trong chiến tranh chống Mỹ. Đặc biệt, ông đã góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thành công thuốc cai nghiện ma tuý Cedemex, mang lại con đường sống cho nhiều bệnh nhân nghiện ma tuý. Sản phẩm Cedemex hiện đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành, ứng dụng trong cộng đồng và mang lại những hiệu quả kinh tế và ý nghĩa xã hội, nhân văn to lớn. Bên cạnh đó, ông cùng với các đồng nghiệp và cộng sự còn nghiên cứu, tiến tới sản xuất các thuốc điều trị HIV/AIDS, khối u tiền liệt tuyến, chống lão hoá và tăng cường hoạt động của hoócmôn… dựa trên cơ chế sinh bệnh học và tính năng dược lý của một số loại thảo dược ở Việt Nam.

      Những cuốn sách tiêu biểu của ông có thể kể đến là: Phân tích hoa (tiếng Pháp, 1951); Giáo trình Latinh, NXB Y học (tái bản 3 lần); Giáo trình Thực vật học, NXB Y học (tái bản 3 lần); Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc, NXB Y học (tái bản 2 lần)...
      Ngoài khoảng 50 cuốn sách mà ông đã viết hoặc tham gia, ông còn viết khoảng 500 bài báo khoa học, đáng chú ý nhất là những bài viết về vỏ thân cây xoài (chữa đau răng), lá na (chữa sốt rét), cây mắm (chữa bệnh phong), cải bắp (chữa đau dạ dày), sử dụng tinh dầu tràm trong phẫu thuật…

      Cuốn từ điển sống về thực vật học và tiếng Latinh
      Ngay từ năm 1962, ông đã cùng với TS Bùi Xuân Đồng (Trường Đại học dược Hà Nội) xây dựng được danh mục đầu tiên về cây vùng Hà Nội. Ông đã phát hiện, định danh tên khoa học cũng như nghiên cứu tính năng dược lý của nhiều loại thực vật làm thuốc, như: Cây Pyrrhosia lingua; cây cỏ hạt trần và hạt kín ở nội, ngoại thành Hà Nội; cây thiên thảo, sài đất hai hoa, trinh nữ hoàng cung, vàng đắng, tông dù, hoàn ngọc; họ xương rồng ở Việt Nam; họ cúc; hạt đậu nọc chữa rắn cắn; đính chính tên khoa học của cây thổ hoàng liên (trước đây gọi nhầm là Thalictrum ichangense)… Năm 1975, ông cùng với GS Võ Văn Chi (nhà thực vật học) nghiên cứu và đưa ra Danh mục thực vật Bách thảo Hà Nội, công viên Lênin, cây cảnh Ngọc Hà.

       Với những tri thức, kinh nghiệm của hàng chục năm lăn lộn với thực địa, ông đã viết cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc”, trong đó ngoài việc tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc, còn có danh sách các cây thông thường thuộc các họ đó, giúp cho sinh viên dễ học và dễ phân loại thực vật, cán bộ nghiên cứu tiện tra cứu.

      Ông cũng là cộng tác viên thường xuyên của nhiều tờ báo, sẵn sàng trả lời cặn kẽ những câu hỏi của bạn đọc về các vấn đề liên quan đến thực vật học và thuốc chữa bệnh. Để ca ngợi tác dụng diệu kỳ của các vị thuốc dân tộc, ông thường nói vui: “Ta về ta uống thuốc ta - Dù hăng, dù đắng, thuốc nhà vẫn tiên”.
      Là một người rất giỏi về tiếng Latinh, ông đã viết cuốn “Giáo trình tiếng Latinh” gồm 13 bài giảng về tiếng Latinh, chủ yếu dành cho sinh viên Trường Đại học dược và các cán bộ nghiên cứu về thực vật. Trong mỗi bài giảng, bên cạnh phần ngữ pháp còn có những ví dụ được lấy từ thực tế công tác y tế, nhằm cung cấp những từ Latinh cơ bản thường gặp trong các tài liệu y dược học. 

       Vẫn còn những dự định cho thế hệ sau
      Giờ đây, đã sắp bước sang tuổi 87, song đã thành thói quen từ hồi trẻ, ông luôn tỉnh dậy lúc nửa đêm để làm việc: Biên dịch, tra cứu và ghi chép những tên thuốc, số liệu mà ông vừa tìm ra hoặc muốn chép lại cho các thế hệ sau. Nhiều người còn đến nhờ ông xác định tên khoa học của một số loài thực vật hiếm, hay tra cứu tên thuốc, đọc tên Latinh của một loại thuốc nào đó. Thậm chí, nhiều người được nhận bằng sáng chế hoặc thư mời quốc tế bằng tiếng Latinh cũng phải đến nhờ ông dịch… Ông chẳng bao giờ nề hà, mà luôn sẵn lòng giúp đỡ, có khi quên ăn, quên ngủ vì say mê nghiên cứu, tìm tòi đến khi làm xong việc mới thôi.

      Có lẽ, hiện nay, GS Vũ Văn Chuyên là người có vốn hiểu biết sâu rộng nhất về thực vật làm thuốc và giỏi nhất về tiếng Latinh ở nước ta. Ông tâm sự: Chừng nào tôi còn sống, tôi sẽ cố gắng biên soạn và viết lại cuốn giáo trình Latinh cho các sinh viên ngành dược và những người nghiên cứu về thực vật học tham khảo. 

      Ông cũng đang chỉnh sửa, biên tập lại cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” của mình để chuẩn bị cho lần tái bản thứ 3 sắp tới.

      Chúng tôi xin chúc ông có được sức khoẻ và sự minh mẫn để thực hiện được các dự định của mình, để lại cho đời những công trình khoa học có giá trị thực tiễn cao. Với phong cách sống trong sáng, giản dị, vì mọi người, vì sự nghiệp giáo dục và khoa học, GS Vũ Văn Chuyên đã luôn làm tròn lời hứa với Bác Hồ, cống hiến tất cả cho sự nghiệp trồng người, xứng đáng là một tấm gương lớn cho các thế hệ học trò noi theo.

Dược sĩ Bùi Xuân Chương và 50 năm vẽ cỏ cây

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

Dược sĩ Bùi Xuân Chương và 50 năm vẽ cỏ cây

Dược sĩ, họa sĩ Bùi Xuân Chương bên bể thủy sinh. (Nguồn: TT&VH)
Thừa hưởng gen họa sĩ của dòng họ Bùi (Vân Canh, Hoài Đức, là em họ của Bùi Xuân Phái), Bùi Xuân Chương - say mê vẽ từ thủa nhỏ.

Hơn 50 năm qua, dược sĩ Bùi Xuân Chương là người đầu tiên đi khắp mọi miền đất nước tìm và vẽ lên nhiều bức tranh độc đáo về cây thuốc, động vật làm thuốc ở Việt Nam.

Cùng với niềm đam mê vẽ cây, ông còn là Chủ tịch danh dự của Hội thủy sinh cảnh Hà Nội và được coi là người đi tiên phong trong phong trào chơi bể và cây thuỷ sinh (từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay).

Đi khắp Việt Nam tìm vẽ cây

Mặc dù đã gần 80 tuổi, nhưng dược sĩ Bùi Xuân Chương vẫn còn minh mẫn, vẫn đọc báo tiếng Anh, tiếng Pháp... trên mạng internet, vẫn vào google để tìm kiếm tên khoa học cho những loài cây mới mà Hội thủy sinh cảnh vừa tìm kiếm mang về.

Cách đây ba năm, tôi và ông từng có một cuộc trò chuyện về bản quyền 1000 bức tranh cây thuốc của ông.

1000 bức tranh này cùng với 60 bức tranh về động vật làm thuốc từng được đưa vào Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam I, II.

Ông kể: ''"Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam III" sắp ra mắt, sẽ tập hợp những bài viết của các chuyên gia và gần 300 tranh mới về cây thuốc, 20 tranh về động vật làm thuốc của tôi".

Ông kể thêm: "Tập sách này đã được chuẩn bị năm năm rồi và sẽ ra mắt trước kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Viện Dược liệu cũng đang mời tôi vẽ lại bản đồ dược liệu, vì bản đồ cũ mất rồi, nhưng tôi từ chối, giờ tôi không vẽ nữa, mắt tôi còn tinh, nhưng tay tôi run rồi."

Sống trong một căn nhà nhỏ giữa khu phố sầm uất Phùng Hưng, 50 năm qua, ngày ngày ông tỉ mẩn vẽ về cỏ cây, hoa lá. Vẽ cây bao nhiêu, ông yêu cây bấy nhiêu.

Ông đã đi đến hầu khắp mọi miền đất nước (trừ Cà Mau là chưa đến) để vẽ tranh về cây thuốc, đồng thời tìm những cây lạ mắt, độc đáo để đưa vào bể thủy sinh.

Đam mê vẽ tranh từ nhỏ và từng được điểm cao (khi học Trung học ở trường Bưởi) vì vẽ nhiều tranh biếm họa hay, nhưng mẹ ông lại buồn phiền khi thấy con mình suốt ngày theo nghiệp vẽ vời.

Chiều lòng mẹ, ông thi vào Đại học Dược, chuyên ngành thực vật và dược liệu. Tại trường, các giáo sư Vũ Văn Chuyên, Đỗ Tất Lợi đã thường xuyên khuyến khích ông vẽ các cây thuốc và dược liệu. Sau này qua sách của các thầy, ông đã thấy tranh vẽ của ông - dù là phác thảo vẫn được các thầy sử dụng.

Để nâng cao nghiệp vẽ, ông cũng từng dành ba tháng hè đi học những khái niệm cơ bản về hội họa do thầy Lương Xuân Nhị dạy. Tốt nghiệp đại học năm 1960, ông chuyển về Viện Dược liệu, công tác tại phòng điều tra sưu tầm. Được mọi người khuyến khích và tạo điều kiện, ông mải mê vẽ.

Dần dần quen tay, các bản phác thảo ngày càng dày lên, đẹp ra. Nhưng để hoàn chỉnh một bức họa về cây thuốc có khi mất ba, bốn ngày và tốn khá nhiều giấy nháp. Bởi ông phải mô tả đúng hình dạng thân cây, những nét riêng của lá, của hoa.

Nhiều loại cây có những bộ phận thân, cành, na ná giống nhau, phải vẽ sao cho chính xác đến từng chi tiết nhỏ. Có cây hoa nhỏ li ti, mắt thường không nhìn thấy gì, phải lấy kính lúp ra soi mới vẽ được.

Có cây thuốc phải một năm mới vẽ xong vì phải đợi cây ra quả, hoặc củ để minh họa tổng thế. Với ông, khó khăn nhất là vẽ quả, vì phải mổ xẻ ra vẽ các chi tiết bên trong quả dưới kính hiển vi, đòi hỏi nhiều thời gian.

Năm 1971, cùng với dược sĩ Đỗ Huy Bích ông đã ra cuốn Sổ tay cây thuốc (Nhà xuất bản Y học, đã tái bbarn ba lần). Tiếp đó, năm 1990 là cuốn "Cây thuốc Việt Nam-Medicinal Plants in Vietnam" (Việt-Anh)... đều sử dụng tranh minh họa do ông thực hiện.

Rồi nữa là tham gia vẽ tranh cho cuốn "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam I và II" với gần 1.000 cây thuốc và 60 động vật làm thuốc, trong đó có nhiều cây dược liệu mới.

Để hoàn thành 1.000 bức tranh mầu đó, ông đã phải dùng đến năm chiếc bút kim (vẽ những nét nhỏ nhất), nhờ mua tại Mỹ với giá 35 USD một chiếc.

Lại phiêu du sang Cu Ba, Lào tìm cây thuốc

Năm 1982 và 1983, hai lần ông được mời sang Cu Ba giúp bạn điều tra cây thuốc.

Lần thứ nhất sang, suốt sáu tháng ròng ông đi hầu khắp đất nước Cuba (từ Havana đến Santiago de Cuba) tìm kiếm cây thuốc và vẽ cho các đề tài nghiên cứu. Lần thứ hai sang, ông chỉ ngồi tại chỗ, mẫu vật được cung cấp đầy đủ.

Vẽ được 199 cây thuốc, đến cây thứ 200 thì không kịp vì đã cận ngày về để đi Lào. Một lần, một người bạn Cuba (tên Victor Fuentes) sang Việt Nam cho biết những bức họa của ông đã từng được in thành sách.

Quá trình điều tra ở Lào ông cũng vẽ giúp bạn rất nhiều tranh cây thuốc. Cây thuốc ở Lào cũng như Việt Nam, nhiều cây có mẫu sẵn, nên ông vẽ rất nhanh. Đi nhiều, tìm hiểu nhiều, vẽ nhiều loại cây thuốc, ông có thời gian để so sánh cây thuốc ở Lào, Cuba với Việt Nam.

Có người bạn khuyên ông cứ vẽ rồi công bố dần từng họ cho các cây thuốc, nhưng ông chỉ chuyên chuyện vẽ. Viết về một cây thuốc phải có tranh minh họa, tranh minh họa càng chi tiết càng có tính khoa học.

Vì một cuốn sách thuốc, một cuốn sách dược liệu không có tranh minh họa chỉ là một cuốn sách chết. Mong muốn của ông Chương là qua những bức tranh cây thuốc, bạn đọc và những người trong ngành dược liệu dùng cây thuốc đúng tên, đúng bệnh.

Đặt tên cho các loài thủy sinh mới

Song song với nghiệp vẽ cây cỏ, động vật làm thuốc, Bùi Xuân Chương còn là người đam mê cá cảnh, cây thủy sinh số một của đất Hà Thành.

Không phải ngẫu nhiên anh em trong hội gọi ông là nhà thủy sinh học và bầu ông làm Chủ tịch danh dự của hội. Ông là người đầu tiên đi sưu tầm nhiều loài cây thủy sinh, rong lạ, gây giống, giữ gìn cũng như phát triển.

Tiềm năng các loài cây thủy sinh Việt Nam còn rất nhiều. Thời gian qua, cùng với sự du nhập các loài cây thủy sinh vào Việt Nam (chủ yếu các loài cây có nguồn gốc từ Nam Mỹ, Trung Quốc), Hội Thủy sinh cảnh đã tổ chức nhiều chuyến tìm kiếm ở Hà Tây, Thanh Hóa, Hải Dương, Cao Bằng... và nhiều loài tìm thấy được đánh giá cao.

Hiện nay chưa có ai thống kê cây dưới nước cả, nhưng ông Chương đã tập hợp được gần 200 loài. Tuy nhiên, gần đây, theo ông Chương, phong trào chơi bể thủy sinh phát triển khá mạnh, nên ở đâu phát hiện có cây đẹp, cá lạ... người ta đánh cả xe xuống lấy hết, cây mất đi rất nhanh. Nhiều người chơi không có kỹ thuật, cây mang về chẳng ươm ra được, mà chết hết.

Đến nay, ông Bùi Xuân Chương đã có gần 1500 họa phẩm đen trắng và gần 500 họa phẩm mầu được in trong các tuyển tập sách về cây thuốc Việt Nam như "Sổ tay cây thuốc", "Cây thuốc Việt Nam", "Cây thuốc-bài thuốc biệt dược", "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam I, II, và III" (sắp ra mắt).

Ông còn là đồng tác giả của công trình khoa học Atlat quốc gia Việt Nam - đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ.

Tuổi cao, không còn sức đi tìm cây, vẽ cây, nhưng tuần nào ông Chương cũng đến trại thủy sinh của ông Hòa để xem những loài cây mới tìm về đang được nuôi ươm như thế nào, tìm cách chăm sóc, rồi đặt tên cho từng loài.

Những cây lạ mắt, ông mang về nhà ươm trồng, chăm sóc và tốn không ít công mới mong được thấy chúng nở hoa... Ông Chương cho biết, nhiều khi đến mệt, mất ngủ vì cây.

Nói đến chuyện mất ngủ, ông Chương đưa ngay cho tôi xem hộp thuốc đang để trên bàn. Ông kể: "Hôm rồi mất ngủ, ra hiệu thuốc mua thì lại thấy hai tranh cây thuốc của mình (cây Vông nem và Bình vôi) được in trên vỏ hộp".

Mở mạng, ông cũng thấy hầu hết các trang web về đông y đều lấy tranh ông vẽ để minh họa cho các bài viết mà chẳng đề tên, và cũng chẳng ai nói đến việc trả bản quyền tranh cho ông.

Nhiều hãng dược sao chép các bức tranh của ông minh họa cho vỏ thuốc, ông cũng đã từng lên tiếng, nhưng họ vẫn coi như không biết. Giờ đây, thấy sách của các giáo sư, bác sĩ in ra, lấy tranh của mình, ông cũng chả buồn lên tiếng nữa.

"Tôi có quen một ông ở Cục bản quyền tác giả, ông ấy bảo tôi làm đơn để đòi quyền lợi, nhưng tôi không làm, vì tôi nghĩ làm phải có tiền rất mất thời gian. Tôi chỉ có mong muốn làm sao tất cả những bức tranh của tôi được lưu giữ tại Viện bảo tàng thiên nhiên hoặc một bảo tàng nào đó, không sau này các con tôi cũng vứt hết,'' ông tâm sự./.

10 loại độc dược dùng để cứu người

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Trong thiên nhiên, một số loài sinh vật có chứa chất kịch độc, có thể gây nguy hại cho sức khỏe, tính mạng của con người. Thế nhưng với tài trí của các nhà y học, nhiều trong số chất độc này đã “cải tà quy chính” trở thành thuốc chữa những chứng bệnh nan y, cứu người.

Cựa lúa mạch:

Nhân loại đã trải qua một chặng đường lịch sử lâu dài trong việc dính dáng đến cựa lúa mạch, đây là một loài nấm sống ký sinh trên thân cây lúa mạch. Chất độc từ cựa lúa mạch có khả năng gây nên chứng ảo giác, không kiểm soát được các hành vi, chấn động và thậm chí gây chết người. Các triệu chứng ngộ độc cựa lúa mạch khác bao gồm co thắt tử cung, buồn nôn, tai biến mạch máu và bất tỉnh nhân sự. Người bị ngộ độc nấm trên cựa lúa mạch có nguy cơ sẽ bị cắt cụt chi. Kể từ thời Trung Cổ, người ta sử dụng các liều lượng thuốc đặc chế từ cựa lúa mạch để làm ngừng hẳn chứng chảy máu cho sản phụ sau khi sinh. Chất độc alkaloid từ cựa lúa mạch có chứa thành phần caffeine và ergotamine hay ergoline dùng để điều trị chứng đau nửa đầu. Chất độc từ cựa lúa mạch còn được dùng để trị chứng bệnh Parkinson. Ngoài ra chất độc từ cựa lúa mạch còn tạo ra dạng bệnh dịch hạch từng tấn công châu Âu vào thập niên năm 1500.


Nhện đen Chilê:

Các nhà lý sinh từ Đại học Buffalo, New York, Mỹ đã sử dụng một chất đạm từ nọc độc của loài nhện đen Chilê vốn có khả năng gây nên các căn bệnh tim mạch dẫn đến tử vong ở người. Các bức vách bao quanh các tế bào của bạn có những ống nhỏ xíu sẽ mở ra khi tế bào được kéo căng ra. Trong số các chức năng của cơ thể bạn, những chiếc ống này có nhiệm vụ co giãn các cơ tim. Khi các ống này giãn ra quá rộng, nó sẽ chuyển hoá một lượng lớn các iôn vào trong tế bào. Những iôn thêm vào này sẽ phá huỷ khu vực tim. Chất đạm từ nọc độc của loài nhện đen Chilê có khả năng bó chặt các ống dẫn này, gây nên biến chứng tim mạch.
Bò cạp vàng:

Các nhà nghiên cứu tại Transmolecular Corporation ở Cambridge, đã phân ly một chất đạm có trong nọc độc của loài bò cạp vàng Israel. Chất đạm này có khả năng bó chặt các tế bào ung thư tìm thấy trong gliomas, một dạng ung thư não được xem là rất khó điều trị hiện nay. Các nhà nghiên cứu cũng đã sáng chế ra một dạng chất đạm nhân tạo mang iôn phóng xạ. Khi đi vào trong máu, chất đạm nhân tạo sẽ tiêu diệt các tế bào glioma và “cột chặt” chúng lại, thực hiện các hiệu ứng phóng xạ. Hiệu ứng phóng xạ sẽ tiêu hủy các tế bào ung thư não, kết thúc quá trình điều trị.

Cà độc dược:

Atropine là một chất độc được chiết xuất từ cây cà độc dược. Chất độc atropine còn được sử dụng trong việc điều trị chứng bệnh Bradycardia (một chứng trụy tim cực kỳ nguy hiểm). Hoạt động của độc chất atropine còn tác động lên hệ thần kinh gây nên các triệu chứng như nhễu nước bọt, đổ mồ hôi và ảnh hưởng đến tuyến nước nhày. Chất độc atropine còn được sử dụng trong việc điều trị chứng Hyperhidrosis và phòng ngừa hữu hiệu chứng đột qụy tim mạch. Bởi vì tính hữu dụng trong y học mà chất độc atropine còn được xem là hạt nhân cốt lõi trong “Danh sách các loại thuốc cần thiết” của Tổ chức Y tế Thế giới, rất cần thiết cho hệ thống chăm sóc y tế cơ bản.

Cây độc cần:

Độc cần là một trong những loại độc dược phổ biến nhất, chất độc quan trọng nhất trong cây độc cần là coniine, có cấu trúc hoá học tương tự như nicotine. Coniine là một chất độc thần kinh, ảnh hưởng của nó là phá hủy cơ chế làm việc của hệ thống thần kinh trung ương, gây độc cho cả người và các loại gia súc. Coniine có thể gây chết người bằng cách làm tê cứng khả năng hoạt động của các cơ bắp tương tự như nhựa độc cây Cura. Các cơ hô hấp sẽ ngừng hoạt động gây nên cái chết do thiếu hụt ôxi ở tim và não. Cái chết diễn ra từ từ trong khoảng thời gian từ 48 đến 72 giờ đồng hồ sau đó. Người lớn chỉ cần ăn hơn 100 mg chất coniine (tương đương từ 6 đến 8 lá độc cần tươi, hoặc một liều nhỏ hạt hoặc rễ cây) là có thể chết bất đắc kỳ tử. Mặc dù được xem là Cây tử thần nhưng chất độc của cây độc cần còn được y học sử dụng để điều chế ra thuốc giảm đau cũng như dùng làm thuốc trị các chứng co thắt. Các thầy thuốc người Hy Lạp và Ba Tư đã sử dụng cây độc cần để trị các chứng viêm khớp.


Rắn hổ mang:

Nọc độc của rắn hổ mang được ước tính rằng với một liều lượng tương đương 100 mg đã đạt đến mức tử vong. Tuy vậy, nọc độc của loài rắn hổ mang còn có một chất đạm gọi là “Contortrostatin” có khả năng ngừng sự tăng trưởng của các tế bào ung thư và có thể ngăn cản khả năng lây lan của các khối u sang các vị trí khác. Trong tương lai gần, chất độc Contortrostatin đang được hy vọng là chất chống ung thư rất hiệu quả.

Cây mao địa hoàng:

Có nhiều giống khác nhau, nhưng tựu chung các cây mao địa hoàng tồn tại một vài chất độc chết người ảnh hưởng trực tiếp đến tim mạch. Vì vậy, mao địa hoàng được loài người đặt cho nhiều cái tên rất ấn tượng như Chuông gọi hồn, Găng tay phù thủy... Toàn bộ thân cây đều hiện diện các chất độc (bao gồm cả rễ và hạt), nhưng phần lá mọc trên thân cây là có uy lực giết người ghê gớm. Độc chất của cây mao địa hoàng còn được gọi là “Digitalin”, có khả năng gia tăng sự co giãn của tim và là một chất chống lại chứng loạn nhịp tim, đặc biệt là triệu chứng tim đập không đều, thường là đập rất nhanh.

Ốc nón:

Những loài ốc nón có kích thước từ trung bình đến rất to, nó là những động vật săn mồi đáng gờm trong lòng đại dương. Loài ốc này săn mồi và giữ chặt con mồi bằng cách sử dụng một bộ răng sắc kèm theo tuyến nọc cực độc có khả năng hủy hoại hệ thần kinh của con mồi, miệng của ốc này có cơ chế hoạt động giống như một mũi lao. Loài ốc nón này cũng làm cho con người phát ngán vì những cú đâm vào da gây nhức nhối không thể tả. Cú chích của các con ốc nón nhỏ thì không đáng ngại như cú chích của loài ong, nhưng cú chích của một vài con ốc nón loại lớn như loài ốc nón nhiệt đới có thể gây nguy hiểm đến tính mạng cho con người. Nọc độc của một số loài ốc nón như ốc nón ma thuật, ốc nón Conus có công hiệu mạnh 1000 lần, có khả năng dùng thay thế cho morphine. Nọc độc của loài ốc nón được dùng để điều trị căn bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson và chứng bệnh động kinh.

Warfarin:

Warfarin là thuốc chống đông tụ, lúc đầu nó được quảng cáo là thuốc trừ sâu có tác dụng diệt chuột, thứ thuốc này còn có sự hiện diện của một số chất độc mà tiêu biểu là chất độc brodifacoum. Cách đây vài năm, warfarin dùng để phòng ngừa chứng huyết khối và sự tắc mạch máu. Warfarin được sử dụng làm thuốc vào đầu thập niên năm 1950 và đến ngày hôm nay nó vẫn có hiệu lực. Warfarin được đại đa số dân cư khu vực Bắc Mỹ sử dụng làm thuốc chống đông.


NGUYỄN THANH HẢI   (Theo Science)-SKDS