Cách phân biệt cao hổ cốt thật giả

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Theo dược học cổ truyền, cao hổ cốt vị mặn, tính ấm, vào được hai kinh can và thận; có công dụng bổ dương, trục phong hàn, trấn thống (giảm đau), làm mạnh gân cốt, trừ thấp; thường được dùng để chữa các chứng tê thấp, đau nhức gân xương, đi lại khó khăn, chân tay co quắp, thoái hóa xương khớp, suy nhược cơ thể...


Cao hổ :

Có thể nói, cao xương hổ có hai thế mạnh là: bổ dưỡng cơ thể và phòng chống các bệnh lý liên quan đến xương khớp như viêm đa khớp dạng thấp, thoái khớp gối, hư xương sụn cột sống cổ và cột sống thắt lưng, viêm cột sống dính khớp, viêm quanh khớp vai, viêm gân, gãy xương lâu liền, loãng xương...

Nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong thành phần hổ cốt có chứa collagen, mỡ, calcium phosphate, calcium carbonat, magiesium phosphat, trong đó collagen là hoạt chất chính; gelatin của hổ cốt chứa 17 amino-acid, lượng acid amin trong xương hổ cao gấp 900 các loại xương động vật khác và có tỷ lệ đạm toàn phần rất cao. Về tác dụng dược lý, hổ cốt có công dụng chống viêm, giảm đau, an thần và làm lành nhanh xương gãy.

Cách phân biệt thật giả:

Thực ra, với mắt thường rất khó phân biệt đâu là cao hổ thật và đâu là cao hổ giả. Trong dân gian, người ta có một số cách thử như: nếu là cao hổ thật thì ngọn cỏ tươi cắm trên mặt cao phải héo úa, chó ngửi thấy phải bỏ chạy hoặc cho chó tiếp xúc với bộ xương hổ chó sẽ rên hư hử và rúm ró toàn thân, người uống cao sẽ cảm thấy một luồng khí nóng chạy khắp cơ thể. Tuy nhiên những cách thử này xem ra cũng thiếu căn cứ khoa học.

Chất lượng cao hổ cốt:

Nấu cao hổ cốt tốt nhất phải có 5 bộ xương hổ và cứ 1kg xương đã chế biến theo đúng quy chuẩn sẽ nấu được hơn 200g cao. Để cho cao hổ thêm mạnh và “dẫn” nhanh người ta thường pha thêm xương sơn dương với tỷ lệ 5 hổ 1 sơn dương. Cũng vì vậy mà có câu “phi sơn dương bất thành hổ cốt”. Bộ xương hổ để nấu cao, tốt nhất là phải nặng trên 10kg, nếu được từ 15kg trở lên thì tuyệt vời và đặc biệt là phải đầy đủ, không được thiếu mảnh xương nào và cũng không được lẫn các loại xương khác, trong đó không thể thiếu xương chân trước và xương bánh chè.

Cao hổ cốt rởm:

Vì cao hổ cốt là một trong những chế phẩm đông dược quý hiếm và rất đắt tiền nên kẻ xấu thường tìm mọi phương cách chế ra cao hổ cốt “rởm” để trục lợi. Những thủ đoạn thường được dùng là:

- “Treo đầu dê bán thịt chó”, nghĩa là dùng các loại cao xương động vật khác như trâu, bò, lợn, gà... mạo danh là cao hổ cốt để bán với giá tương đương. “Nhân đạo” hơn một chút, kẻ xấu có thể sử dụng xương hổ thật để nấu lẫn nhưng với tỷ lệ không đáng là bao.

- Dùng các kỹ xảo tinh vi phù phép, đánh bóng, gọt giũa tạo ra những bộ xương hổ “rởm” từ các loại xương động vật khác để lừa bán trục lợi. Xương gấu thường được sử dụng nhiều nhất vì khá giống xương hổ, rẻ tiền hơn và lại dễ chế tác. Thậm chí với công nghệ lăng xê, nối, cạo, mài, khoan... kẻ xấu còn dùng cả xương lợn, xương trâu, xương bò, xương chó... để tạo ra hổ cốt “rởm” mà nom như thật!

- Dùng trò ảo thuật để “mông má” một số động vật thành “hổ tươi nguyên con, ướp lạnh”. Ví như, kẻ xấu thường tìm mua giống chó hung dữ và có vóc dáng to lớn, nặng từ 50-60kg, thậm chí có con nặng tới 100kg, mõm ngắn, đầu tròn, bộ mặt ngắn tũn và nhăn nhúm rồi nhuộm lông, uốn xương, tạo dáng, ướp lạnh... sao cho có hình hài trông giống như hổ thật. Hiện nay, tại Thái Lan cũng đã xuất hiện công nghệ “cải chó thành hùm” nhằm đáp ứng phong trào nấu cao hổ rởm ở Việt Nam.

- Trộn một số thuốc Tây vào cao xương hổ để tạo ra cảm giác “hiệu nghiệm” tức thì nhằm tạo niềm tin cho khách hàng và khiến họ sẵn lòng bỏ tiền ra mua. Ví như, kẻ xấu thường trộn vào cao hổ cốt các thuốc có tác dụng chống viêm, giảm đau mạnh để lừa những người đang bị hành hạ bởi chứng đau khớp.

- Dùng bột xương hoặc các loại cao thực vật trộn lẫn với cao hổ cốt để tạo ra những miếng cao có màu sắc hấp dẫn, mềm quánh và có tỷ trọng lớn hơn cao hổ thật!

Kiêng kỵ:

Nhìn chung, phạm vi sử dụng của cao hổ cốt tương đối rộng rãi. Tuy nhiên, theo y học cổ truyền, loại cao này có tính nóng và trợ dương khá mạnh nên những người có thể chất hoặc bị mắc các chứng bệnh thuộc thể âm hư hỏa vượng biểu hiện bằng các triệu chứng người gầy, hay có cảm giác nóng trong hoặc sốt về chiều, hay có cơn bốc hỏa, đầu choáng mắt hoa, tai ù tai điếc, lòng bàn tay và bàn chân nóng, trong ngực rạo rực không yên, hai gò má đỏ, môi khô miệng khát, đổ mồ hôi trộm, đại tiện táo kết, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, không hoặc ít có rêu lưỡi... thì không được dùng. Những người bị tăng huyết áp cũng cấm chỉ định dùng cao xương hổ.

Sự thật về “thần dược” giảo cổ lam trị ung thư

Vài năm trở lại đây, tại rất nhiều hiệu thuốc trên cả nước bày bán loại trà nghe rất lạ tai: Trà Giảo cổ lam. Loại trà này cũng được quảng cáo nhiều trên các phương tiện truyền thông.


Người bình thường vẫn còn khá mơ hồ, tuy nhiên, phần lớn những người mắc bệnh ung thư đều biết đến. Số người mắc ung thư mới ở nước ta mỗi năm lên đến con số 200.000 người, cộng với hàng vạn người đang mắc bệnh chính là thị trường rất lớn tiêu thụ các sản phẩm từ giảo cổ lam.
Giảo cổ lam là thần dược trị bách bệnh?

Giảo cổ lam phiên âm từ jiaogulan, hay còn gọi là dây lõa hùng, trường sinh thảo, cam trà vạn, thất diệp đảm, hoặc những cái tên thể hiện sự quý hiếm như ngũ diệp sâm, sâm phương nam, cây cỏ thần kỳ… Tên khoa học của cây này là gynostemma pentaphyllum. Mỗi nước có một tên gọi khác nhau. Người Nhật gọi là phúc âm thảo. Ở Việt Nam thường được gọi là giảo cổ lam hoặc cây bổ đắng.

Vườn giảo cổ lam trồng ở Viện Dược liệu trên Tam Đảo (Vĩnh Phúc).

Theo tài liệu nghiên cứu của GS.TS. Phạm Thanh Kỳ (nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Dược), giảo cổ lam thuộc dạng cây thảo có thân mảnh, leo nhờ tua cuốn đơn ở nách lá. Cây đực và cây cái riêng biệt, lá khép kín hình chân vịt. Cụm hoa hình chùy mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, các cánh hoa rời nhau xòe hình sao, bao phấn dính thành đĩa, bầu có 3 vòi nhụy.

Giảo cổ lam có nhiều loại: 3 lá, 5 lá, 7 lá và 9 lá.

Quả giảo cổ lam khô hình cầu, đường kính 5-9mm, khi chín màu đen. Loài cây này mọc nhiều ở độ cao trên dưới 2.000m so mới mặt nước biển, trong các khu rừng thưa, ẩm thấp, khí hậu lạnh quanh năm.

Giảo cổ lam xuất hiện nhiều nhất ở vùng núi Tây Tạng. Ngoài ra, một số vùng ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên cũng có.

Giảo cổ lam được coi là một dược liệu đầu vị quý ghi trong sách cổ “Nông chính toàn thư hạch chú”, quyển hạ, năm 1639, của Trung Quốc.

Giảo cổ lam 3 lá mọc tự nhiên trên đá trong rừng Hoàng Liên Sơn trông rất khác với giảo cổ lam trồng trong vườn.

Từ xa xưa, ở Trung Quốc, loài cây này được vua chúa, quan lại sử dụng để tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và làm đẹp.

Năm 1976, Nhật Bản tình cờ phát hiện giảo cổ lam khi nghiên cứu một bộ lạc sống trên núi cao có tuổi thọ bình quân 98 tuổi, mà nguyên nhân là do người dân nơi đó dùng loại cây này chế biến thành trà để uống hàng ngày và bào chế thành thuốc để tăng cường sức khỏe.
Kể từ khi giảo cổ lam được phát hiện ở Nhật Bản, phong trào nghiên cứu, tìm kiếm cây giảo cổ lam sôi sục ở Trung Quốc, Mỹ, Đức, Italia.

Sự thật về “thần dược” giảo cổ lam trị ung thư
Sự thật về “thần dược” giảo cổ lam trị ung thư
Các dòng quảng cáo đều có điểm nhấn: chống ung thư, phòng ngừa ung thư, hỗ trợ điều trị ung thư…

Trong các cuộc nghiên cứu về giảo cổ lam, có một công ty sản xuất nhiều sản phẩm từ giảo cổ lam nhất, dẫn ra:

GS. Tan, Liu đã chứng minh giảo cổ lam có tác dụng kìm hãm sự tích tụ tiểu cầu, làm tan cục máu đông, chống huyết khối, tăng cường lưu thông máu lên não.

GS. Lin và cộng sự chứng minh giảo cổ lam có tác dụng chống viêm gan, chứng cao huyết áp và chống ung thư. Tác dụng chống viêm của giảo cổ lam mạnh hơn Indomethacin.

GS. Wang và cộng sự chứng minh giảo cổ lam kìm hãm sự phát triển của khối u rất mạnh.

TS. Nguyễn Duy Thuần, Nguyễn Khánh Hòa, Đào Văn Phan cũng đã chứng minh tác dụng hạ đường huyết mạnh của giảo cổ lam và GS-TS Phan Thị Phi Phi cũng đã nghiên cứu tác dụng tăng miễn dịch rất tốt của giảo cổ lam.

Giảo cổ lam chứa hơn 100 loại saponin cấu trúc triterpen kiểu damaran, trong đó có nhiều loại giống với nhân sâm và tam thất. Cũng chính vì đặc tính và công dụng này mà nó có tên là ngũ diệp sâm.

Giảo cổ lam chứa nhiều Flavonoid, là hoạt chất có tác dụng sinh học cao, chống lão hóa mạnh. Ngoài ra, nó chứa nhiều acid amin tan trong nước, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Se.

Sự thật về “thần dược” giảo cổ lam trị ung thư
Một vị bác sĩ quảng cáo tác dụng của giảo cổ lam trong một hội thảo (ảnh sưu tầm).

Các hoạt chất chiết xuất từ giảo cổ lam đã được thử nghiệm trên cả động vật lẫn trên cơ thể người và các nhà khoa học đã có được các kết quả rất đáng kinh ngạc. Giảo cổ lam có tác dụng ức chế tăng cholesteron 71% theo phương pháp ngoại sinh và 82,08% theo phương pháp nội sinh, do đó, nó có tác dụng giảm mỡ máu rất mạnh.

Các nhà khoa học đã thử nghiệm trên chuột bơi và nhận thấy tác dụng tăng lực tới 214,2%. Với tác dụng tăng lực như trên, các vận động viên của Trung Quốc và Nhật Bản thường sử dụng giảo cổ lam trước các cuộc thi đấu và họ gọi loại cây này là Doping thiên nhiên (?!).

Giảo cổ lam có tác dụng bảo vệ tế bào gan rất mạnh trước sự tấn công của các chất gây độc, làm tăng tiết mật và làm tăng đáp ứng miễn dịch tế bào khi chiếu xạ hoặc gây độc tế bào bằng hóa chất…

Còn rất nhiều tác dụng khác nữa mà các nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu, chiết xuất, ứng dụng.

Theo các nhà khoa học, giảo cổ lam có khả năng ức chế khối u từ 20-80% và khả năng phòng ngừa u hóa cực kỳ tốt (?!).Chỉ cần nêu những công dụng trên đây cũng có thể thấy giá trị của giảo cổ lam là rất lớn. Tuy nhiên, người dân trong nước lại quan tâm đặc biệt đến loại cây này bởi theo công bố của các nhà khoa học, nó có khả năng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, căn bệnh khiến số người chết trên thế giới nhiều chỉ sau tim mạch.

Theo dự đoán, bệnh tim mạch sẽ phải “nhường ngôi” cho bệnh ung thư trong thời gian không xa, vì những phương tiện điều trị bệnh tim mạch mỗi ngày thêm hiện đại, song khả năng điều trị bệnh ung thư thì vẫn như… rùa bò.

Lợi dụng những công bố khoa học này, nhiều doanh nghiệp, nhiều ông lang đã thổi vào cây thuốc công dụng “thần kỳ” là trị bệnh ung thư. Giữa hai cụm từ “hỗ trợ điều trị” và “điều trị” là một khoảng cách rất xa, nhưng trong những lời quảng cáo họ rất hay bỏ quên hai chữ “hỗ trợ”.

Bệnh nhân ung thư là những đối tượng quan tâm đến loại cây thuốc này nhiều nhất. Rồi những người lo lắng mình có thể mắc ung thư cũng tìm kiếm các sản phẩm từ giảo cổ lam để uống thay nước hàng ngày những mong ngăn ngừa được căn bệnh tử thần.

Nguồn dược liệu giàu có từ các cặn vẩn ở vùng biển sâu

Mặc dù đại dương bao phủ 70% bề mặt trái đất, nhưng cho tới nay phần lớn tiềm năng về sinh y học của biển vẫn chưa được khám phá. Lần đầu tiên một nhóm các nhà nghiên cứu tại Viện Hải dương Scripps thuộc Trường Đại học Tổng hợp California, San Diego đã chỉ ra rằng các cặn vẩn trong tầng biển sâu là những nguồn sinh y dược quan trọng, chứa các vi khuẩn có khả năng tổng hợp nên các phân tử kháng sinh.

Giám đốc CMBB thuộc Viện Scripps - William Fenical và đồng nghiệp (Ảnh:  nsf.gov)
Trong một báo cáo gồm hai phần do một nhóm đứng đầu là William Fenical, giám đốc Trung tâm Sinh dược và Công nghệ sinh học biển (CMBB) thuộc Viện Scripps đã báo cáo phát hiện về một nhóm vi khuẩn mới, chúng có khả năng sinh ra các phân tử có thể điều trị các bệnh truyền nhiễm và ung thư.
Fenical cho biết: “Người ta thường nghĩ rằng đáy biển là một nơi lạnh lẽo, tối tăm và dơ dáy, nhưng chúng tôi đã cho thấy nơi đây có thể là một nguồn kháng sinh và dược phẩm khổng lồ để điều trị ung thư”.

Công bố đầu tiên vào tháng 10 năm 2002 trên tạp chí Vi sinh vật môi trường và ứng dụng đã làm nổi bật lên vai trò của các vi khuẩn mới có tên gọi là actinomycetes từ các cặn vẩn ở đại dương. Trải qua hơn 45 năm, các loài actinomycetes trên cạn đã trở thành nguồn sản xuất kháng sinh cho ngành công nghiệp dược vì khả năng sản sinh ra các chất kháng sinh tự nhiên, bao gồm các thuốc quan trọng như streptomycin, actinomycin và vancomycin. Dữ liệu từ công bố này cung cấp bằng chứng quyết định đầu tiên về sự phổ biến của các quần thể actinomycetes trong các cặn vẩn đại dương.

Công bố thứ hai vào ngày 20 tháng 1 năm 2003 trên tạp chí hóa sinh quốc tế Angewandte Chemie đã chỉ ra cấu trúc của sản phẩm tự nhiên mới mà nhóm Fenical gọi là Salinosporamide A từ nguồn vi khuẩn này. Hợp chất mới có khả năng ngăn cản sự phát triển của ung thư như human colon carcinoma, non-small cell lung cancer và có hiệu quả nhất với bệnh ung thư vú. Báo cáo này mở ra một một loạt các khám phá tương tự từ chi Salinospora được phát hiện trong thời gian gần đây.

Fenical cho biết: “Bản báo cáo này chỉ ra tiềm năng của các sản phẩm có hoạt tính sinh học cao và độc nhất về mặt hóa học. Điều này dường như mới chỉ là phần nổi của “tảng băng trôi” vì sự đa dạng các công thức hóa học mà vẫn chưa tìm ra”.

Mặc dù ngày nay có hơn 100 loại thuốc có nguồn gốc từ các loại vi sinh vật ở trên cạn như penicillin - là loại thuốc quan trọng nhất trong y học - nhưng tiềm năng từ các nguồn vi khuẩn trên cạn đã giảm đi từ gần 10 năm trước. Các nhà dược học đã tìm kiếm các loài vi khuẩn trên cạn có khả năng tạo ra thuốc nhưng kết quả thu được rất khiêm tốn. Theo Fenical, cần thiết phải tập trung nghiên cứu nhiều hơn nữa do tính kháng thuốc của vi khuẩn ngày càng tăng .

Thật ngạc nhiên là các đại dương với các hệ sinh thái đa dạng nhất trên hành tinh đã không được chú ý đến một cách thỏa đáng như một nguồn actinomycete đầy tiềm năng. Nhận thức được điều này, nhóm của Fenical đã mở đầu những nghiên cứu về các môi trường biển để tìm kiếm những vi sinh vật mới quan trọng trong những khám phá về dược học.

Nhóm của ông đã cải tiến các công cụ và phưong pháp mới để thu thập được nhiều hơn các loại cặn vẩn đại dương bao gồm các thiết bị thu mẫu được tối ưu hóa để bắt giữ có hiệu quả các mẫu từ vùng biển sâu. Các mẫu này có nguồn gốc từ đáy bùn ở độ sâu hơn 1000m từ Đại Tây dương và Thái Bình dương, biển Đỏ, Vịnh California. Họ cũng hoàn thiện các phương pháp mới để chọn lọc các mẫu này từ những vùng biển sâu (những mẫu này chứa khoảng hơn một tỷ vi sinh vật trên một centimet khối), nuôi cấy những vi sinh vật này, phân loại chúng bằng các kỹ thuật di truyền và đối chiếu các sản phẩm trao đổi chất của chúng với các đặc tính kháng sinh và chống ung thư.

Khuẩn actinomycete (Ảnh: soils.usda)
Qua nuôi cấy và phân tích di truyền, nhóm Fenical đã phát hiện ra một chủng mới có tên là Salinospora, một dạng của vi khuẩn actinomycete được tìm thấy ở những vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng chưa từng được tìm thấy ở đất liền.
Những nghiên cứu về sinh y của họ cho kết quả rất lạc quan. Trong số 100 chủng vi sinh vật trên được thử có 80% số chủng tạo ra các phân tử có khả năng kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư. Khoảng 30% có thể tiêu diệt nấm và vi khuẩn gây bệnh. Dựa trên sự phân bố rộng rãi của Salinospora nhóm Fenical dự đoán rằng có khoảng vài nghìn chủng tồn tại. Fenical nói “không có gì là quá đáng khi nói rằng hoạt tính sinh học như vậy trong một nhóm sinh vật đơn giản chưa từng được quan sát trước đây”.

Những khám phá này mới được Trường Đại học California cấp bằng sáng chế và công ty dược phẩm Nereus Pharmaceuticals Inc. mua bản quyền để sản xuất. Nereus là một công ty về công nghệ sinh học, mới có bốn năm tuổi tại San Diego, California chuyên phát triển các loại thuốc mới từ nhiều nguồn khác nhau.

Ông Kobi Sethna, chủ tịch hội đồng quản trị công ty Nereus Pharmaceuticals Inc. cho biết “Những khám phá mới về tại Viện nghiên cứu Scripps cùng với sự sản xuất của công ty Nereus có thể đưa đến một nguồn thuốc vô tận cho ngành công nghiệp dược phẩm trong thời gian tới” .

Fenical cho hay “Những khám phá này khẳng định một tương lai của việc tìm ra thuốc kháng sinh và chứng tỏ thực tế rằng đại dương là một nguồn vi sinh vật mới hấp dẫn và không thể đoán trước được. Điều này cũng cho hiểu biết của chúng ta còn ít ỏi đến mức nào và cần phải đầu tư vào việc nghiên cứu đại dương nhiều hơn nữa”.

Ngoài Fenical còn có các đồng tác giả trên các tạp chí bao gồm: Tracy Mincer, Paul Jensen, Christopher Kauffman, Robert Feling và Greg Buchanan.




Vi Sinh Vật là nguồn Dược liệu vô tận

"Chỉ cần có một cách nhìn khách quan và khẩn trương về chiến lược, một quyết tâm cao trong đầu tư và đào tạo, nhất định chúng ta sẽ có thể sản xuất ra được ngày càng nhiều các dược phẩm thế hệ mới ,thay thế dần cho việc nhập khẩu với giá rất cao như hiện nay"

Gần đây tôi có dịp đến thăm các cơ sở sản xuất dược liệu của nhiều Công ty Dược phẩm danh tiếng trên thế giới ở Đức ,ở Nhật và tôi thấy một tình hình hoàn toàn khác hẳn so với nhiều năm trước.Nếu như năm 1928 khi Fleming phát hiện ra Penicillin từ nấm Penicillium notatum thì phải sau 27 năm mới đưa được vào sản xuất với hiệu suất chỉ với hiệu suất có 40U/ml thì hiện nay hiệu suất này đã nâng lên đến 90000U/ml (U là đơn vi quốc tế), hơn nữa sản phẩm ban đầu chỉ có độ thuần khiết là 20% thì hiện nay đã đạt đến 99,9%. Công nghệ lên men không chỉ thay đổi với các nồi lên men khổng lồ mà từ công nghệ lên men từng mẻ (batch) mà đã chuyển sang lên men theo mẻ nhưng có bổ sung (fed batch), rồi tới lên men liên tục (chemostat) và gần đây là lên men chảy tràn (perfusion). Trong Hội thảo thường niên của các nhà vi sinh vật học Châu Á vào tháng 11 vừa qua (ACM4) tại Indonesia, GS Michâel Goodfellow (khách mời của Hội thảo ) đã cho biết hiện nay riêng về các chất kháng sinh người ta đã tìm thấy từ xạ khuẩn 8700 loại khác nhau (100 - 120 loại đã được sử dụng), từ vi khuẩn 2900 loại (10 - 12 loại đã được sử dụng ) và từ nấm 4900 loại (30 - 35 loại đã sử dụng). Ngoài ra đã phát hiện được rất nhiều loại sản phẩm trao đổi chất khác có hoạt tính sinh học và được phục vụ có hiệu quả cho nhiều lĩnh vực khác nhau (y học, trồng trọt, chăn nuôi, thú y, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp dầu mỏ, bảo vệ môi trường,,,). Trong số này có 900 sản phẩm từ xạ khuẩn, 1400 sản phẩm từ các vi khuẩn khác và 3700 sản phẩm từ nấm men và nấm sợi, nấm lớn.

Người ta không còn chú ý nhiều lắm đến việc chiết rút hoạt chất từ các cây thuốc, cũng không dồn sức vào việc tổng hợp theo con đường hóa học. Hiện thấy ở mọi Công ty toàn là các nồi lên men khổng lồ đang lên men tạo ra dược phẩm nhờ vi sinh vật, nhưng không phải là các vi sinh vật bình thường như trước đây mà toàn là các vi sinh vật mang ADN tái tổ hợp (recombinant ADN). Nguồn gen quý hiếm có thể lấy từ thực vật, từ động vật nhưng chủ yếu là nhận được từ các vi sinh vật đã được lựa chọn. Vi sinh vật dùng để tiếp nhận gen là những chủng đã được biết rất rõ về bộ gen (genom), chẳng hạn như một vài chủng Escherichia coli hay một vài chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae.


Về chuyển gen từ thực vật vào vi sinh vật có thể lấy ví dụ từ thuốc Artemisinin chống sốt rét.

Trong khi sốt rét đang là bệnh của 500 triệu trường hợp nhiễm ký sinh trùng sốt rét hàng năm thì người ta phát hiện được chất Artemisinin trong cây Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua). Cây này đã được trồng rộng rãi tại Trung Quốc, Việt Nam để chiết rút Artemisinin. Công trình nghiên cứu này tại Việt Nam đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên hiện nay vì giá thành của thuốc chiết rút từ Thanh hao hoa vàng là quá đắt cho nên người ta đã tiến hành tách được 2 gen từ cây này liên quan đến việc tổng hợp ra acid artemisinic. Acid này chỉ qua vài phản ứng hóa học sẽ dễ dàng chuyển thành Artemisinin. Sau đó người ta đã chuyển thành công 2 gen này vào tế bào men rượu (Saccharomyces cerevisiae). Việc đưa chủng nấm men mang gen tái tổ hợp sinh Artemisinin vào sản xuất trong các nồi lên men đã làm hạ giá thành xuống chỉ còn 10% so với phương pháp tách chiết từ Thanh hao hoa vàng và không còn cần tới đất để sản xuất cây này nữa (!). Đó là một thành tựu tuyệt vời của nhóm nghiên cứu ở trường Đại học Berkeley (California, Hoa Kỳ ) mới công bố tháng 4-2006 (Dae-Kyun Ro, et al., Nature, Vol. 440, 13 April 2006, 940-943; Towie, Narelle, Nature, Vol 440, 13 April 2006, 852-853).Phương pháp này đang được thử nghiệm sản xuất tại Viện vì một thế giới khỏe mạnh (Institute for OneWorld Health ), hợp tác với công ty Amyris Biotechnologies và với sự trợ giúp tới 42.6 triệu USD của tổ chức Bill and Melinda Gates Foundation. Hy vọng với sự sản xuất ở quy mô công nghiệp này thì nhiều bệnh nhân ở các nước nghèo mới có cơ hội được chữa trị dễ dàng bệnh sốt rét. Ông Jay Keasling và đồng nghiệp của nhóm nghiên cứu này đã dùng 3 giai đoạn để tạo nấm men rượu mang gen tái tổ hợp : giai đoạn đầu là thay đổi một số gen của nấm men bằng phương pháp gây đột biến để gia tăng việc sản xuất farnesyl pyrophosphate (FPP), giai đoạn hai là đưa gen amorphadiene synthase (ADS) của cây Thanh hao hoa vàng vào tế bào nấm men để tổng hợp FPP thành amorphadiene, và giai đoạn cuối là đưa gen cytochrome P450 của cây Thanh hao hoa vàng vào nấm men để oxid hóa qua 3 bậc chuyển amorphadiene thành acid artemisinic .

Về chuyển gen từ động vật thì có thể lấy việc sản xuất Insulin làm ví dụ : Insulin là một loại kích tố thuộc loại polypeptid do tụy tạng của người và động vật sinh ra. Thiếu insulin thì không duy trì được đường huyết, không tích lũy được glycogen và lipid, không điều hòa và khống chế được nhiều quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Theo Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) thì trên toàn cầu có ít nhất 171 triệu người bị bệnh tiểu đường, con số này sẽ có thể tăng lên gấp đôi (336 triệu) vào năm 2030. Tiểu đường týp I xảy ra do tuyến tụy không sản xuất đủ insulin. Tiểu đường týp II hay là loại bệnh không phụ thuộc vào insulin, xảy ra do cơ thể không sử dụng insulin một cách hiệu quả. Loại này chiếm 90% các trường hợp tiểu đường trên toàn cầu, phần lớn là hậu quả của tình trạng tăng cân và ít hoạt động thể lực. Trước đây để điều trị tiểu đường cần phải chiết xuất insulin từ tụy tạng bò hoặc lợn nên số lượng rất hạn chế và rất đắt. Insulin gồm 2 chuỗi polypeptid, chuỗi A gồm 21 axit amin, chuỗi B gồm 30 axit amin. Người ta đã tách được gen mã hóa chuỗi A và chuỗi B rồi phân biệt chuyển vào plasmid pBR322 của vi khuẩn E.coli để bắt chúng tổng hợp một cách độc lập ra 2 chuỗi này (gắn với galactosidase), sau đó dùng phương pháp phá thành tế bào và tinh chế 2 chuỗi , rồi ôxy hóa để gắn hai chuỗi này lại thành phân tử insulin nguyên vẹn. Gần đây còn có phương pháp lên men để tạo ra proinsulin sau đó chuyển hóa thành insulin. Từ năm 1982 Công ty Eli Lilly đã bán ra thị trường và doanh thu riêng về dược phẩm này năm 1992 đã lên đến 625 triệu USD (!). Tương tự như vậy là trên 50 dược phẩm quý giá được ra đời từ các tế bào mang gen tái tổ hợp đã được phê chuẩn trong điều trị: Đáng lưu ý là Kích tố sinh trưởng người (rhGH) với các sản phẩm như Humatrope của Lilly, Serostim của Serono; Kích tố Follicle-stimilating (FSH) của Pergonal; Nhân tố VIII với sản phẩm Kogenate của Bayer; Eythropoietin (EPO) với sản phẩm Epogen của Amgen; Nhân tố Granulocyte colony-stimulating (G-CSF) với sản phẩm Neupogen của Amgen của Neupogen; -galactosidase A với sản phẩm Fabrazyme của Genzym; Laronidase (rhIDU) với sản phẩm Aldurazyme Của BioMarin và Genzyme; Galsulfase (rhASB) với sản phẩm Naglazyme của BioMarin; DNAse Pulmozyme của Genetech; Tissue plasminogen activator (TPA) với sản phẩm Activase của Genetech; Glucocerebrosidase với sản phẩm Ceredase của Genzyme, Interferon-1a với sản phẩm Rebif của Serono, IF-1b với sản phẩm Betaseron của Schering, Insulin-like growth factor 1 (ILGf1)... Các vắcxin tái tổ hợp gen liên tiếp ra đời nhằm phòng chống có hiệu quả hơn các bệnh viêm gan B, viêm não Nhật Bản, sởi, dịch tả, bại liệt, dại, lở mồn long móng, sốt rét...Vắcxin chống viêm gan B bán được khá nhiều là sản phẩm Engerix của hãng SmithLline Beecham.

Các dược phẩm và vắcxin dựa trên Công Nghệ Sinh Học hiện đại được đưa ra thị trường trong giai đoạn 1982 - 1994 mỗi năm chỉ là 2-7 loại, có năm không có. Nhưng từ 1995 đến tăng lên 16 - 32 loại mỗi năm và năm 2005 có đến 85 sản phẩm mới. Tổng số các protein tái tổ hợp dùng làm dược phẩm đã lên đến 300 loại. Chúng có khối lượng nhỏ bé nhưng giá trị kinh tế rất cao. Năm 1999 cả thế giới chỉ sản xuất được cả thảy 1172921g ( hơn 1,17 tấn ) nhưng có giá trị tới 30 tỷ USD (!), năm 2004 thu được 6557118g (hơn 6,4 tấn), trị giá 43 tỷ USD. So với giá 1 tấn gạo thì đúng là một trời một vực. Riêng về Kháng thể đơn dòng (monoclonal antibody-Mab) hiện có tới 700 loại do 260 công ty sản xuất ra, 200 loại đã được thử nghiệm lâm sàng ở các mức độ khác nhau. Năm 1999 bán được 2,8 tỷ USD, năm 2004 bán được 9,8 tỷ USD. Nhu cầu thị trường năm 2002 là 863kg nhưng năm 2006 tăng lên đến 9,8kg.

Thông qua vài số liệu nói trên ta thấy ngành Dược trên thế giới đang mạnh mẽ chuyển dần sang sản xuất các sản phẩm dựa trên công nghệ ADN tái tổ hợp. Những nhà máy chiếm diện tích chẳng bao nhiêu, thiết bị chủ yếu vẫn là các nồi lên men như ở các nhà máy sản xuất bột ngọt , nhưng nhờ có các chủng vi sinh vật mang những gen tái tổ hợp quý giá mà càng ngày người ta càng sản xuất ra được nhiều loại dược phẩm có giá trị khoa học và giá trị kinh tế rất cao. Các phòng nghiên cứu của các Công ty dược phẩm tư nhân còn lớn hơn nhiều so với các Viện nghiên cứu của Nhà nước. Và cái quý giá nhất để tạo nên các sản phẩm này vẫn là các nguồn gen tìm kiếm được từ thế giới vô cùng phong phú của các loài vi sinh vật.

Đó cũng là con đường đi tất yếu của các nhà nghiên cứu Sinh học, Dược học và các công ty dược phẩm của nước ta. Chúng ta đang bị bỏ cách một khoảng quá xa, nhưng tính đa dạng vi sinh vật ở nước ta chẳng thua kém bất kỳ quốc gia nào, thiết bị sản xuất cũng không phải là quá đắt tiền. Chỉ cần có một cách nhìn khách quan và khẩn trương về chiến lược, một quyết tâm cao trong đầu tư và đào tạo, nhất định chúng ta sẽ có thể sản xuất ra được ngày càng nhiều các dược phẩm thế hệ mới ,thay thế dần cho việc nhập khẩu với giá rất cao như hiện nay. Việc chúng ta tự sản xuất trong nước được hai loại vắc xin phòng chống viêm gan B và viêm não Nhật Bản là các bằng chứng rất rõ rệt.


GS TS Nguyễn Lân Dũng-Theo duoclieuvietnam 

Xót lòng cảnh thuốc quý “tạm xuất” giá bèo, “tái nhập” giá cắt cổ

Khi mà ở Hà Nội, giá các loại dược liệu khi đến tay người tiêu dùng có thể lên đến hàng triệu đồng/kg thì ở Cao Bằng, một nghịch lý khác đang diễn ra: Các loại dược liệu dạng thô lại đang được khai thác tràn lan và xuất ngoại qua biên giới với giá thấp đến mức không thể tin được, có thể chỉ 500 đ/kg, sau đó có thể quay ngược trở lại thị trường Việt Nam với giá cao gấp hàng ngàn lần.
Dược liệu xuất ngoại giá... 500đ/kg.

Cách thị xã Cao Bằng khoảng 40km, sau 2 giờ xe chạy, xã Đức Xuân (huyện Thạch An) hiện ra với sự ồn ào khác thường. Tiếng Tày xen lẫn tiếng Kinh trong cái hối hả của những dòng người tải cây thuốc xuống núi. Người dẫn đường cho chúng tôi, BS. Đàm Thị Phượng (Trạm trưởng trạm y tế xã Đức Xuân), thở dài ngao ngán: "Các anh nhìn xem, cây thuốc quý vùng cao Cao Bằng đang bị tận diệt đến những nhánh cuối cùng để bán với mức giá rẻ mạt". BS Phượng chỉ tay về những chiếc ô tô đang gom hàng, khẳng định: Trung bình mỗi năm hàng trăm tấn dược liệu quý đã bị khai thác.

Người dân trở dược liệu đi bán

Bà Nông Thị Ca (53 tuổi, ngụ thôn Nà Pá, xã Đức Xuân), một người có thâm niên "đánh" thuốc quý qua Trung Quốc giãi bầy: "Chúng tôi có biết cây gì là thuốc và loại nào là quý đâu. Nhân một lần sang Trung Quốc chơi, bất ngờ thấy họ đưa ra mấy loại cây mẫu rồi ứng tiền cho tôi về thu gom. Không ngờ ở địa phương mình có thật, mà nhiều nữa là đằng khác". Và cứ thế, suốt 10 năm qua, gia đình bà Ca phất lên nhờ thu gom cây thuốc quý từ rừng núi đất nhà.

Theo bà Ca, trung bình mỗi năm, riêng gia đình bà đã thu gom, xuất khẩu trên 10 tấn dược liệu quý tự nhiên, trong đó kể đến các loại như: Kê huyết đằng, Na rừng, Chè rừng, Giảo Cổ Lam, Thổ Phục Linh... với mức giá từ 500 đ - vài nghìn đồng/kg. Giá dược liệu thô "bèo" đến mức người địa phương có cách tính tiền đặc trưng: "Mỗi kg thu được trả một tờ "đỏ" (tờ tiền mệnh giá 500 đồng - PV)". Sau khi các đầu nậu đánh hàng giao tận tay lái buôn người Trung Quốc, mỗi kg dược liệu sẽ có giá là một tờ "xanh" (tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng - PV). Tuy nhiên, khi đặt câu hỏi "Đưa các loại cây này sang bên kia biên giới để dùng vào việc gì?" thì ngay bà Ca cũng không biết.

Tận diệt thuốc quý.

Theo lương y Đinh Văn Hùng (ngụ xã Đức Xuân), đa số các cây thuốc được xuất sang Trung Quốc đều có nhiều công dụng đặc biệt trị bệnh như: sỏi thận, đường ruột, sốt rét, giảm đau, bổ huyết. Những người dân trong vùng đi thu gom hầu như đều không biết công dụng của các dược liệu này, chỉ biết nhổ về theo yêu cầu của các đầu nậu thu gom. Sau đó, các đầu nậu ở đây sẽ có trách nhiệm xin phiếu cửa rừng ở xã với nhóm lâm sản phụ.

BS. Hoàng Văn Bé, Chủ tịch Hội Đông y tỉnh Cao Bằng cho biết: Từ những năm 1970 về trước, cây thuốc trong tự nhiên của Cao Bằng đã được khai thác bán cho các tỉnh miền xuôi. Từ những năm 1980 đến nay, cây thuốc quý được bán sang Trung Quốc tràn lan. Nhiều huyện khác như Phục Hòa, Hà Quảng... cũng có tình trạng tương tự. Trung bình mỗi huyện có từ 5 - 10 điểm thu mua quy mô lớn và nhiều điểm thu mua nhỏ lẻ.

Một điểm tập kết thu mua dượcliệu xuất khẩu ở Cao bằng
Cũng theo BS. Bé, ngoài các cây thuốc của địa phương có trong dược điển, các lái buôn người Trung Quốc còn thu mua những cây thuốc mà chúng ta chưa biết hiểu hết công dụng của nó. Các loại cây thuốc được khai thác dưới nhiều hình thức, tùy thuộc vào bộ phận thu mua, như đào lấy củ, nhổ cả gốc rễ, có khi lấy toàn bộ kể cả khi cây đang có hoa, nên cây thuốc không còn khả năng phát tán để bảo tồn tự nhiên. Trước đây các lương y có thể hái được nguyên liệu làm  thuốc xung quanh nhà, cây thuốc quý mọc rất nhiều, nhưng đến nay tìm khắp vùng, cả rừng cũng chẳng còn nữa.

Không giấu nổi sự lo lắng trên khuôn mặt, ông Trần Văn Tuyến, Chủ tịch Hội đông y huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) cho biết: Các loại dược liệu bị thu mua khai thác mà không có một cơ quan chức năng nào kiểm soát, đánh giá được mức độ tàn phá đối với môi trường tự nhiên. Có những loại dược liệu coi như bị khai thác đến cạn kiệt, có khả năng tuyệt chủng như: Hoàng đàn, Dây trầm (ở huyện Yên Định, Hữu Liên); củ Ba Kích (Đô Lương); Đỗ trọng nam (Hòa Sơn) và Kim ngân ở Yên Thịnh. "Đến nay một số dược liệu quý chỉ còn là tiêu bản trong phòng thí nghiệm", ông Tuyến xót xa.

"Kho báu" bị lãng quên?

Theo TSKH. Trần Công Khánh, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây thuốc dân tộc cổ truyền (CREDEP), Việt Nam được xếp thứ 16 trên 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới. Nhiều nhóm sinh vật có tính đặc hữu cao, có giá trị khoa học và thực tiễn. Nếu so sánh với khoảng 20.000 loài cây làm thuốc đã biết trên thế giới, thì số loài cây thuốc ở Việt Nam chiếm 19%. Đó là chưa kể tới hàng ngàn loài cây thuốc gia truyền của 53 dân tộc thiểu số mà các nhà khoa học mới chỉ biết một phần.

Lý giải vì sao cây thuốc quý ở Việt Nam đang rơi vào tình trạng báo động, TSKH. Khánh cho biết: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó phải kể đến sự thiếu ý thức của những người chuyên vào rừng tìm kiếm, khai thác bừa bãi tài nguyên thiên nhiên, sự hiểu biết chưa đầy đủ về bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc, kể cả cách sử dụng rất lãng phí. Ngoài ra, một điều cần chú ý nữa là do tình hình thi hành pháp lệnh bảo vệ rừng chưa nghiêm nên nhiều khu rừng vẫn bị chặt phá và khai thác bừa bãi.

Theo TS. Trần Văn ơn, Trưởng bộ môn Thực vật (Trường ĐH Dược Hà Nội), mấu chốt của vấn đề là do sự quan tâm của các nhà quản lý chưa đúng mức. Ngay cả những nhà khoa học trong lĩnh vực đông y cũng chưa có những nghiên cứu cụ thể để đưa ra những cảnh báo cho người dân về sự quý hiếm của các cây thuốc, và việc lợi ích của việc gìn giữ các loại cây này. Từ đó, mới đưa ra một hoạch định trong việc bảo tồn, nhân giống và phát triển cây thuốc gắn liền với lợi ích, thu nhập của người dân.

Vì sao dược liệu quý ào ào vượt biên mà không có sự quản lý của cơ quan chức năng? ông Hoàng Văn Bằng, Phó phòng Nghiệp vụ, Chi cục Hải quan Cao Bằng cho rằng cây thuốc là loại lâm sản phụ và chiểu theo quy định hiện hành thì việc khai thác các loại lâm sản phụ thuộc phạm vi thẩm quyền của các chủ rừng, còn việc mua bán, xuất khẩu các loại lâm sản trên địa bàn tỉnh về nguồn gốc cơ bản là hợp pháp, đều có xác nhận nguồn gốc và chủng loại, có nộp thuế tài nguyên theo quy định. Vì thế, muốn ngăn chặn tình trạng này, cần phải đưa ra một danh mục hạn chế hoặc cấm xuất khẩu thì mới mong hạn chế được phần nào.

Còn theo đại diện Chi cục kiểm lâm Cao Bằng, đối với lâm sản phụ thuộc loại quý hiếm cấm không được khai thác phục vụ mục đích thương mại (quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ) thì "cho đến tháng 5/2010 Cao Bằng chưa phát hiện vụ nào được mua bán, vận chuyển qua biên giới. Còn việc khai thác và trao đổi tại địa phương, gần như chưa quản lý thống kê".

Vì thế, suốt nhiều năm qua, cây thuốc quý cứ lặng lẽ kéo nhau qua biên giới mà chẳng ai ngăn cản. BS. Bé mong mỏi: "Các cơ quan chức năng cần sớm có biện pháp ngăn chặn tình trạng này, khi còn chưa muộn".  

Rừng Nam Cát Tiên 2011

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Thành phần Limonene trong tinh dầu vỏ cam, bưởi - Nhóm chất hóa học thực vật phòng chống ung thư

Có khá nhiều thành phần không dinh dưỡng trong cây như: Flavonoids, Isoflavonoids, Phytoestrogens, Isothiocyanates, Diallylsulffide, Tea polyphenol và Monoterpene Limonene, đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh khả năng phòng chống một số loại ung thư.



Quá trình trao đổi các thông tin khoa học về vai trò của các thành phần và các tác nhân trên trong tác động phòng ngừa ung thư đã luôn được sự chú ý quan tâm của cộng đồng. Năm 1983, Wattenberg Lw. (1) trong thử nghiệm trên chuột chủng Sprague – Dawley có sử dụng lượng tinh dầu vỏ cam với 5% limonene đã xác định khả năng ức chế sự phát triển khối u của ung thư vú khi cho sử dụng DMVA (7,12 dimethybenz[a] anthracene), hoá chất gây khối u vú. Ngoài ra, khi sử dụng khẩu phần ăn trên động vật có chứa limonene trong tinh dầu vỏ cam đã được các  nhà khoa học  chứng minh sự tác động ức chế phát triển của dòng tế bào ung thư tụy PC-1 trên chuột túi má Syrian (2), ức chế sự phát sinh ung thư gan (3) và phổi cả ở giai đoạn khởi đầu và giai đoạn tiến triển (4), ức chế sự phát triển khối u nhú và canxinôm trên chuột cái chủng A/J khi luồn ống qua miệng cho chuột tinh dầu có chứa limonene 1 giờ trước khi sử dụng NDEA (N-nitrosodiethylamine).

Mục tiêu: Nhằm nghiên cứu chiết xuất tinh dầu vỏ cam (Bố Hạ) và bưởi (Hưng Yên, loại ngọt), phân tích định lượng, thành phần limonene trong tinh dầu vỏ cam, bưởi bằng sắc ký khí khối phổ (GC/MS).

Phương pháp: Chiết xuất tinh dầu bằng cách ép lạnh, không sử dụng nhiệt vỏ cam có tên khoa học: Citrus sinensis L.Osbeck, họ RUTACEAE, và bưởi tên khoa học: Citrus maxima C.grandis, Fummelo, Shaddock. K iểm tra phân tích bán định lượng thành phần Limonene bằng thiết bị sắc ký khí khối phổ có cột SPB1 0,25mmx30.

Vận tốc khí 0,7ml, chương trình nhiệt độ 75oC trong 8 phút, tăng nhiệt độ lên 200oC (4oC/phút, giữ 8 phút). Tổng cộng thời gian chạy (run time): 47,25 phút.

Nhiệt độ bơm nạp (injector) 250oC, nhiệt độ detector MS 280oC, tỷ lệ chia dòng (Split ratio) 300:1, lượng mẫu bơm 0,5ml.

Kết quả: Tinh dầu vỏ cam có màu vàng đậm, mùi thơm đặc trưng của phần vỏ quả và tinh dầu vỏ bưởi có màu vàng nhạt, mùi gỗ nhẹ. Không có vị đắng hoặc có vị đắng nhẹ (do thành phần hoá học của tinh dầu có chứa terpene), cay, ngọt, có tính sát trùng và phản ứng trung tính với giầy quỳ.
Kết quả bán định lượng phát hiện limonene trong tinh dầu cam, bưởi trên máy sắc ký khí khối phổ GC/MS theo thứ tự là: 92,02% và 91,88%.

Kết luận: Tinh dầu vỏ cam, bưởi có thành phần limonene cao với hoạt tính có  khả năng ức chế phòng chống ung thư, đã được xác định trong các thử nghiệm gây tác động sinh khối u tại vú trên động vật khi sử dụng DMBA; NDEA. Do đó rất cần sự hợp tác quốc tế để tăng khả năng khai thác phát triển gieo trồng loại cam, bưởi ngọt có chất lượng cao và phân tích các thành phần có hoạt tính sinh học quý ứng dụng được trên cơ thể động vật và cơ thể người vì sức khoẻ bền vững và phòng bệnh mạn tính.