Bào chế vị thuốc Ô DƯỢC Lindera myrrha (Lour) Merr.; Họ long não (Lauraceae)

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Ô DƯỢC


Tên khoa học: Lindera myrrha (Lour) Merr.; Họ long não (Lauraceae)
Bộ phận dùng: Rễ. Rễ như đùi gà (ô dược đùi gà) khô mập chỗ to nhỏ không đều, rắn chắc, vỏ nâu, thịt vàng ngà, sạch rễ, không mọt, trơn nhẵn, có hương thơm là tốt.
Ở miền Nam có cây cũng được gọi là ô dược, cây rất to, gỗ làm bàn ghế, nhựa làm nhang, rễ dùng làm thuốc cần nghiên cứu thêm.
Thành phần hóa học: (của cây ô dược Trung Quốc, Lindera strychnifoliaWill): có alcaloid (Linderan, Linderen v.v…).
Tính vị - quy kinh: Vị cay, tính ôn. Vào bốn kinh tỳ, vị, phế và thận.
Tác dụng: Thuận khí, ôn trung; làm thuốc trị trúng phong, trúng khí.
Chủ trị: Đau bụng, tiêu hóa kém, ngực tức đầy, nôn mửa, cắt cơn đau.
Liều dùng: Ngày dùng 8 - 16g.
Kiêng kỵ: Khí hư, tạng nhiệt thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Hái thứ rễ xung quanh có từng đốt nôi liền nhau (rễ đuôi chuột không dùng), bỏ vỏ lấy lõi, sao qua hoặc mài.
Lấy rễ khô ngâm nước một ngày, vớt ra ủ cho mềm thấu, thái lát, phơi khô hoặc mài.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Rửa sạch, ủ đến mềm thấu, để ráo, xóc với giấm, thái lát phơi khô.
- Ngâm một đêm, rửa sạch, thái mỏng (khó bào), phơi khô (thường dùng).
- Tại Viện Đông y: ngâm 1 - 2 giờ, rửa sạch, ủ mềm thấu, thái mỏng, phơi khô.
- Có khi rửa sạch, phơi khô, khi dùng đem mài lấy 2 - 4g pha với nước thuốc thang đã sắc để uống. Nếu mài thì rất lâu, do vậy nên tán bột mịn, khi dùng uống với nước thuốc thang.
Bảo quản: Dễ mốc mọt nên cần để nơi khô ráo thoáng gió.

Bào chế nhung hươu nai Coruu cervi parvum

NHUNG

Tên khoa học: Coruu cervi parvum
Bộ phận dùng: Hươu và nai đực mới có sừng. Vào cuồi mùa hạ, sừng nó rụng đi; đầu mùa xuân sang năm, sừng non mọc lên. Sừng non khi mới mọc chừng 5 - 20cm rất mềm, mặt ngoài phủ đầy lông tơ màu nâu nhạt, trong có rất nhiều mạch máu và phát triển rất mau lẹ để thành sừng(gạc) không còn lông da nữa.
Nhung tốt nhất là thứ chưa phân yên, khổ mềm, thái được toàn bộ, không có xương tảng, không nứt.
Nhung đã mọc được một chi đúng phân yên thì đã kém, nếu chi đã hơi dài thì lại càng kém giá trị.
Ở miền Bắc nước ta và Trung Quốc cho nhung hươu (lộc nhung) tốt hơn nhung nai (mê nhung); ở miền Trung nước ta và Triều Tiên thì lại chuộng nhung nai hơn vì to hơn. Có người lại cho nhung hươu rừng tốt hơn nhung hươu nuôi. Mới đây ở Liên Xô người ta chứng minh nhung hươu nhà có giá trị như nhung hươu rừng.
Thành phần hóa học: Có nội tiết tố (hormon) gọi là nhung tinh, ở Liên Xô, người ta lấy chất này làm thuốc tiêm, thuốc uống pantocrin; ngoài ra còn có calci phosphat, calci cacbonat, protein, chất keo v.v…
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, hơi mặn, tính ôn. Vào kinh thận, tâm, can và tâm bào.
Tác dụng – công dụng: Bổ nguyên dương, thuốc tư bổ cường tráng trị hư hao, đau lưng, mỏi gối, mỏi chân tay.
Liều dùng: Ngày dùng 3 - 6g (nhung phiến hoặc bột nhung).
Kiêng kỵ: người bệnh hư hàn thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Chế biến nhung tươi:
Lúc cắt nhung phải đảm bảo vô trùng, dùng cưa hay dao thật bén mà cắt, đầu treo ngược để khỏi chảy máu. Lấy vải bông đã tẩm cồn 900 bọc lại chỗ cắt. Lúc cắt cần làm cho hươu nai bình tĩnh không hoảng sợ để máu trong nhung không chảy mạnh làm giảm mất chất.
Nhung tươi có thể làm sạch lông, thái miếng mỏng ngâm rượu (1/4) mà dùng.
Cắt xong, treo ngược lên rồi làm khô. Việc làm khô rất quan trọng, liên quan đến giá trị và phẩm chất của nhung. Có mấy cách sau đây:
+ Lấy giấy bản tẩm rượu gừng (1/10) quấn lại, để nhung đứng ngược trong một cái thùng có đáy dễ tháo ra. Lấy cát nóng 30 - 400 xôi vào cho ngập nhung (trừ chỗ cắt). Khi cát nguội, tháo cát ra, bọc giấy bản tẩm rượu gừng lại, xối cát khác vào nóng hơn (60 - 700). Làm như vậy cho đến khó. Dùng cát nóng quá thì da ngoài chóng khô nhăn và nứt nhưng trong chưa khô, sau này hỏng. Mỗi lần thay cát nên thay giấy bản tẩm rượu (cách này thường dùng).
+ Lấy giấy bản quấn vào nhung, tẩm rượu, treo cao lên bếp cho khô, rồi phơi râm.
+ Lấy giấy bản nhúng vào nước gừng có pha rượu quấn vào nhung để 2 giờ, lấy bẹ chuôi tươi bó lại. Nướng trở cho đều đến khi héo bẹ chuối thì thôi.
+ Để nhung lên gác bếp chỗ nóng vừa cho đến khô. Làm cách này nhung đen và hôi.
+ Có người dự kiến sấy nhung trong tủ sấy giữ nhiệt độ 70 - 800 cho đến khô (dùng nhiệt độ từ thấp lên cao).
Khi nhung khô rồi, bọc vào giấy bản đựng trong thùng kín, để chỗ khô ráo.
Nhung chế biến tốt là không đen, không teo, không nứt, lông mượt, cắt ra thấy hồng đỏ, khi sờ lên có cảm giác như sờ lên miếng sáp.
Nhung chế biến không tốt thì teo, nứt bị ươn ở trong.
Ghi chú: Lúc mới cắt máu chảy ra có thể dùng ngay pha với rượu uống rất bổ, thường dùng cho người có tuổi.
Bào chế nhung khô:
Lấy bàn chải chải ngược lông cho hết lông có mấy cách:
+ Lấy thanh sắt nung đỏ lăn đi lăn lại trên nhung cho cháy hết lông.
+ Lấy rượu 900 tẩm qua đốt cho cháy hết lông. Làm hết lông rồi nhưng nếu thấy cứng thì tẩm qua rượu (hay không tẩm) đồ cho mềm (không nên đồ kỹ quá), thái miếng tròn càng mỏng càng tốt (dùng đến đâu thái đến đó), tẩm ít rượu sấy nhẹ lửa cho khô (không nên sao), sau đó tán bột làm hoàn tán hoặc để ăn với cháo hoặc ngâm rượu (1/2) mà dùng.
Bảo quản: để nơi khô ráo, trong hộp, lọ kín; có thể lót bột long não, hoa tiêu hay tế tân để phòng sâu bọ.

Bào chế NHỤC THUNG DUNG Cirtanches deserticola Y.C. Ma.; Họ Lệ dương (Orobanchacea)

NHỤC THUNG DUNG


Tên khoa học: Cirtanches deserticola Y.C. Ma.; Họ Lệ dương (Orobanchacea)
Bộ phận dùng: Thân, rễ to, mập mềm, nhiều dầu, ngoài có vẩy mịn mềm, đen không mốc là tốt.
Thành phần hóa học: Nhục thung dung có chứa Hydratcarbon, iridoid glycosid, vitamin.
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, chua, mặn, tính ôn. Vào kinh thận.
Tác dụng: Trợ thận, ích tinh huyết, tráng dương, nhuận tràng.
Công dụng: Trị liệt dương, lưng gối lạnh đau, trị băng huyết, đái són, bạch đái, táo bón.
Liều dùng: Ngày dùng 8 - 12g.
Kiêng kỵ: Thận hỏa vượng, di tinh thì kiêng dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Ngâm rượu một đêm, cạo bỏ đất cát và vẩy nổi, mổ giữa ruột bỏ hết lớp màng trắng, đồ độ 2 giờ, tẩm mỡ sữa, nướng thơm dùng (Lôi Công).
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Rửa sạch, để ráo cho mềm, thái mỏng, phơi khô.
Bảo quản: Dễ mốc nên phải để nơi khô ráo, mát. Nếu mốc chỉ cần chải, lau.

Bào chế NHŨ HƯƠNG Pistacia lentiscus L.; Họ đào lộn hột (Anacardiaceae)

NHŨ HƯƠNG


Tên khoa học: Pistacia lentiscus L.; Họ đào lộn hột (Anacardiaceae)
Bộ phận dùng: nhựa cây nhũ hương ngoài mặt sắc trắng mờ, trong sáng bóng, cắn vào thì dính răng, mùi thơm, đốt lên bay khói ra thơm mát, tàn tro sắc đen là đúng.
Thành phần hóa học: Có 90% acid mastixic và acid masticalic, tinh dầu 2% .
Tính vị - quy kinh: Vị cay, tính hơi ôn. Vào 2 kinh can và tâm.
Tác dụng: Thông 12 kinh, làm thuốc hoạt huyết, điều khí.
Công dụng: Trừ khí độc truyền nhiễm, lên sởi bị nhiễm độc, trị ung thư, đau bụng.
Liều dùng: Ngày dùng 3 - 6g.
Kiêng kỵ: Không có ứ trệ và ung nhọt đã vỡ mủ không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Chê nhũ hương có nhiều cách: cho một ít rượu vào nghiền nát, phi qua nước, phơi khô, hoặc nghiền tán với bột nếp.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Nhặt bỏ tạp chất, tán với đăng tâm dễ thành bột (cứ 1 lạng nhũ hương (40g) dùng 1/4 đồng cân (1g) đăng tâm), hoặc sao qua với đăng tâm rồi tán.
Nếu tán một mình nhũ hương thì sau này hút ẩm và đóng cục.
Bảo quản: Tránh ẩm, để nơi khô ráo, giữ mùi thơm.

Bào chế NHÂN TRUNG BẠCH Calamitas Urinae hominis

NHÂN TRUNG BẠCH


Tên khoa học: Calamitas Urinae hominis
Nhân trung bạch là cặn nước tiểu đóng trong chậu nước tiểu, kết thành miếng giòn và khai.
Cặn càng phơi lâu càng tốt, trắng ngà, có từng lớp, thứ lâu năm có lớp dày, cứng là tốt; đen, bẩn, nát là xấu.
Thành phần hóa học: Có các muối calci (phosphat, urat, clorua…) và các thành phần khác của nước tiểu.
Tính vị - quy kinh: Vị mặn, tính hàn. Vào ba kinh can, tam tiêu và bàng quang.
Tác dụng: Thanh nhiệt, giáng hỏa, trừ ứ, cầm máu.
Công dụng: Chữa đau hầu họng, lở loét trong mồm, nướu răng, thổ huyết, chảy máu cam.
Liều dùng: Ngày dùng 4 - 8g.
Kiêng kỵ: Tỳ vị hư hàn không dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Đem nhân trung bạch hòa vào nước trong, rửa đãi hết tạp chất, gạn hết nước trong, phơi khô, khi dùng để trên miếng ngói nung đỏ hồng.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Cho vào nồi đất, trét kín, đốt bên ngoài bằng trấu, lấy phấn trắng bám trong lòng vung, bỏ cái đen, tán bột.
Đốt đỏ, cạo bỏ cái đen, tán bột.
Nung đỏ trực tiếp trên lửa hoặc bọc kín nung đỏ, tán bột, làm thủy phi lấy bột nhỏ mịn dùng.
Bảo quản: Để nơi mát, khô, ráo, đậy kín.

Bào chế NHÂN TRẦN (Bồ bồ) Adenosma caeruleum R.Br.; Họ hoa mõm chó (Scrophulariaceae)

NHÂN TRẦN (Bồ bồ)


Tên khoa học: Adenosma caeruleum R.Br.; Họ hoa mõm chó (Scrophulariaceae)
Bộ phận dùng: Toàn cây khi có hoa (trừ rễ).
Khô, có nhiều lá, hoa ít cành, mùi thơm, sạch gốc rễ, không sâu, không ẩm mốc là tốt. Thứ để càng lâu càng tốt.
Không nhầm với cây nhân trần Trung Quốc có tên khoa học là Artemisia capillaris Thunb, họ cúc (Asteraceae), cây trắng mốc, công dụng cũng thế.
Ở miền Nam, cây bồ bồ chỉ tên một cây khác.
Thành phần hóa học: Saponin, flavoonoid và tinh dầu (0,7%), kali nitrat.
Tính vị - quy kinh: Vị đắng, hơi cay, tính ôn. Vào ba kinh can, đởm và bàng quang.
Tác dụng: Thanh thấp nhiệt, giải nhiệt, phát hãn
Công dụng: Trị hoàng đản, sản hậu, tiểu tiện ít, trị giun đũa và móc cầu.
Liều dùng: Ngày dùng 20 - 40g.
Kiêng kỵ: Không
Cách bào chế:
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
+ Dùng ít, thu hái về rửa sạch, phơi râm nơi thoáng gió cho khô, để lên giàn bếp để bảo quản.
+ Lấy về khi có hoa, rửa sạch, phơi râm nơi thoáng gió cho khô, bó lại để chỗ khô ráo, thoáng gió, sạch sẽ, khi dùng cắt ngắn.
+ Có thể nấu cao với ích mẫu, hai thứ đều nhau (1ml = 10g dược liệu)
Bảo quản: Cất kín, không nên bào chế nhiều, để nơi khô ráo, tránh quá nóng mất mùi thơm.

Bào chế NHÂN SÂM Panax ginseng C.A.Mey.; Họ ngũ gia bì (Araliaceae)

NHÂN SÂM


Tên khoa học: Panax ginseng C.A.Mey.; Họ ngũ gia bì (Araliaceae)
Bộ phận dùng: Rễ (củ). Củ sắc vàng, nâu mềm, vỏ màu vàng có vân ngang, thẳng không nhăn nheo, cứng chắc, mùi thơm đặc biệt.
Phân loại sâm cao ly:
1.   Dưới 20 chỉ - một cân ta (600g)
2.   50 - 60 chỉ
3.   70 - 80 chỉ
4.   Đại vĩ sâm
5.   Trung vĩ sâm
6.   Tiểu vĩ sâm
Ở Trung Quốc có tu hồng sâm, tiểu hồng sâm, đã di thực thành công cây tây dương sâm (Panax quin-quefolium L.) là thứ tốt nhất ở Bắc Mỹ.
Thành phần hóa học:panakilon là một bột vàng, vị ngọt sau hơi đắng, nhiều glucosid (panaxin), dầu thơm, có sinh tố B1 và B2, các chất hữu cơ.
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn. Vào kinh phế, thông 12 kinh lạc.
Tác dụng:  Đại bổ nguyên khí
Công dụng:
Dùng sống: tả hỏa
Tẩm sao: bổ tân dịch, bổ nguyên khí (nhất là ở phế) thần kinh suy nhược.
Liều dùng: Ngày dùng 4 - 12g.
Kiêng kỵ: Phụ nữ mới đẻ huyết xông lên, bệnh sơ cảm mới phát, mới thổ huyết đều không nên dùng.
Cách chế biến:
Theo Trung y:
Tẩm rượu, ủ mềm, thái lát, lót giấy lên chảo sao nhỏ lửa.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Nếu cứng hấp trong nồi cơm cho vừa mềm, thái lát mỏng một ly (dùng sống). Tẩm nước gừng, sao gạo nếp cho vàng rồi cho nhân sâm vào đảo qua, bắc chảo ra ngay, đảo thêm một lúc là được.
Sau khi bào chế có thể tán bột mà uống hoặc uống với thuốc thang đã sắc.
Bảo quản: Đậy kín, dưới lót vôi sống hay gạo rang, dễ bị sâu mọt ăn.