BA CHẠC

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

BA CHẠC
Folium et Radix Euodiae Leptae


Tên khoa học: Euodia lepta (Spreng.) Merr., họ Cam (Rutaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.
Tên khác: Chè đắng. Chè cỏ. Cây dầu dầu
Mô tả: Cây nhỡ cao 2-8m, có nhánh màu đỏ tro. Lá có 3 lá chét, với lá chét nguyên. Cụm hoa ở nách các lá và ngắn hơn lá. Quả nang, thành cụm thưa, có 1-4 hạch nhẵn, nhăn nheo ở cạnh ngoài, chứa mỗi cái một hạt hình cầu đường kính 2mm, đen lam, bóng. Hoa tháng 4-5. Quả tháng 6-7.
Bộ phận dùng: Lá, cành, thân, rễ.
Phân bố: Rất phổ biến khắp nước ta trên các đồi cây bụi, ở rìa rừng và trong rừng thưa, ở cả vùng đất núi và đồng bằng. Còn phân bố ở Trung Quốc, Philippin vv...
Thu hái: Rễ và lá quanh năm. Rửa sạch rễ thái nhỏ và phơi khô ngoài nắng. Lá sấy khô hay phơi trong râm.
Thành phần hoá học: Rễ chứa alcaloid; lá có tinh dầu thơm nhẹ..
Công năng: Thanh nhiệt, chống ngứa, giảm đau.
Công dụng, cách dùng:
- Lá và cành tươi nấu với nước để rửa các vết thương, vết loét, chốc đầu.
- Thân và rễ được làm thuốc bổ đắng, dùng làm chè uống cho phụ nữ sau khi đẻ, mỗi ngày uống 4-12g.
Bài thuốc: Dự phòng cúm truyền nhiễm và viêm não: Ba chạc 15g. Rau má 30g. Ðơn buốt 15g. Cúc chỉ thiên 15g, sắc uống.

http://duoclieu.org

ANH TÚC XÁC

ANH TÚC XÁC (罂粟壳)

Pericarpium Papaveris


Tên khoa học: Papaver somniferum L., họ Thuốc phiện (Papaveraceae)
Tên khác: Cù túc xác
Bộ phận dùng: Vỏ quả khô đã trích nhựa của cây Thuốc phiện (Papaver somniferum L.), họ Thuốc phiện (Papaveraceae).

Mô tả: Anh túc xác là qủa (trái) cây A phiến (Thuốc phiện). Qủa là một nang hình cầu hoặc trụ dài 4~7cm, đường kính 3~6cm, khi chín có mầu vàng xám, cuống qủa phình to ra, đỉnh qủa còn núm. Trong qủa chín có nhiều hạt nhỏ hơi giống hình thận, trên mặt có vân  hình mạng mầu xám trắng hoặc xám đen. Khi hái để làm Anh túc xác thường thấy trên mặt qủa có các vết ngang hoặc dọc tùy theo cách lấy nhựa, mỗi vết gồm 3~4 đường. 

Phân bố: Cây này trước đây có trồng ở một số vùng núi cao nước ta, ngày nay cấm trồng vì liên quan tới tệ nạn ma tuý.
Thu hái: Chích nhựa ở vỏ quả chưa chín vào đầu mùa hạ, đem cô đặc. Còn vỏ quả đem phơi khô.
Thành phần hoá học: Nhựa thuốc phiện, alcaloid (morphin, codein, papaverin...).
Tác dụng dược lý:
- Đối với hệ hô hấp: Morphin là một chất ức chế mạnh và cao đối với hệ hô hấp. Liều có tác dụng đối với hệ hô hấp nhỏ hơn là liều giảm đau. Cơ chế của hậu qủa này là do sự cảm nhận thấp của hệ thần kinh hô hấp đối với mức độ của Carbon Dioxid. Dấu hiệu ức chế hô hấp bao gồm thở nhanh và thở dốc. Nếu dùng qúa liều hô hấp có thể trở nên khó khăn và có thể  ngưng hô hấp. Tác dụng của Codein đối với hệ hô hấp  yếu hơn là Morphin. Morphin cũng ức chế cơn ho với lều nhỏ hơn liều dùng để giảm đau. Codein có tác dụng long đờm yếu hơn nhưng thường được dùng nhiều hơn vì ít tác dụng phụ.
- Đối với hệ tuầøn hoàn: Morphin  gây ra gĩan mạch ngoại vi và giải phóng Histamin có thể dẫn đến huyết áp thấp. Vì thế phải dùng rất cẩn thận đối với bệnh nhân mệt lả do thiếu máu.
- Đối với vết vị trường: Morphin dùng với liều rất thấp gây ra bón do nó làm tăng trương lực  và giảm sự thúc đẩy co cơ  trong thành ruột đồng thời làm giảm dịch nội tiết tiêu hóa. Ngoài ra, nó gia tăng sứs ép trong ống mật. Những hậu qủa này gây ra ói mửa, bụng đau cơn đau mật. Codein tác dụng yếu hơn đối với vết vị trường.
- Đối với hệ sinh dục  niệu: Morphin gia tăng trương lực nơi đường tiểu và cơ bàng quang. 
Công năng: Thu liễm phế khí, cầm tiêu chảy, giảm ho, giảm đau
Công dụng:  Trị ho lâu ngày, ỉa chảy lâu ngày, giảm đau trong các cơn đau như đau bụng, đau gân cốt.
Cách dùng, liều lượng:  Ngày dùng 2-6g, dạng thuốc sắc hay thuốc bột.
+ Rửa sạch, loại bỏ hết hạt và gân màng , chỉ lấy vỏ ngoài, xắt mỏng, sấy khô hoặc tẩm mật ong (sao qua) hoặc sao với dấm cho hơi vàng, tán nhuyễn để dành dùng (Bản Thảo Cương Mục).
+ Lấy nước rửa ướt rồi bỏ tai và gân màng, chỉ lấy vỏ màng ngoài, phơi trong râm, xắt nhỏ, tẩm dấm, sao hoặc tẩm mật sao (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).
+ Rửa sạch bụi, bỏ hết hột, bỏ tai và gân màng, chỉ lấy vỏ ngoài, xắt nhỏ, phơi trong râm cho khô để dùng hoặc tẩm mật sao qua hoặc tẩm giấm sao vàng (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
Bài thuốc:
+  Trị ho lâu ngày: Anh túc xác, bỏ gân, nướng mật, tán bột. Mỗi lần uống 2g với nước pha mật (Thế Y Đắc Hiệu Phương).
+ Trị lao, suyễn, ho lâu năm, mồ hôi tự ra: Anh túc xác 100g, bỏ đế và màng, sao với giấm, lấy 1 nửa. Ô mai 20g. Tán bột, mỗi lần uống 8g khi đi ngủ (Tiểu Bách Lao Tán  Tuyên Minh Phương). 
+  Trị thủy tả không cầm: Anh túc xác 1 cái, Ô mai nhục, Đại táo nhục đều 10 cái, sắc với 1 chén nước còn 7 phân, uống ấm (Kinh Nghiệm Phương).
+  Trị lỵ: Anh túc xác (bỏ núm trên và dưới, đập dập, nướng với mật cho hơi đỏ), Hậu phác (bỏ vỏ, ngâm nước cốt gừng 1 đêm, nướng). 2 vị tán thành bột. Mỗi lần dùng 8~12g với nước cơm (Bách Trung Tán  - Bách Nhất Tuyển Phương).
+  Trị lỵ lâu ngày:
1- Anh túc xác, nướng với dấm, tán bột, trộn với mật làm hoàn. Ngày uống 6~8g với nước sắc gừng ấm (Bản Thảo Cương Mục).            
2- Anh túc xác 400g, bỏ màng, chia làm 3 phần: 1 phần sao với dấm, 1 phần sao với mật, 1 phần để sống. Tán bột, trộn với mật làm hoàn. Ngày uống 8~12g với nước cơm (Y Học Nhập Môn).
+ Trị trẻ nhỏ bị xích bạch lỵ: Anh túc xác 20g, sao với giấm, tán nhỏ, lấy chảo đồng sao qua. Binh lang 20g,  sao đỏ, nghiền nhỏ. Xích lỵ uống với mật ong, bạch lỵ uống với nang đường (Toàn Ấu Tâm Giám Phương). 
+  Trị trẻ nhỏ bị thổ tả, không muốn ăn uống, bạch lỵ: Anh túc xác  (sao), Trần bì  (sao), Kha  tử (nướng, bỏ hạt), đều 40g Sa nhân, Chích thảo đều 8g. Tán bột. Ngày uống 8~12g với nước cơm (Anh Túc Tán - Phổ Tế Phương). 

http://duoclieu.org

ACTISO

ACTISO (菊芋)

Folium et Flos Cynarae scolymi


Tên khoa học: Cynara scolymus L., họ Cúc (Asteraceae).
Mô tả: Lá nhăn nheo, dài khoảng 1 - 1,2 m, rộng khoảng 0,5 m hay được chia nhỏ. Phiến lá xẻ thùy sâu hình lông chim, mép thuỳ khía răng cưa to, đỉnh răng cưa thường có gai rất nhỏ, mềm. Mặt trên lá màu nâu hoặc lục, mặt dưới màu xám trắng, lồi nhiều và những rãnh dọc rất nhỏ, song song. Lá có nhiều lông trắng vón vào nhau. Vị hơi mặn chát và hơi đắng.
Bộ phận dùng:
- Lá (Folium Cynarae scolymi)
- Hoa (Flos Cynarae scolymi)
Phân bố: Cây được trồng ở một số vùng núi nước ta (Đà lạt, Sapa, Tam Đảo).
Thu hái: Cụm hoa chưa nở làm rau ăn vào tháng 12 đến tháng 2. Còn lá cũng được thu hái lúc cây sắp ra hoa hoặc đang có hoa, rọc bỏ sống lá đem phơi khô hay sấy khô.
Thành phần hoá học: Cynarin, flavonoid, chất nhầy, pectin...
Công năng: Chống lão hóa, giải độc, hạ mỡ máu, mát gan, lợi tiểu.
Công dụng: Thông tiểu, thông mật, dùng cho người yếu gan, thận, làm hạ cholesterol, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch.
Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay chè thuốc, cao mềm, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Trên thị trường có chế phẩm cao actiso dưới dạng viên nang và các chế phẩm dạng trà thuốc.
Chế biến: Lá được thu hái vào năm thứ nhất của thời kỳ sinh trưởng hoặc vào cuối mùa hoa, đem phơi hoặc sấy khô ở 50 - 600C. Lá cần được ổn định trước rồi mới bào chế thành dạng thuốc. Có thể dùng hơi nước sôi có áp lực cao để xử lý nhanh thân, lá. Sau đó phơi hoặc sấy khô.

http://duoclieu.org

Mật nhân có phải là thần dược?

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

Thời gian gần đây, thông tin về khả năng chữa bách bệnh của cây mật nhân (cây bách bệnh) xuất hiện ngày càng nhiều trên các trang mạng Internet khiến nhiều người không tiếc tiền của, công sức để vào tận rừng sâu núi hiểm để tìm cây mật nhân. Nhưng sự thật có phải như vậy? Mật nhân có đúng là thần dược chữa bách bệnh?

Đổ xô đi tìm thần dược?

Người dân các huyện miền núi ở Phú Yên, Gia Lai, Bình Định, Quảng Nam thời gian gần đây đổ xô lên rừng tìm mật nhân. Nhiều cánh rừng ngổn ngang cây bị đốn, rễ bị đào.

Tại thị trấn Phước Sơn (Quảng Nam), nhiều gia đình đã tự ý dựng bảng hiệu rao bán mật nhân ngay trước ngõ vào nhà.

Theo những người dân ở đây, sau khi đào lên khỏi mặt đất, gốc và rễ mật nhân sẽ được cưa nhỏ từng khúc đem rửa sạch rồi chẻ thành từng lát mỏng phơi khô. Khi dùng chỉ cần bỏ một vài lát vào chén nước sôi hoặc cho vào rượu ngâm vài ngày rồi lấy ra uống sẽ trị được bách bệnh...

“Bệnh gì uống cũng hết. Đau dạ dày, đau khớp, viêm xoang, viêm gan, nhức mỏi tay chân, biếng ăn mất ngủ... đều dùng cây này để chữa. Có thể ngâm rượu từ 3 - 5 ngày là uống được hoặc chẻ nhỏ ngâm trong nước sôi 15 phút rồi uống như uống nước chè”.

Trên những cánh rừng Hòn Đen, Buôn Kít thuộc 2 xã Sông Hinh và EaTrol (huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên), mỗi ngày có đến gần trăm người vào rừng tìm mật nhân. Không chỉ người dân địa phương, các nơi như Tuy Hòa (Phú Yên), Bình Định, Khánh Hòa cũng lên đây tìm cây thuốc.

Không chỉ lên rừng khai thác, rễ cây mật nhân được một số người sang Campuchia mua với giá rẻ như củi rồi vận chuyển mang về Việt Nam qua các cửa khẩu Hoa Lư (huyện Lộc Ninh), Hoàng Diệu (huyện Bù Đốp) rồi bán với giá phổ biến từ 40.000 - 50.000 đồng/kg. Mỗi chuyến xe tải chở từ 1,5 - 2 tấn rễ cây mật nhân.

Tác dụng không như lời đồn thổi

Cây mật nhân có tên khoa học là Eurycoma longifolia Jack, còn có tên  gọi khác là cây bá bệnh hay bách bệnh, thuộc họ thanh thất. Đây là loại cây nhỡ, cao khoảng 2m. Lá kép 10 - 36 đôi mọc đối, không cuống; mặt trên xanh bóng, mặt dưới trắng, cuống lá màu nâu đỏ. Có lông ở nhiều bộ phận. Cụm hoa hình chùm kép hay chùm tán, mọc ở ngọn, cuống có lông màu gỉ sắt. Hoa màu đỏ nâu. Quả hình trứng, hơi dẹt, có rãnh giữa, khi chín màu vàng đỏ, chứa 1 hạt, hạt có nhiều lông ngắn.

Ở Việt Nam, bách bệnh có nhiều ở các tỉnh vùng Tây Nguyên. Bộ phận dùng làm thuốc là vỏ thân, rễ, lá phơi hay sấy khô

Bách bệnh là cây thuốc dân gian, nhưng đã được các nhà y dược thử nghiệm ứng dụng với ký sinh trùng sốt rét, làm lợi mật, có tác dụng kích dục nam và làm chậm quá trình sơ gan và ung thư. Các chất quassinoid và alcaloid được chiết xuất từ mật nhân có vị đắng có màu vàng, giúp tăng năng lượng hoạt động và sức bền, thúc đẩy sản xuất hocmon sinh dục nam nội sinh.

Theo kinh nghiệm dân gian, vỏ cây dùng với các trường hợp ăn uống không tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, đau mỏi lưng. Rễ chữa khí hư huyết kém, ăn uống không tiêu, trong ngực có cục tích, gân khớp cứng, xương yếu, chữa tứ thời cảm mạo, sốt rét, ngộ độc và say rượu. Quả chín ăn được, chữa lỵ và tiêu chảy. Lá nấu nước trị ghẻ, lở ngứa.

Hiện nay, bách bệnh được khai thác theo nghiên cứu nước ngoài dùng làm thuốc kích dục nam. Tuy nhiên, phải có công nghệ tách chiết quassinoid, alcaloid rồi kết hợp với một số chất bổ trợ khác để thay viagra. Tại Việt Nam, hiện chưa có công nghệ tách chiết này, người dân dùng thuốc theo phương thuốc dân gian, trong khi để thuốc phát huy tác dụng, cần kết hợp với các vị thuốc khác. Chính vì vậy, cần khẳng định, mật nhân không có tác dụng chữa bách bệnh như đồn thổi. Để sử dụng mật nhân chữa bệnh, cần có chỉ định của các thầy thuốc, lương y có kinh nghiệm.


 Người dân đổ xô lên rừng tìm mật nhân. Ảnh: B.Đ
Một số đơn thuốc có bách bệnh

-Chữa liệt nửa người, do khí suy, phong tê, mình lạnh tê dại (Ôn kinh trợ dương điều khí thang): Rễ bách bệnh 4g, rễ đinh lăng 10g, xấu hổ sao 8g, dây đau xương 8g, đậu chiều sao 8g, dây trâu cổ 8g, cây thần sa 6g, bạch hồ tiêu (hồ tiêu sọ) 5g, quế chi 5g, gừng sống 3g. Sắc uống.

- Chữa âm huyết suy kém, tê bại nửa người, nóng đau (Tư âm bổ huyết thang): Rễ bách bệnh 6g, đậu đen 12g, hà thủ ô 10g, dây gùi 8g, rau muống biển 8g, rễ nhàu 8g, rễ ô môi 8g, cỏ xước 8g, tang chi 8g, dây ký ninh 2g. Sắc nước uống.

- Chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi chướng bụng (Bá ứng tiêu hạ tán): Rễ bách bệnh 50g, vỏ quýt 100g, hoắc hương 100g, củ bồ bồ 100g, dây mơ 100g, cam thảo nam 100g, hậu phác 100g, củ sả 50g, củ gấu 50g, tiêu lốt 50g. Các vị rửa sạch, sấy khô, tán bột. Ngày uống 12g, trẻ em giảm liều tùy theo tuổi.

Lưu ý: Những người có đề kháng yếu (trong cơ thể mang nhiều bệnh liên quan đến nội tạng như gan, mật, dạ dày...), nếu  sứcdùng mật nhân sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Cần có biện pháp bảo tồn

Hiện nay, do giá thu mua tăng cao nên hằng ngày có rất nhiều người dân ở nhiều địa phương đổ xô lên rừng để khai thác mật nhân. Trong khi đó, hiện chưa có công trình khoa học hay văn bản nào cho rằng loài cây này chữa được bách bệnh, vì thế ngành kiểm lâm không thể cấm người dân khai thác. Cứ tiếp tục tình trạng này, cây mật nhân sẽ bị tận thu tận diệt. Chính vì vậy, cần có những biện pháp cấp thiết để tuyên truyền cho người dân biết về tác dụng chữa bệnh của cây và cần có chế tài đủ mạnh để hạn chế tình trạng khai thác tràn lan như hiện nay.

Thất diệp nhất chi hoa có chữa được ung thư?

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011


Hiện nay, nhiều người dân, đặc biệt là những bệnh nhân ung thư đang hy vọng trước tin đồn cây thất diệp nhất chi hoa, còn gọi là cây 7 lá 1 hoa không chỉ có tác dụng giải độc cơ thể mà còn chuyên trị các chứng bệnh nan y, đặc biệt là bệnh ung thư. Chính vì vậy, nhiều người đã không tiếc tiền mua "đại thần dược" để tự chữa trị. Đâu là sự thật?

Cơn sốt thất diệp nhất chi hoa
Tại các quầy hàng bán thuốc đông dược, thời gian gần đây rất nhiều người tìm hỏi mua thất diệp nhất chi hoa, phần lớn trong số đó là những người có người nhà mắc bệnh ung thư. Theo lời đồn thổi, chứng ung thư nếu hóa trị xạ trị cũng chỉ có tác dụng kéo dài thời gian sống được vài ba năm. Muốn khỏi hẳn bệnh phải dùng vị thuốc thất diệp nhất chi hoa. Vì thế, giá thuốc được tăng lên chóng mặt, khoảng vài triệu đồng /kg.
Thất diệp nhất chi hoa.
Theo lời của những người bán hàng, cây thất diệp nhất chi hoa có tác dụng chữa ung thư siêu đẳng hơn nấm cổ linh chi nhiều. Ngoài ra, họ còn khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng không ít người đã bị bệnh viện trả về bảo gia đình về chuẩn bị lo hậu sự. Nhưng uống 7 lá 1 hoa vào rồi thì bừng bừng sức sống. Có người sống được 5 - 6 năm kể từ ngày bác sĩ trả về. Tuy nhiên, khi được hỏi địa chỉ những bệnh nhân cụ thể thì họ lại nói không giữ số của khách hàng, người có số thì lại bảo họ không muốn ồn ào vì sợ thuốc linh mất uy...
Vậy đâu là sự thật?
Thất diệp nhất chi hoa (cây bảy lá một hoa), còn có tên gọi là thất diệp chi mai, độc cước liên, thiết đăng đài, chi hoa đầu, tảo hưu, thảo hà xa, trọng lâu, thất tử liên, đăng đài thất..., là một loại cây thảo sống lâu năm, thường mọc rải rác dưới tán rừng ẩm trên núi đất hoặc đá vôi ở độ cao vài trăm mét đến trên 1500m miền Tây Trung Quốc và dãy núi Hymalaya. Ở nước ta, cây thuốc này mới được tìm thấy ở huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang vào năm 1995, trên độ cao 1.650m và đã được xếp vào Sách Đỏ Việt nam.
Theo dược học cổ truyền, thất diệp nhất chi hoa vị đắng cay, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, bình suyễn chỉ khái (làm hết hen suyễn và giảm ho), tức phong định kính (chống co giật), tiêu thũng chỉ thống (làm hết sưng nề và giảm đau), thường được dùng để chữa các chứng bệnh như ung thũng, đinh độc (nhọt độc), lao lịch (lao hạch), hầu tý (viêm amydal), viêm khí phế quản cấp và mạn tính, trẻ em sốt cao co giật, rắn độc cắn, viêm da thần kinh, quai bị, thoát thư (viêm tắc động tĩnh mạch)... Liều dùng: dùng thân rễ sắc uống mỗi ngày từ 4 - 12g, dùng ngoài không kể liều lượng.
Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, thất diệp nhất chi hoa có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều loại vi khuẩn như trực khuẩn lỵ, tụ cầu khuẩn, trực khuẩn coli, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh...; kháng virut cúm; làm giãn phế quản, chống co thắt, trừ đờm và giảm ho; trấn tĩnh giảm đau; chống viêm và cầm máu; làm giảm mỡ máu; nâng cao năng lực hoạt động của tuyến vỏ thượng thận và đặc biệt là có tác dụng ức chế trực tiếp sự phát triển của tế bào ung thư. Nhiều nghiên cứu của các tác giả Trung Quốc cho thấy, dịch chiết thất diệp nhất chi hoa đã góp phần kéo dài thời gian sống của những bệnh nhân bị ung thư dạ dày và ung thư phổi.
Như vậy, có thể thấy, thất diệp nhất chi hoa là một trong những dược thảo quý có nhiều công dụng khác nhau, trong đó có tác dụng trị liệu các bệnh lý ác tính. Tuy nhiên, cây thuốc này còn chưa được nhiều người biết đến và cũng chưa được di thực và trồng hái nhiều ở nước ta. Việc khai thác bừa bãi hiện nay đang làm nguy hại đến nguồn dược liệu quý hiếm này. Chính vì vậy, các cơ quan chức năng cần phải có biện pháp gìn giữ loại dược liệu quý này như truyền thông để người dân hiểu biết về tác dụng và độ quý hiếm của vị thuốc này và có các biện pháp để duy trì và phát triển thành vùng dược liệu.
ThS. Hoàng Khánh Toàn
(Nguồn Suckhoedoisong)

Cây thông đỏ tại Việt Nam: “Vàng” bị lãng quên

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

Trong chuyến về nước vào cuối năm 2006, Tiến sĩ khoa học Trần Khánh Viễn, Việt kiều Pháp, Nghiên cứu viên trưởng Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (C.N.R.S) đã đánh giá rất cao về tiềm năng sản xuất nguyên liệu làm thuốc chống ung thư từ cây thông đỏ của Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, thông đỏ dường như vẫn chưa “lọt vào mắt xanh” của các bộ chủ quản có liên quan đến loại cây quý giá này.

 

Một loại dược liệu quý

Trong lời mở đầu về “Dự án sản xuất thuốc generic chống ung thư Taxol và Taxotere ở Việt Nam”, TS Viễn khẳng định: Hiện nay, trong hóa trị, 2 dược phẩm được sử dụng nhiều và hiệu quả nhất trong điều trị ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư phổi là: Taxol (được phát triển từ phân tử Paclitaxel hoạt hóa của Công ty Bristol Myers Squibb – Mỹ) và Taxotere (được phát triển từ phân tử Docetaxel hoạt hóa của công ty Sanofi – Aventis Pháp). Cả hai hoạt chất này đều được chiết xuất từ vỏ và lá cây thông đỏ, mang về những nguồn thu khổng lồ cho các hãng sản xuất.

Dẫn chứng của TS Viễn cho thấy, trong 10 năm qua, Bristol Myers Squibb đã thu được 11 tỷ USD từ vệc bán Taxol. Riêng Sanofi Aventis, trong năm 2005 đã thu được 1,7 tỷ USD từ việc bán Taxotere.

Theo các chuyên gia về dược, hai loại thuốc này vẫn còn được sử dụng trong nhiều năm tới mặc cho những hứa hẹn ra đời của những thuốc mới, đặc biệt là những liệu pháp tế bào gốc và gen. Tại Việt Nam, chỉ tính riêng Bệnh viện Ung bướu TPHCM, trong năm 2006, số tiền chi để mua các biệt dược từ Paclitaxel và Docetaxel đã lên tới 19 tỷ đồng. Với giá thuốc Taxol và Taxotere hiện rất cao so với mức thu nhập của người dân hiện nay thì hướng sản xuất thuốc generic là vô cùng cần thiết nhất là khi chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ vùng nguyên liệu quý giá là cây thông đỏ.

Theo các nhà khoa học, thông đỏ không phải là loài cây đặc hữu chỉ có ở Việt Nam mà phân bố rải rác suốt từ châu Mỹ, châu Âu sang châu Á. Tuy nhiên loài thông đỏ mọc ở vùng rừng Việt Nam được chứng minh là có giá trị cao hơn thông đỏ ở các vùng khác vì chỉ số tích lũy hoạt chất cao hơn. Theo TS Trần Khánh Viễn, hàm lượng hoạt chất tích lũy trong cây thông đỏ tại Việt Nam tương đương với cây thông đỏ ở Pháp – loại đang được Sanofi Aventis dùng để bào chế Taxotere. Thật có lý khi chúng ta nghĩ đến việc phát triển các trang trại trồng thông đỏ theo mô hình công nghiệp để chiết xuất các phân tử hoạt hóa để bào chế thuốc generic Taxol và Taxotere.

Các cơ quan chức năng không quan tâm

Dù tất cả những lý lẽ, lập luận đều rất chặt chẽ và thuyết phục để thấy sự cần thiết về việc hình thành vùng nguyên liệu thông đỏ tại Việt Nam, nhưng cho đến nay vấn đề này vẫn không thu hút được sự quan tâm của nhà nước cũng như các bộ chủ quản có liên quan đến loại cây này.

Theo TS Dương Tấn Nhật, Phân viện phó Phân viện Sinh học Đà Lạt, những giá trị của cây thông đỏ chỉ được khuấy động lên ngay thời điểm người ta tìm ra nó tại Việt Nam, nhưng cũng chỉ ở mức cảnh báo về nguy cơ diệt vong của loài cây này và đặt vấn đề làm sao bảo tồn chứ không nói đến vấn đề phát triển, không xem đây là một vấn đề xã hội.

Sau đó, thông đỏ gần như đã bị lãng quên. Những dự án về cây thông đỏ phần lớn được các nhà khoa học tâm huyết thực hiện bằng những nguồn kinh phí chắp vá hoặc kêu gọi tài trợ với nguồn kinh phí hỗ trợ rất ít ỏi từ các tổ chức khoa học.

Theo “nhật ký khoa học” của các cán bộ Trung tâm Nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng thì ở Việt Nam, vào năm 1995, Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia khảo sát tại vùng Pà Cò, Mai Châu, Hòa Bình đã gặp 5 cây thông đỏ bên trái dòng núi đá vôi. Riêng ở Lâm Đồng đã phát hiện một loài thông đỏ Himalaya mọc rải rác ở vùng rừng Đà Lạt và một số huyện lân cận.

Đến năm 2004 tại Đà Lạt, các nhà khoa học tiếp tục phát hiện ra 2 quần thể cây thông đỏ. Quần thể thứ nhất nằm ở núi Voi, trải trên diện tích chừng 10ha, với 60 cây. Quần thể thứ hai nằm trong những thung lũng thuộc địa phận Phát Chi, thuộc xã Xuân Trường, giáp ranh giữa huyện Đơn Dương với thành phố Đà Lạt, với số cây đếm được 200, trên diện tích khoảng 50ha.

TS Dương Tấn Nhật cho biết: Cho đến nay, Phân viện Sinh học Đà Lạt đã nghiên cứu thành công nhiều chương trình liên quan đến cây thông đỏ như: nhân giống hữu tính, vô tính; nuôi cấy tế bào thông đỏ…, nhưng chưa có bất cứ một chương trình nào lấy nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Phần lớn là chia sẻ nguồn kinh phí từ các đề tài khác sang hoặc kêu các quỹ hỗ trợ như dự án nghiên cứu tế bào thông đỏ sử dụng nguồn kinh phí khá nhỏ nhoi (khoảng 75 triệu đồng) do Quỹ Hỗ trợ Phát triển Châu Á cấp.

Riêng tại Trung tâm Nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng, dự án trồng thử nghiệm 3ha thông đỏ cũng chỉ thu hút được nguồn kinh phí ít ỏi từ Sở Khoa học – công nghệ tỉnh với 100 triệu đồng. Sau 3 năm, dự án đã hoàn tất trong im lặng.

Dù nguồn kinh phí ít ỏi là vậy nhưng các nhà khoa học tâm huyết đã nghiên cứu thành công nhiều vấn đề hữu ích để nhân rộng và phát triển cây thông đỏ. Theo TS Nhật, cho đến nay, chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ về việc nhân giống bằng phương pháp vô tính giâm hom. Việc trồng trọt, nghiên cứu điều kiện sinh thái cho cây phát triển cũng đã được Trung tâm Nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng thực hiện với 3ha thông đỏ được trồng ở trại thực nghiệm Mang Linh. Đây là một điều kiện rất tốt để Việt Nam có thể hình thành và phát triển thông đỏ thành vùng nguyên liệu quý giá.

Tuy nhiên, theo TS Nhật, để có thể khai thác được giá trị kinh tế rất cao từ cây thông đỏ thì điều cần thiết nhất vẫn là sự quan tâm đúng mức của nhà nước hoặc các bộ chủ quản có liên quan đến cây trồng này.

Thực hư về tác dụng chữa bệnh của cây trà Nhật

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

Thời gian qua, trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai có bày bán loại cây thảo mộc được gọi là “trà Nhật” với công dụng theo như giới thiệu của người bán có tác dụng “mát gan, chữa bệnh tiểu đường, hạ huyết áp...” nhưng thực chất không phải như vậy.


Trà Nhật có độc tính cao

Ông Nguyễn Ngọc Hinh, Phó Chủ tịch UBND huyện Sa Pa cho biết: Với các du khách do thiếu thông tin lại quá tin vào lời tự quảng cáo của người bán về tính năng “ưu việt” của sản phẩm trà Nhật nên rất nhiều khách du lịch mua về sử dụng hoặc làm quà cho người thân. Tuy nhiên, công dụng của loại trà Nhật này không như quảng cáo của các hộ có kinh doanh loại thảo mộc này.

Được biết, hiện nay giống trà Nhật được người dân Sa Pa trồng với sản lượng khoảng 5 tấn lá khô/năm. Nguồn gốc của cây “trà Nhật” này có tên khoa học là: Hydrangea macrophylla Seginge var thunbergii Makino, thuộc họ Tú cầu (Hydrangeareae) và được di thực trồng tại Sa Pa từ năm 1992 do Viện Dược liệu Trung ương (Bộ Y tế) ký hợp đồng theo đơn đặt hàng với Công ty Honso Nhật Bản với mục đích là thu hoạch lá cây trà Nhật để chế biến thuốc hút không có chất nicotin. Viện dược liệu Trung ương đã nhận từ ông Tanaka là đại diện Công ty Honso Nhật Bản loại cây này và đã triển khai trồng thử nghiệm ở ba địa điểm gồm huyện Sa Pa, huyện Bắc Hà ( tỉnh Lào Cai) và huyện Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc). Kết quả, cây “trà Nhật” thích nghi và sinh trưởng tốt ở Sa Pa và đã xuất 1 tấn lá khô theo hợp đồng ký với Công ty Honso Nhật Bản. Sau đó, do bên đặt hàng đã hạ giá thu mua sản phẩm đến mức không thể thỏa thuận để sản xuất tiếp, nên Viện Dược liệu Trung ương đã quyết định ngừng sản xuất loại cây này từ năm 2001.

Tuy vậy, một số hộ gia đình tại thị trấn Sa Pa vẫn tiếp tục duy trì trồng rồi sấy khô và bán ra thị trường địa phương, tự giới thiệu “trà Nhật” với người tiêu dùng “là loại dược liệu chữa bệnh tiểu đường, cao huyết áp...”.    

Khi phát hiện ra sản phẩm trà Nhật bày  bán công khai tại các chợ của huyện Sa Pa với lời giới thiệu công dụng không đúng thực tế, UBND huyện Sa Pa đã có văn bản đề nghị Viện Dược liệu Trung ương xác định tác dụng của loại cây này. Từ năm 2007, Viện Dược liệu Trung ương đã có công văn trả lời về tác dụng của cây trà Nhật. Theo kết quả nghiên cứu của Viện xác định độc tính cấp của dịch chiết lá trà Nhật là LD50 = 37,5g/kg cân nặng chuột (đường uống). Trị số LD50 xác định được cho thấy lá trà có độc tính khá cao. Viện Dược liệu Trung ương đã đề nghị nghiêm cấm việc lưu hành sản phẩm này trên thị trường.
Không mua và sử dụng trà Nhật

Sau khi nhận được thông tin từ Viện dược liệu, trong các năm qua, UBND huyện Sa Pa đã có nhiều văn bản yêu cầu các hộ gia đình ở huyện không được trồng, chế biến và không được bán ra thị trường sản phẩm trà Nhật vì gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người sử dụng. Lãnh đạo UBND huyện Sa Pa cũng đã chỉ đạo phòng y tế và các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, xử lý tiêu hủy sản phẩm trà Nhật bày bán trên thị trường.

Ông Nguyễn Ngọc Hinh, Phó Chủ tịch UBND huyện Sa Pa cũng nhấn mạnh: Lâu nay người tiêu dùng và khách du lịch hay bị nhầm lẫn giữa cây trà Nhật với cây cỏ ngọt có tên khoa học là Stevia. Cây cỏ ngọt được dùng như một loại trà dành cho người bị bệnh tiểu đường, chữa chứng béo phì hoặc cao huyết áp. Tuy vậy, hiện nay cây cỏ ngọt này chưa được trồng tại Sa Pa.

Để đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng, UBND huyện Sa Pa khuyến cáo nhân dân địa phương và du khách không mua và dùng trà Nhật để làm thuốc hoặc làm chè uống, đồng thời yêu cầu các hộ gia đình trên địa bàn huyện Sa Pa không được lưu hành trên thị trường sản phẩm trà Nhật. UBND huyện Sa Pa sẽ có đề án phá bỏ hoàn toàn  loại cây trồng này trong hai năm tới để chuyển sang trồng các loại cây dược liệu khác có lợi cho sức khỏe và hiệu quả kinh tế.

(Theo SKĐS)