Kiểm nghiệm vi học Bạch chỉ-Angelica dahurica

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

2.2.1. Bạch chỉ

Radix Angelicae dahuricae

 Rễ đã phơi hay sấy khô của cây Bạch chỉ (Angelica dahurica  (Fisch. ex Hoffm.) Benth. et Hook. f.), họ Cần (Apiaceae).     
Mô tả cây
Cây cỏ, cao 0,5 - 1m hay hơn, sống lâu năm, thân hình trụ, rỗng, không phân nhánh. Lá to, có cuống, phần dưới phát triển thành bẹ ôm lấy thân, phiến lá xẻ 2 - 3 lần lông chim, mép khía răng, có lông ở gân lá mặt trên. Cụm hoa tán kép, mọc ở ngọn, hoa nhỏ màu trắng. Quả bế, dẹt, toàn cây có  mùi thơm.
Đặc điểm dược liệu
Rễ nguyên, ít khi phân nhánh, thẳng hoặc hơi cong, đầu trên mang vết tích của cổ rễ, đầu dưới nhỏ dần, mặt ngoài vàng nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc, có dấu vết của rễ con và nhiều chỗ sần sùi nhô lên. Chất cứng chắc, khó bẻ, vết bẻ nhiều bột, mùi hắc, vị hơi cay.
Đặc điểm vi phẫu
Mặt cắt rễ tròn. Từ ngoài vào trong có: Lớp bần gồm những tế bào hình chữ nhật có vách dày xếp thành các vòng đồng tâm và dãy xuyên tâm. Mô mềm vỏ cấu tạo từ những tế bào thành mỏng, hình nhiều cạnh, rải rác có các khuyết, các tế bào ở phía ngoài thường bị ép bẹt. Libe tạo thành các bó sít nhau. Trong libe rải rác có các ống tiết. Tầng phát sinh libe - gỗ tạo thành vòng rất rõ. Các mạch gỗ lớn tập trung thành các dãy hướng tâm trong mô mềm gỗ không hoá gỗ. Tia tuỷ rộng gồm 5 - 10 dãy tế bào.
Đặc điểm bột dược liệu
Bột màu trắng ngà, mùi hắc, vị cay hơi đắng. Soi kính hiển vi thấy rất nhiều hạt tinh bột hình tròn hoặc hình khối nhiều mặt, riêng lẻ (2) hay tập trung thành đám trong tế bào mô mềm (1), các mảnh mạch mạng hoặc mạch vạch (3), rải rác có các mảnh bần.
Ghi chú
Y học cổ truyền nước ta có sử dụng vị dược liệu mang tên Bạch chỉ nam, là rễ của cây Bạch chỉ nam (Millettia pulchra Kurz.), họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang nhiều ở các vùng rừng núi phía Bắc. Bạch chỉ nam dùng cùng một số vị thuốc khác chữa đau bụng, đi ngoài. Chú ý phân biệt.

Kiểm nghiệm vi học dược liệu chứa tinh bột

2.1. DƯỢC LIỆU CHỨA CARBOHYDRAT


2.1.1. Tinh bột Dong riềng
Tinh bột lấy từ thân rễ cây Dong riềng (Canna edulis Ker. Gawl.), họ Khoai riềng (Cannaceae).
Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột hình trứng, vòng đồng tâm thấy rõ xung quanh rốn hạt, là tinh bột có kích thước hạt lớn nhất: 70 -130μm 
Chú ý:  Cây Dong riềng còn gọi là cây Khoai riềng, Củ đao, Củ đót.
2.1.2. Bột Đậu xanh
Bột lấy từ hạt Đậu xanh (Phaseolus aureus Roxb.) họ Đậu (Fabaceae).
Bột trắng ngà. Soi kính hiển vi thấy hạt tinh bột hình trứng hay hình thận kích thước khoảng 30 - 40μm, rốn thường là một đường có phân nhánh
2.1.3. Bột Gạo
Bột lấy từ quả hay "hạt" Gạo tẻ (Oryza sativa L.), họ Lúa (Poaceae).
Bột màu trắng. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột hình đa giác có rốn rõ. Các hạt kích thước 3 - 9µm thường kết lại với nhau thành đám
2.1.4. Tinh bột Hoài sơn
Tinh bột lấy từ thân rễ cây Củ mài (Dioscorea persimilis Prain et Burkill), họ Củ nâu (Dioscoreaceae).
Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột hình chuông kích thước 30 - 80µm. Rốn là một điểm, các vòng đồng tâm thấy rõ
2.1.5. Tinh bột Khoai lang
Tinh bột lấy từ rễ củ Khoai lang (Ipomoea batatas Lamk.), họ Bìm bìm (Convolvulaceae).
Bột màu trắng. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột đơn hay kép đôi, hình dạng thay đổi. Rốn hạt hình sao hay phân nhánh, vân đồng tâm thấy rõ ở những hạt tròn. Kích thước hạt to nhỏ không đều 10 - 50µm
2.1.6. Tinh bột Khoai tây
Tinh bột lấy từ củ Khoai tây (Solanum tuberosum L.), họ Cà (Solanaceae).
Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy những hạt tinh bột hình trứng riêng lẻ kích thước khoảng 30 - 100µm, hạt tròn, nhỏ 10 - 35µm, thỉnh thoảng có những hạt kép do 2 hay 3 hạt đơn ghép lại. Rốn là một điểm ở đầu hẹp, vòng đồng tâm thấy rõ xung quanh rốn
2.1.7. Tinh bột Mì
Tinh bột lấy từ quả hay "hạt" Lúa mì (Triticum sativum Lamk.), họ Lúa (Poaceae).
Bột màu trắng hay trắng ngà. Soi kính hiển vi thấy nhiều hạt tinh bột nhỏ hình tròn hay đa giác kích thước 2 - 6µm, nhiều hạt tinh bột lớn hình tròn kích thước 30 - 40µm, ít hạt có kích thước trung gian, các hạt không nhìn rõ rốn và vân
2.1.8. Tinh bột Ngô
Tinh bột lấy từ quả hay "hạt" Ngô (Zea mays L.), họ Lúa (Poaceae).
Bột màu vàng nhạt. Soi dưới kính hiển vi thấy các hạt tinh bột hình tròn, hình đa giác kích thước khoảng 10 - 30µm, rốn có thể phân nhánh, vân không rõ
2.1.9. Tinh bột Sắn
Tinh bột lấy từ rễ củ Sắn (Manihot utilissima Pohl.), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy những hạt tinh bột tròn kích thước 5 - 25µm. Rốn hình sao, vân không rõ
2.1.10. Tinh bột Sắn dây
Tinh bột lấy từ rễ củ Sắn dây (Pueraria thomsoni Gagnep.), họ Đậu (Fabaceae).
Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột đơn, kép đôi hay kép ba hình dạng thay đổi. Nhiều hạt hình tròn hay một đầu tròn kích thước 4 - 12µm. Rốn nhìn rõ, vân không rõ
2.1.11. Bột hạt Sen
Bột lấy từ hạt cây Sen (Nelumbium speciosum Gaertn.), họ Sen (Nelumbonaceae).
Bột màu trắng ngà. Soi dưới kính hiển vi thấy các hạt tinh bột đơn, kép đôi, kép ba, hình dạng khác nhau, nhiều hạt hình thận. Kích thước hạt 10 - 25µm
2.1.12. Bột Ý dĩ
Bột lấy từ hạt của cây Ý dĩ  (Coix lachryma-jobi L.), họ Lúa (Poaceae).
Bột màu trắng ngà. Soi kính hiển vi thấy hạt tinh bột hình đĩa kích thước 5 - 20µm, rốn hạt thường phân nhánh, vân hạt không rõ
Chú ý:  Ý dĩ  thường bị giả mạo bởi hạt Cao lương (Sorghum vulgare Pers.)

Tinh bot
Tinh bột

Xác định các chất chiết được trong dược liệu

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2012

2.5. Xác định các chất chiết được trong dược liệu (DĐVN IV, PL 12.10; PL-239)

 

5.1. Phương pháp xác định các chất chiết được bằng nước

Phương pháp chiết lạnh: Nếu không có chỉ dẫn đặc biệt trong chuyên luận riêng, cân chính xác khoảng 4,000g bột dược liệu có cỡ bột nửa thô cho vào trong bình nón 250 - 300ml. Thêm chính xác 100,0ml nước, đậy kín, ngâm lạnh, thỉnh thoảng lắc trong 6 giờ đầu, sau đó để yên 18 giờ. Lọc qua phễu lọc khô vào một bình hứng khô thích hợp. Lấy chính xác 20ml dịch lọc cho vào một cốc thủy tinh đã cân bì trước, cô trong cách thủy đến cắn khô. Sấy cắn ở 1050C trong 3 giờ, lấy ra để nguội trong bình hút ẩm 30 phút, cân nhanh để xác định khối lượng cắn sau khi sấy, tính phần trăm lượng chất chiết được bằng nước theo dược liệu khô.
Phương pháp chiết nóng: Nếu không có chỉ dẫn đặc biệt trong chuyên luận riêng, cân chính xác khoảng 2,000 - 4,000g bột dược liệu có cỡ bột nửa thô cho vào bình nón 100ml hoặc 250ml. Thêm chính xác 50,0ml hoặc 100,0ml nước, đậy kín, cân xác định khối lượng, để yên 1 giờ, sau đó đun hồi lưu trong cách thủy 1 giờ, để nguội, lấy bình nón ra, đậy kín, cân để xác định lại khối lượng, dùng nước để bổ sung phần khối lượng bị giảm, lọc qua phễu lọc khô vào một bình hứng khô thích hợp. Lấy chính xác 25,0ml dịch lọc vào một cốc thủy tinh đã cân bì trước, cô trong cách thủy đến cắn khô, cắn thu được sấy ở 1050C trong 3 giờ, lấy ra để nguội trong bình hút ẩm 30 phút, cân nhanh để xác định khối lượng cắn. Tính phần trăm lượng chất chiết được bằng nước theo dược liệu khô.

5.2. Phương pháp xác định các chất chiết được bằng ethanol hoặc methanol

Dùng các phương pháp tương tự như phương pháp xác định các chất chiết được bằng nước. Tùy theo chỉ dẫn trong chuyên luận riêng mà dùng ethanol hoặc methanol có nồng độ thích hợp để thay nước làm dung môi chiết. Với phương pháp chiết nóng thì nên đun trong cách thủy nếu dung môi chiết có độ sôi thấp.

Xác định độ ẩm trong duợc liệu

4. Xác định độ ẩm trong duợc liệu

 

Độ ẩm là lượng nước chứa trong 100g dược liệu. Dược liệu tươi thường chứa một lượng nước rất lớn: lá chứa khoảng 60 - 80% nước, thân và cành chứa khoảng 40 - 50% nước. Không có một dược liệu nào đạt độ khô tuyệt đối (độ ẩm 0%), nhưng đối với mỗi dược liệu đều được quy định một độ ẩm an toàn. Để bảo quản tốt, dược liệu cần có độ ẩm bằng hoặc dưới độ ẩm an toàn.
Xác định độ ẩm là công việc đầu tiên phải làm khi tiến hành xác định chất lượng một dược liệu. Hàm lượng các hoạt chất như tinh dầu, chất béo, alcaloid, glycosid, … đều được quy định tính trên trọng lượng khô tuyệt đối của dược liệu. Việc xác định độ ẩm còn được tiến hành định kỳ hàng năm 2 lần trong các đợt kiểm kê dược liệu theo quy định của nhà nước.
* Các phương pháp xác định độ ẩm

4.1. Phương pháp sấy

Dược liệu là lá, rễ, thân cần được chia nhỏ trước khi xác định độ ẩm. Dược liệu là nụ hoa, hạt nhỏ có thể tiến hành xác định trực tiếp mà không cần chia nhỏ.
Cho vào chén cân dùng để xác định độ ẩm, có nắp và đã được cân bì trước 5 - 10g dược liệu. Chén cân cần có kích thước thích hợp để lớp dược liệu cho vào không dày quá 5mm.
Cho chén chứa dược liệu (đã mở nắp) vào tủ sấy, sấy ở nhiệt độ 100 - 105oC trong 1 giờ.
Cho chén vào bình hút ẩm đến khi nguội.
Đậy nắp và cân.
Làm lại nhiều lần đến khi chênh lệch trọng lượng giữa 2 lần cân không vượt quá 0,5mg.
Độ ẩm (X%) của dược liệu được tính theo công thức sau:

P: Số gam của mẫu thử trước khi sấy
A: Số gam của mẫu thử sau khi sấy

4.2. Phương pháp dùng dung môi (DĐVN IV, PL 12.13; PL-240)

Phương pháp này có thể áp dụng để xác định độ ẩm cho tất cả các dược liệu. Riêng với dược liệu chứa tinh dầu có hàm lượng tinh dầu lớn hơn 2% thì bắt buộc phải sử dụng phương pháp dung môi để xác định độ ẩm.
Phương pháp tiến hành
* Dụng cụ (Hình 4.2)

Dụng cụ xác định hàm lượng nước bằng phương pháp cất với dung môi
Hình 4.2. Dụng cụ xác định hàm lượng nước bằng phương pháp cất với dung môi
Dụng cụ gồm bình cầu A, được nối với ống sinh hàn C qua bộ phận “xác định lượng nước”. Bộ phận này bao gồm bầu ngưng tụ B, bộ phận chia vạch E và ống dẫn hơi D. Bộ phận chia vạch được chia độ đến 0,1ml. Sau quá trình cất, nước sẽ ngưng tụ ở đây. Vì vậy ta có thể đọc được dễ dàng lượng nước chứa trong dược liệu đem thử. Nguồn nhiệt thích hợp là bếp điện có biến trở hoặc đun cách dầu.
* Cách tiến hành
a) Cho vào bình cầu (đã được làm khô) 200ml toluen hoặc xylen, 2ml nước. Lắp dụng cụ (đã được sấy khô). Cất khoảng 2 giờ, để nguội trong 30 phút rồi đọc thể tích nước cất được ở ống hứng (V1) chính xác đến 0,05ml.
b) Thêm vào bình cầu một lượng mẫu thử đã cân chính xác tới 0,01g có chứa khoảng 2 - 3ml nước. Thêm vài mảnh đá bọt (nếu cần). Đun nóng nhẹ, khi toluen đã bắt đầu sôi thì điều chỉnh nguồn cấp nhiệt để cất với tốc độ 2 giọt dịch cất trong 1 giây. Khi đã cất được phần lớn nước sang ống hứng thì nâng tốc độ cất lên 4 giọt dịch cất trong 1 giây. Tiếp tục cất cho đến khi mực nước cất được trong ống hứng không tăng lên nữa.
Dùng 5 - 10ml  toluen rửa ống sinh hàn rồi cất thêm 5 phút nữa. Sau đó, tách bộ cất ra khỏi nguồn cấp nhiệt, để cho ống hứng nguội đến nhiệt độ phòng. Nếu còn có những giọt nước đọng lại trên thành ống sinh hàn thì dùng 5ml toluen để rửa kéo xuống. Khi lớp nước và lớp toluen đã được phân tách hoàn toàn, đọc thể tích nước trong ống hứng (V2).
Độ ẩm (X%) của dược liệu được tính theo công thức sau:

V1: số ml nước cất được sau lần cất đầu
V2: số ml nước cất được sau lần cất thứ hai
p: số gam mẫu đã cân đem thử

Lưu ý: Toluen là dung môi dễ cháy vì vậy nguồn nhiệt phải là bếp điện kín, tránh lửa trong phòng thí nghiệm.

Xác định tạp chất lẫn trong dược liệu

1.2.3. Xác định tạp chất lẫn trong dược liệu (DĐVN IV, PL 12.11, PL-239)

 

Tạp chất lẫn trong dược liệu bao gồm tất cả các chất ngoài quy định của dược liệu đó như: đất, đá, rơm rạ, cây cỏ khác, các bộ phận khác của cây không quy định làm dược liệu, xác côn trùng, …
Cân một lượng mẫu vừa đủ đã được chỉ dẫn trong chuyên luận, dàn mỏng trên tờ giấy, quan sát bằng mắt thường hoặc kính lúp, khi cần có thể dùng rây để phân tách tạp chất và dược liệu.
Cân phần tạp chất và tính phần trăm tỷ lệ tạp chất (X%) theo công thức sau:

a: khối lượng tạp chất tính bằng gam;
p: khối lượng mẫu thử tính bằng gam.
Ghi chú:
Trong một số trường hợp nếu tạp chất rất giống với thuốc, có thể phải làm các phản ứng định tính hóa học, phương pháp vật lý hoặc dùng kính hiển vi để phát hiện tạp chất. Tỷ lệ tạp chất được tính bao gồm cả tạp chất được phát hiện bằng phương pháp này.
Lượng mẫu lấy để thử nếu chuyên luận riêng không quy định thì lấy như sau:
Hạt và quả rất nhỏ (như hạt Mã đề):             10g
Hạt và quả nhỏ:                                            20g
Dược liệu thái thành lát:                               50

Xác định tỷ lệ vụn nát của dược liệu

1.2.2. Xác định tỷ lệ vụn nát của dược liệu (DĐVN IV, PL 12.12; PL-240)

 

Cân một lượng dược liệu nhất định (p gam) đã được loại tạp chất. Rây qua rây có số quy định theo chuyên luận riêng. Cân toàn bộ phần đã lọt qua rây (a gam).
Tính tỷ lệ vụn nát (X%) (từ kết quả trung bình của ba lần thực hiện) theo công thức:
Ghi chú:
Lượng dược liệu lấy để thử (tuỳ theo bản chất của dược liệu) từ 100 - 200g.
Đối với dược liệumỏng manh thì chỉ lắc nhẹ, tránh làm vụn nát thêm.
Phần bụi và bột vụn không phân biệt được bằng mắt thường được tính vào mục tạp chất.

Lấy mẫu dược liệu

1.2.1. Lấy mẫu dược liệu (DĐVN IV, PL 12.1; PL-231)


Lấy mẫu dược liệu là việc lựa chọn, thu thập các mẫu dược liệu cho việc kiểm tra chất lượng.
Mức độ đại diện của các mẫu dược liệu được lấy có ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác và độ đúng của việc kiểm tra.
Các yêu cầu chung về việc lấy mẫu dược liệu như sau:

a) Kiểm tra trước khi lấy mẫu:

Kiểm tra đối chiếu tên và nguồn gốc nguyên liệu; kiểm tra đặc điểm và hình dạng bao gói; kiểm tra sự nguyên vẹn, sạch sẽ, mức độ nhiễm mốc và tạp chất lạ của bao bì. Các bao gói không bình thường cần được kiểm tra riêng một cách kỹ càng. Ghi chép chi tiết kết quả kiểm tra.

b) Cách thức lấy mẫu:

Tổng số bao gói dưới 5: lấy mẫu từng bao gói.
Dưới 100: lấy mẫu 5 bao gói.
Từ 100 đến 1000: lấy mẫu 5% tổng số bao gói.
Trên 1000: lấy 50 bao gói cộng thêm số bao gói bằng 1% của tổng số bao gói vượt quá so với 1000 bao gói.
Dược liệu quý: lấy mẫu từng bao gói, không kể số lượng các bao gói.
Dược liệu được lấy ở trên, giữa và cuối của mỗi bao gói bằng các phương tiện thích hợp (đối với bao gói lớn thì lấy sâu 10cm dưới bề mặt của bao gói).
Đối với thuốc có kích thước lớn thì lấy mẫu đại diện thích hợp.

c) Khối lượng mẫu lấy:

Nếu lượng dược liệu dưới 5kg thì số lượng mẫu được lấy không ít hơn 3 lần số lượng đem thử nghiệm. Nếu lượng dược liệu lớn hơn 5kg thì số lượng mẫu lấy được xác định như sau:
Thuốc thông thường:            250 - 500g
Thuốc bột:                           200g
Thuốc quý:                             5 - 10g (trừ khi có chỉ dẫn khác trong chuyên luận riêng).

d) Tạo mẫu đồng nhất:

Mẫu sau khi lấy được trộn đều để có một mẫu đồng nhất dùng cho thử nghiệm. Nếu khối lượng mẫu đồng nhất lớn hơn vài lần so với mẫu thử nghiệm thì làm một mẫu trung bình.
Nếu dược liệu có kích thước mẫu nhỏ thì lấy một mẫu trung bình bằng phương pháp chia 4 như sau:
San bằng mẫu thành hình vuông, chia mẫu theo 2 đường chéo thành 4 phần bằng nhau. Lấy 2 phần đối diện và trộn đều. Làm lại thao tác chia 4 cho đến khi thu được số lượng vừa đủ để làm mẫu thử và mẫu lưu. Trong trường hợp các dược liệu có kích thước lớn thì lấy mẫu trung bình bằng phương pháp khác thích hợp. Khối lượng của mẫu đồng nhất hoặc mẫu trung bình không ít hơn 3 lần số lượng của mẫu đem thử nghiệm. Lượng mẫu này được chia làm 3 phần, 1/3 dùng để phân tích, 1/3 để kiểm tra và số còn lại làm mẫu lưu giữ lại ít nhất 01 năm.