Bào chế THẠCH QUYẾT MINH (ốc cửu khổng) Haliotis

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

THẠCH QUYẾT MINH (ốc cửu khổng)


Tên khoa học: Haliotis sp.; Họ bào ưng (Haliotidae)
Bộ phận dùng: Vỏ như bào ngư ở đáy biển có nhiều loại: H. gigantea Gmelin, H. ovina Gmelin, H. diversicolor Reeve, vỏ có 7 đến 13 lỗ, thường có 9 lỗ. Ngoài vỏ sắc nâu hoặc xanh tía, bên trong trơn nhoáng nhiều màu sắc như xà cừ, khô nguyên vỏ, dày, không mùi hôi là tốt. Không lấy loại không có lỗ.
Thành phần hóa học: Chất vô cơ, chủ yếu là calci carbonat, các chất hữu cơ, nhưng sau khi nung chỉ còn chất vô cơ.
Tính vị - quy kinh: Vị mặn, tính bình. Vào hai kinh can và phế.
Tác dụng: Tả can nhiệt, giải chất chua, trừ nhiệt, sáng mắt.
Công dung: Trị thanh manh nội chướng, trị can phế phong nhiệt, giam nóng sốt.
Liều dùng: Ngày dùng 8 - 40g.
Kiêng kỵ: Tỳ vị hư hàn và không có thực nhiệt thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Lấy nước rồi cho muối vào cùng nấu với thạch quyết minh một lúc, lấy ra nghiền hoặc thủy phi mà dùng (Lý Thời Trân).
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Mài, cạo hoặc đẽo hết vỏ ngoài, rửa sạch phơi khô.
Nung tồn tính, nóng quá thành vôi, mất tác dụng nôn làm như sau:
- Rửa sạch, tẩm nước giấm loãng (5%), xóc mạnh, rửa lại. Xếp 3 - 4 con một, lấy đất nắm lại, nung cho đỏ đất ngoài, ốc còn màu xanh xám nhạt là được. Tán bột mịn sắc uống, làm hoàn tán thì thủy phi.
- Có người cho vào nồi đất, phủ cám ướt (để điều hòa nhiệt) nhưng có người không cần phủ cám, trét kỹ, ngoài phủ trấu (lượt than, lượt trấu) đợi cho đến khi nào còn màu xanh nhạt là được. Đang nóng nhúng qua nước giấm loãng để tán.
Bảo quản: Để nơi khô ráo.

Bào chế THẠCH LỰU (cây lựu)

THẠCH LỰU (cây lựu)


Tên khoa học: Punica granatum L.; Họ lựu (Punicaceae)
Bộ phận dùng: Vỏ rễ (thạch lựu căn bì).
Vỏ quả lựu (thạch lựu bì).
Vỏ rễ mỏng, sắc vàng, dùng loại rễ chìm xuống đất, không dùng loại rễ nổi; dùng tươi có tác dụng hơn dùng khô.
Vỏ quả khô không mục nát là tốt.
Thường dùng cây lựu hoa đỏ (xích lựu), lựu hoa trắng (bạch lựu) tốt hơn nhưng hiếm có.
Thành phần hóa học: Vỏ thân, vỏ cành, vỏ rễ có độ 22% chất tanin. Ngoài ra còn có các alcaloid là peletierin và isopeletierin có tác dụng trị sán. Thuốc độc bảng A.
Vỏ quả có độ 28% chất tanin và chất màu.
Chủ trị: trị tả lỵ, ra huyết, sa trực tràng, di tinh, băng huyết, bạch đái (vỏ quả). Trị sán sơ mít (vỏ rễ).
Liều dùng:    Vỏ rễ:    20 - 60g một ngày.
Vỏ quả:    15 - 30g.
Kiêng kỵ: không có trùng tích hoặc thực tà thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
- Vỏ rễ: đào lấy rễ thạch lựu, rửa sạch, cạo bỏ vỏ thô ngoài và bỏ lõi giũa, chỉ dùng lớp vỏ rễ trong, phơi khô, khi dùng thì cắt nhỏ hoặc tán bột.
- Vỏ quả: bóc lấy vỏ quả thạch lựu, cạo sạch ruột và màng bên trong, phơi khô dùng sống hoặc sao vàng hay sao cháy tùy từng trường hợp.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Vỏ quả: khi còn tươi, bỏ màng trong, thái mỏng, sao khô, dùng ngay. Nếu chưa dùng thì gác bếp hoặc sấy, phơi khô; khi dùng rửa sạch, nạo bỏ mảng trong, để cho mềm, thái mỏng sao qua dùng.
Bài thuốc trị tả lỵ:
Vỏ quả lựu:   2.000g
Nước:      vđ
Đường:   vđ
Dùng nồi đất hoặc nhôm (không dùng nồi sắt hoặc gang) cho vào 10 lít nước, sắc hai lần, cô hai nước cho đến khi còn 4 lít, thêm đường đủ ngọt. Người lớn ngày uống 4 lần, mỗi lần 2 - 3 thìa cà phê uống luôn 7 - 10 ngày.
Thuốc này để được lâu.
Có người đem đốt xám vỏ quả lựu, đập dập, lấy vỏ, bỏ hạt, sắc uống trị tả lỵ.
- Vỏ rễ: lấy rễ rửa sạch, dùng dao inox, cạo bỏ vỏ thô bì ơ ngoài, rửa sạch, bóc lấy vỏ trong, bỏ lõi, dùng tươi hoặc phơi khô dùng,
Nếu cơ thể yếu, có thể ngâm nước vo gạo trước rồi mới làm như trên, hoặc sau khi lấy được vỏ trong nồi, sao qua rồi mới dùng.
Vỏ rễ dừng trị sán xơ mít, có người phối hợp với binh lang.
Vỏ rễ lựu khô   60g
Nước cất      750ml
Ngâm vỏ 6 giờ, sắc còn 500ml gạn và lọc, uống làm 2 - 3 lần, cách nhau nửa giờ. Hai giờ sau khi uống thuốc, thấy bụng cồn cào khó chịu thì uống một liều thuốc tẩy. Sau khi đi ngoài, ân một bát cháo đậu xanh nguội để giải độc.
Bảo quản: Vỏ quả để nơi khô ráo.
Vỏ rễ để nơi kín, khô ráo, không nên để quá 2 năm, quá hạn không nên dùng. Thuốc có độc, dùng phải thận trọng, không nên dùng cho trẻ em.

Bào chế THẠCH HỘC Dendroblum sp

THẠCH HỘC


Tên khoa học: Dendroblum sp.; Họ lan (Orchidaceae)
Bộ phận dùng: Thân cây. Thạch hộc có nhiều thứ, thứ vỏ vàng tươi ánh, dài, nhỏ như cái tăm (kim thoa thạch hộc, Dendrobium tosanse Makino), nếm ngọt, nhớt, bẻ không gẫy là tốt nhất. Nhưng ta thường dùng thứ to bằng quản bút, màu vàng đậm, xốp, thịt trắng là loại vừa (D. nobile Lindl).
Nói chung thạch hộc phải khô vàng, thịt trắng, không mốc đen, sạch gốc rễ, không vụn nát là tốt.
Thành phần hóa học: có alcaloid và chất nhày.
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, nhạt, tính hàn. Vào ba kinh phế, vị và thận.
Tác dụng: Tư âm, trừ nhiệt, ích dạ dày, sinh tân dịch.
Công dụng: Trị bệnh nhiệt hại đến tân dịch, miệng khô khát, bệnh đỡ rồi mà còn hư nhiệt.
Liều dùng: Ngày dùng 8 - 16g.
Kiêng kỵ: Bệnh ôn nhiệt còn chưa hóa ra khô táo thì kiêng dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Lấy thạch hộc khô, ngâm nước ủ mềm thấu, bỏ hết rễ con và cành đen, cắt từng đoạn ngắn, lột bỏ màng mỏng, phơi hoặc sấy khô dùng.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Rửa sạch, bỏ rễ, bỏ khúc đen, cắt ngắn, phơi khô dùng.
Bảo quản: Dễ mốc mọt nên cần để chỗ khô ráo, thoáng gió, tránh ẩm.

Bào chế THẠCH CAO Gypsum

THẠCH CAO


Tên khoa học: Gypsum
Bộ phận dùng: đá, trong trắng có thớ là tốt; thứ ít gân, sẫm vàng là xấu.
Thành phần hóa học: CaSO4. H2O.
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt cay, tính hàn. Vào ba kinh phế, vị và tam tiêu.
Tác dụng: Thanh nhiệt, giáng hỏa, chỉ khát, trị điên cuồng.
Công dụng: Trị bệnh nhiệt, tự đô mồ hôi, phiền khát, nói mê sảng, hoảng hốt, trúng nắng, ho do phế nhiệt, đau đầu, đau răng do vị hỏa.
Liều dùng: Ngày dùng 12 - 40g.
Kiêng kỵ: dạ dày yếu, không có thực nhiệt không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Giã thành bột, nấu nước cam thảo phi qua rồi phơi khô, nghiến nhỏ dùng.
Vì tính nó hàn, nên nung đỏ hoặc lẫn với đường mà sao thì không hại dạ dày (Lý Thời Trân).
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Thường để sống dùng: tán trước khi sắc (sinh thạch cao).
- Làm hoàn tán: nướng qua, tán, rây mịn (thục thạch cao).
- Giã nhỏ, ngâm rượu một đêm, sáng mai bỏ rượu lấy bột tán phơi dùng (ít dùng).
Bảo quản: Để nơi khô mát, sạch sẽ.

Bào chế TẾ TÂN Asarum sieboldii Miq.; Họ mộc thông (Aristolochiaceae)

TẾ TÂN


Tên khoa học: Asarum sieboldii Miq.; Họ mộc thông (Aristolochiaceae)
Bộ phận dùng: Rễ hay toàn cây. Rễ từng chùm, dài độ 10 -20cm, ngoài nâu nhợt, trong màu tráng, thơm, cay nồng là tốt. Thứ không thơm cay, cây có một lá và một đốt thì không dùng.
Thành phần hóa học: Tinh dầu, acid hữu cơ, chất nhựa.
Tính vị - quy kinh: Vị cay, tính ấm. Vào bốn kinh tâm, phế, can và thận.
Tác dụng: Thông khiếu, trừ phong, tán hàn, hành thủy.
Công dụng: Trị ho tức, nhức đầu (thiên đầu thống), tê nhức khớp xương, đau răng (dùng tươi)
Liều dùng: Ngày dùng 1 - 3g.
Kiêng kỵ: người âm hư hỏa bốc và không có thực tà phong hàn thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Cắt bỏ đầu cuống, lấy nước vo gạo tẩm một đêm, phơi khô dùng.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Rửa sạch, thái từng đoạn ngắn, 2 - 3cm, phơi râm cho khô, không phải sao tẩm.
Có thế tán bột ngâm rượu ta (1/5) để xoa bóp hoặc chấm vào chỗ răng đau.
Bảo quản: Để nơi cao ráo, tránh uống.

Bào chế TOAN TÁO NHÂN (nhân táo) Zizyphus jujuba Lamk.; Họ táo (Rhamnaceae)

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

TOAN TÁO NHÂN (nhân táo)



Tên khoa học: Zizyphus jujuba Lamk.; Họ táo (Rhamnaceae)
Bộ phận dùng: Nhân trong quả, có chất dầu, khô, chắc, màng vàng nâu là tốt. Lép, mốc mọt, lẫn tạp chất là xấu.
Không nhầm nhân táo với hột quả cây bình linh (Leucaena glauca Benth), dài, nhọn và cứng hơn.
Thành phần hóa học: Chứa nhiều dầu béo, phytosteron, acid acid betulinic, sinh tố C v.v… 
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, tính bình. Vào ba kinh tâm, can và đởm.
Tác dụng: Bổ can đởm, yên tâm thần, làm thuốc mạnh dạ dày, tư dưỡng.
Công dụng: Hư phiền không ngủ, hồi hộp hay quên, tân dịch ít, cơ the yếu, nhiều mồ hôi.
Liều dùng: Ngày dùng 10 - 16g.
Kiêng kỵ: Người có thực tà, uất hỏa thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Đồ nửa ngày, xát bỏ màng, sao vàng,
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Theo sách nói: hay buồn ngủ thì dùng sống, không ngủ được thì sao cháy.
Ta thường dùng sao cháy tồn tính (gây ngủ).
Bảo quản: Rất dễ bị sâu mọt nên phải để nới khô ráo, đựng trong bình kín. Dược liệu thường nàng đem phơi và kiểm tra.

Bào chế TẠO GIÁC (quả bồ kết)

TẠO GIÁC (quả bồ kết)


Tên khoa học: Gleditschia australisHemsl; Họ vang (Caesalpiniaceae)
Bộ phận dùng: Quả (bỏ hột). Quả chín khô, chắc cứng, thịt dày, không sâu mọt là tốt.
Thành phần hóa học: Saponin khoảng 10% (boketosid, australosid).
Tính vị - quy kinh: vị cay, mặn, tính ôn. Vào hai kinh phế và đại trường.
Tác dụng: Thông khiếu, tiêu đờm, trừ phong, tan chất cứng.
Công dụng: Trúng phong, cấm khẩu, trị đờm suyễn, đau tắc cổ.
Liều dùng: Ngày dùng 3 - 6g.
Kiêng kỵ: Không phải thực tà nguy cấp thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Ngâm nước một đêm, cạo sạch vỏ ngoài, tẩm mỡ sửa nướng đi nướng lại cho thấu, bỏ hột (cứ một lạng tạo giác dùng 5 đồng cân mỡ) (Lôi Công).
Tẩm mật nướng: có khi tam mỡ sữa vắt lấy nước, có khi đốt cháy tùy từng trường hợp.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Tẩm nước cho mềm, bỏ vỏ đen ở ngoài, tước bỏ hai sông, bỏ hột, sấy khô.
Sau đó có thể sao qua hoặc lùi trong tro nóng cho giòn rồi tán bột làm hoàn tán, hay làm viên đạn để làm cho trung tiện.
Có thể ngâm rượu trắng (1/4) để ngậm trị răng.
Bẻ ra, cho vào lò than đốt, lấy khói để tẩy uế, chông lạnh.
Bảo quản: Dễ bị mọt, nếu chưa bào chế thì chống mọt, năng phơi, tránh ẩm, Bào chế rồi đậy kín.