ẤU NƯỚC

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

ẤU NƯỚC


Tên khoa học: Trapa natans L. var. pumila Nakano, thuộc họ ấu (Trapaceae).
Mô tả: Cây thuỷ sinh nổi, khá to. Lá có cuống dài đến 10cm, phình ở 1/3 trên. Phiến lá hình tam giác, xẻ khá sâu, dầy, mập, gân phụ 4-5 cặp. Hoa có cuống dày, có lông. Quả bế có thân to, cao 2cm, với 4 sừng nhọn: 2 cái trên dài mọc ngang, 2 cái dưới ngắn hướng xuống, các lá mầm không bằng nhau, chứa đầy hột. Ra quả tháng 6-7.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Trapae).
Phân bố sinh thái: Cây mọc ở ao, hồ, đầm, ruộng từ Hà Nội đến Thừa Thiên, Quảng Nam. Dễ sinh sản bằng quả rơi xuống đất bùn. Thông thường được bán ở chợ như củ ấu.
Thành phần hoá học: Quả chứa protid 4,97%, lipid 0,67%, glucid 46,6%, tro 1,39% và một lượng nhỏ vitamin C.
Tính vị, tác dụng: cũng tương tự như các loài ấu khác. Củ ấu có vị ngọt, tính mát, có tác dụng bổ mát, giải nắng nóng, giải độc; ăn thì bổ ngũ tạng.
Công dụng Vỏ quả có tính tăng lực và hạ nhiệt.

ẤU DẠI

ẤU DẠI


Tên khoa học: Trapa incisa Sieb. et Zucc. thuộc họ ấu – Trapaceae.
Tên đồng nghĩa: Trapa maximowiczii Korsh. var. tonkinensis Gagnep.; thuộc họ ấu – Trapaceae.
Tên khác: Ấu dây.
Mô tả: Cây thuỷ sinh có thân trong nước và lá chụm ở ngọn các nhánh, nổi sát dưới mặt nước; phiến lá hình tam giác, mép có răng to, gân phụ ba cặp, 1-2cm, hơi phù. Hoa trắng, cành hoa cao 1cm. Quả bế cao và rộng 1cm (không kể gai), có 4 sừng: 2 cái hướng xuống dưới, dài 1cm, mảnh từ gốc với 2 điểm lồi ở phía trên chỗ dính; 2 sừng trên cùng dạng, hướng lên trên, dài 8mm.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Trapae) thường gọi là tế quả dã lăng.
Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Viễn Đông và Nam Trung Quốc, Việt Nam, gặp mọc hoang từ Yên Bái, Hà Tây, Hà Nội đến Quảng Trị.
Công dụng:
- Ở Trung Quốc, quả ấu dại có nhiều hột cũng được dùng ăn và nấu rượu.
- Hạt dùng chữa sốt rét và đau đầu.

ẤU

ẤU


Tên khoa học: Trapa bicornis L,; Họ củ ấu (Trapaceae)
Tên khác: Ấu trụi, ấu nước, kỵ thực, hạt dẻ nước, năng thực.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Trapae), thường có tên là Ô lăng. Có khi dùng cả vỏ quả và toàn cây.
Đăc điểm nhận dạng: Quả thường gọi là củ có hai sừng, quả cao 35mm, rộng 5cm, sừng dài 2cm, đầu sừng hình mũi tên, sừng do các lá đài phát triển thành. Trong củ chứa một hạt ăn được, có vị ngọt mát, bùi, giàu dinh dưỡng. Củ ấu có 4 loại là ấu đỏ, ấu 2 sừng, ấu 3 sừng và ấu 4 sừng.
Phân bố sinh thái: Cây của vùng cổ nhiệt đới mọc tự nhiên và cũng được trồng nhiều trong các ao, hồ, đầm, sông cụt, mặt nước. Mùa hoa (ở miền Bắc) vào tháng 5 - 6; mùa quả vào các tháng 7 - 9.
Thành phần hoá học: Trong hạt ấu có tinh bột chừng 49% và chừng 10,3% protid. Các chất khác chưa thấy nghiên cứu. Theo tài liệu Trung Quốc, trong 100g củ ấu chín có 4,5g albumin, 0,1g chất béo, 19,7g chất đường các loại, 0,19g vitamin B1, 0,06g B2, 1,5mg PP, 13mg C, 7mg Ca, 0,7mg sắt, 19mg Mn, 93mg P. Chất AH13 là chất chiết ung thư gan được dùng hỗ trợ điều trị chống ung thư.
Tính vị tác dụng: Củ ấu có vị ngọt, tính mát, có tác dụng bổ mát, giải nắng nóng, giải độc; ăn thì bổ ngũ tạng. Vỏ quả có tính tăng lực và hạ nhiệt.
Công dụng:
Củ ấu chủ yếu được nhân dân dùng luộc ăn hoặc chế biến thành bột trộn với mật hay đường làm bánh. Quả sao cháy dùng chữa nhức đầu, choáng váng và cảm sốt. Vỏ quả sao cho thơm, sắc uống chữa sốt, chữa mệt nhọc khi bị sốt rét, còn dùng chữa loét dạ dày, loét cổ tử cung. Toàn cây chữa trẻ con sài đầu, giải độc rượu, làm cho sáng mắt.
Liều dùng: 10-16g/ngày dạng thuốc sắc. Dùng ngoài: giã cây tươi đắp không kể liều lượng.
Bài thuốc:
1. Chữa nhức đầu, choáng váng, cảm sốt: lấy 3 - 4 củ ấu sao cháy, sắc uống, ngày 1 thang.
2.  Sốt, sốt rét, loét dạ dày: vỏ củ ấu sao thơm, sắc uống.
3. Giải độc rượu, làm sáng mắt, chữa sài đầu trẻ: lấy 10-16g toàn cây, sắc uống.
4. Rôm sảy, da khô sạm: dùng củ ấu tươi, giã nát, xoa lên da.
5. Viêm loét dạ dày: thịt củ ấu 30g, củ mài 15g, hồng táo 15g, bạch cập 10g, gạo nếp 100g, nấu cháo, cho thêm 20g mật ong, trộn đều ăn.
6. Hư nhược phiền khát: thịt củ ấu tươi 50g, địa cốt bì 15g, câu kỷ tử 6g, hoàng cầm 6g, cam thảo chế 6g. Sắc uống.
7. Trị say rượu: thịt củ ấu tươi 250g, nhai nuốt.
8. Trị tỳ vị hư nhược: thịt củ ấu 50g, bạch truật 15g, hồng táo 15g, sơn tra 10g, sơn dược 15g, màng mề gà 6g, cam thảo chế 3g. Sắc uống.
9. Trị đại tiện ra máu: vỏ củ ấu 60g, địa du 15g, tiêu sơn căn 6g, ô mai 10g, cam thảo chế 6g. Sắc uống.
10. Trị bệnh trĩ, nhọt nước: vỏ củ ấu sấy khô, đốt tồn tính, tán bột, trộn đều với dầu vừng, bôi hoặc đắp.
Chú ý: Cần lưu ý, tuy củ ấu là vị thuốc, ăn ngon, nhưng ăn nhiều sẽ gây trệ khí, do đó những người có u cục ở ngực bụng không dùng.

ANH ĐÀO

ANH ĐÀO


Tên khoa học: Prunnus cerasoides D. Don, thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae).  
Mô tả: Cây gỗ nhỏ cao 5-10m, có vỏ xám, lốm đốm các lỗ khí hay hình trái xoan. Lá sớm rụng, mỏng, nhẵn, hình tái xoan hoặc thuôn-ngọn giáo, tròn hoặc hơi thon hẹp lại ở gốc, có mũi nhọn sắc, mép có răng cưa, với răng đơnhay kép, tận cùng là một tuyến nâu, dải 5-12cm, rộng 2,5-5cm; cuống lá nhẵn, dài 8-15mm, có 2-4 tuyến dạng đĩa ở chóp có cuống hay không. Hoa màu hồng, xuất hiện trước khi có lá thành cụm hoa bên gần như dạng tán thường có 3 hoa. Quả hạch hình cầu hay dạng trứng, rộng 10-12mm, màu đỏ, có hạch cứng với vách dày. Cây ra hoa tháng 12 – tháng 1 và có quả từ tháng 2 đến tháng 4-5. 
Phân bố: Loài này phân bố trên núi cao Hymalaya, Tây Tạng xuống đến nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan. Cây Anh đào chính thức không có ở nước ta. Ta có nhập trồng một số loài Anh đào của Nhật Bản cũng thuộc chi Prunus.  
Bộ phận dùng: Quả phơi hay sấy khô (Fructus Pruni).
Thành phần hoá học: Nhân hạt chứa amydalin, plunasetin (isoflavon), sakurametin, pudumetin (flavon). Vỏ cây chức flavonon glucosid là sakuranin và chacol glucosid một neosakuranin.
Công dụng: Quả có vỏ quả khá dày, thịt đỏ, mọng nước, mùi dễ chịu, có thể ăn được và chế rượu uống, người ta đã chế ra loại rượu Anh đào của Đà Lạt. ở ấn Độ các cành nhỏ được dùng để thay thế acid hydrocyanic; nhân hạt dùng làm thuốc trị sỏi và sỏi thận.
Ghi chú: Ở Trung Quốc người ta gọi loài này là Vân Nam âu lý được xem như gần với mận. Còn Anh đào là Prunus pseadocerasus Lindl, có quả ăn được, nhân hạt được dùng làm thuốc trị nóng sinh ngứa ngáy, vỏ thân dùng làm săn da và trừ ho, rễ và lá sát trùng dùng trị vết rắn cắn. 

Âm địa quyết-Botrychium ternatum (Thunb) Sw. thuộc họ Lưỡi rắn (Ophioglossaceae)

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Âm địa quyết

 

Tên khoa học: Botrychium ternatum (Thunb) Sw. thuộc họ Lưỡi rắn  (Ophioglossaceae).
Mô tả: Dương xỉ nhỏ cao 15-20cm, tới 40cm. Thân rễ ngắn mọc đứng. Lá có cuống dày, nạc, dài 4-9cm, phần không sinh sản dài 5-27cm, rộng 8-15cm, có dạng tam giác tù, xẻ lông chim 3 lần hay chẻ lông chim 4 lần; các lá chét có cuống, hình tam giác dài 4-6cm, rộng 2-3cm, mọc đối nhau hay hơi so le, chia thành các thuỳ nhỏ mọc cách nhau; các đoạn chót hình tam giác tù là góc không đều, mép xẻ ra nhiều hay ít, phiến dày nạc. Túi bào tử xếp trên một cái cuống thành bông. Các bông này tập hợp thành chùm và có cuống dài 9-13cm, dính vào đoạn giữa phần không sinh sản của cuống lá. Bào tử không màu, tròn, hơi có 4 cạnh.
Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Botrychil ternati) phơi hay sấy khô thường gọi là Âm địa quyết.
Phân bố: Cây mọc ở vùng núi cao của nước ta như ở Sapa tỉnh Lào Cai và Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.
Tính vị tác dụng: Vị ngọt, đắng, tính lạnh, không có độc, có tác dụng thanh lương giải độc, bình can tán kết.
Công dụng: Dùng trị sang độc, sưng nóng do phong nhiệt. Ở Ấn Độ người ta dùng cây chữa thương tích và dùng rễ chữa lỵ.
Liều dùng: 12-15g, dạng thuốc sắc.
Đơn thuốc: Nam nữ sau khi nôn ra máu, hông cách có hư nhiệt, dùng: Âm địa quyết, Tử hà sa, Quán chúng, Cam thảo mỗi vị đều 12g sắc uống.

Ắc ó-Acanthus integrifolius T. Anders, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae)

Ắc ó

 
Tên khoa học: Acanthus integrifolius T. Anders, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Mô tả: Cây nhỏ cao 1-2m, thân tròn không lông. Lá mọc đối, phiến nguyên mỏng, bóng, xanh đậm; cuống 1cm. Hoa ở nách lá, to. màu trắng; dài do 5 lá dài hẹp, cao 1,5cm; tràng dài 8-10cm, môi dài hơn ống nhị 5. Quả nang 4 hạt.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Acanthi)
Phân bố: Cây được trồng làm cảnh, vừa làm hàng rào ở nhiều nơi trong nước ta.
Thành phần hóa học: Có flavonoid, thành phần chính là Apigenin 7-O-β-glucosid.
Công dụng: Lá cây được dùng làm thuốc trị nhức mỏi, tê thấp.
Cách dùng: Ngày dùng 20-30g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Bài thuốc:
1.Chữa nhức mỏi tê thấp: Lá Ắc ó 20g, Sinh địa 20g, Hà thủ ô đỏ 20g, Cỏ xước 12g, Hy thiêm 12g, Cốt toái bổ 12g, Cốt khí củ 10g, Đẳng sâm 20g, Kê huyết đằng 12g, Thiên niên kiện 10g, Dây đau xương 10g. Sắc uống ngày 1 thang, dùng 7-10 thang.
2.Chữa tê thấp, đau nhức toàn thân: Lá Ắc ó, Rễ sâm cau, Hà thủ ô đỏ, Hy thiêm mỗi thứ 50g, các dược liệu thái nhỏ, ngâm với rượu trắng đủ ngập trong 7-10 ngày (ngâm càng lâu càng tốt), ngày uống 2 lần, mỗi lần 30ml. Uống liên tục 7-10 ngày.
3.Chữa tê thấp, đau lưng, nhức mỏi: Lá Ắc ó 20g, Cà gai leo 10g, Dây Gắm 10g, Thổ phục linh 10g, Kê huyết đằng 10g, Rễ lá lốt 10g. Sao vàng, sắc uống ngày 1 thang, dùng 10-20 thang.
4.Chữa tê thấp, đau nhức toàn thân: Lá Ắc ó, Ngũ gia bì, Ngưu tất, Tục đoạn, Đỗ trọng, Thiên niên kiện, Quế chi, Hà thủ ô đỏ, Thổ phụ linh, mỗi vị 20g, ngâm chung trong 2 lít rượu trắng, uống vào mỗi buổi tối, mỗi lần uống 30 ml.

Sắn dây củ tròn-Pueraria mirifica Airy Shaw & Suvat.; họ Đậu-Fabaceae

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

Sắn dây củ tròn


Tên Latinh: Pueraria mirificaAiry Shaw & Suvat.; họ Đậu-Fabaceae
Tên đồng nghĩa: Pueraria candollei var. mirifica (Airy Shaw & Suvat.) Niyomdham.
Tên Việt Nam: Kwao Krua Trắng, Sắn dây củ tròn, Sâm tố nữ
Tên nước ngoài: Kwao Kruea Khao, White Kwao Krua (Thái Lan)
Đặc điểm thực vật:
- Cây dây leo cứng, leo quanh các gốc cây lớn. Lá hình chân vịt, có 3 lá chét trên 1 cuống. Lá đơn, hình trứng, đỉnh nhọn. Hoa màu tím hơi xanh, cụm hoa dài 30 cm, mọc ở đầu cành. Hoa tương tự như hoa đậu, có 5 cánh. Cánh ở ngoài cùng lớn nhất, hai cánh hai bên uốn cong, cái ở trong cùng bao bọc bầu hoa. Quả già có vỏ màu nâu, có 3-5 hạt. Rễ củ có nhiều kích thước khác nhau. Bên ngoài trông giống củ khoai lang, bên trong màu trắng, khi nếm có thể gây đau đầu, chóng mặt. Cây ra hoa từ tháng 2-3 và kết quả vào tháng 4. Củ to hay nhỏ là phụ thuộc vào điều kiện môi trường , thổ nhưỡng và thời gian trồng.

Sắn dây củ tròn-Pueraria mirifica Airy Shaw & Suvat.; họ Đậu-Fabaceae
Pueraria mirifica
Pueraria mirifica Airy Shaw & Suvat.; họ Đậu-Fabaceae
Đa dạng di truyền:Theo người dân Thái Lan, có ít nhất 3 “giống” Sắn dây củ tròn, bao gồm: giống đen, giống trắng và giống đỏ. Về hình dạng, ít nhất có 2 “giống”: củ tròn và củ dài Các “giống” này được sử dụng khác nhau.
Phân bố: Ở vùng núi cao trên 600m so với mực nước biển,  phía Bắc Thái Lan, Mi-an-ma.
Bộ phận dùng: Rễ phơi hay sấy khô (Radix Puerariae mirificae)
Thành phần hóa học:
Rễ củ cây Sắn dây củ tròn trắng có chứa các hợp chất giống estrogen như miroestrol, deoxymiroestrol, và các isoflavonoid như puerarin, daidzin, genistin, daidzein và genistein (Cain JC., 1960).
Ngoài ra trong cây còn chứa một số isoflavone như kwakhurin, kwakhurin hydrate (Dweck AC., 2003). Rễ cây có chứa: mirificoumestan, deoxymiroestrol, coumestrol (Anthony C. Dweck, FLS, FRSC, FRSH, 2009). Hàm lượng các phytoestrogen trong rễ củ của cây thay đổi và phụ thuộc vào điều kiện trồng (Cherdshewasart W, Subtang S, Dahlan W. J, 2007).
Hàm lượng miroestrol và deoxymiroestrol trong rễ củ của cây lần lượt là 182.18±8.25 µg/g và 154.34±5.70 µg/g tính theo khối lượng dược liệu khô, ngoài ra thành phần isoflavonoid có hàm lượng 5.45±0.04 mg/g tính theo khối lượng dược liệu khô (G. Yusakul và cộng sự, 2011).
Năm 2012, bằng phương pháp Sắc ký lỏng hiệu năng cao đã phát hiện ra ít nhất 17 hợp chất estrogel thực vật, trong đó chủ yếu là các isoflavones (daidzin, daidzein, genistin, genistein và puerarin) và những chất khác như miroestrol và các dẫn xuất của nó, beta-sitosterol, stigmasterol, coumestrol, puerarin, mirificoumestan, kwakhurinmirificin, b-sitosterol, ankan rượu, chất béo và đường. Isoflavon (Malaivijitnond S, et al., 2012).
Tác dụng dược lý:
1. Tác dụng estrogen
- Ở Thái Lan, cây được dùng với tác dụng nở ngực, làm đẹp vòng ngực cho phụ nữ. Cụ thể giúp tăng kích thước và làm tăng kích thước vòng ngực.
- Cây được sử dụng từ lâu trong dân gian, được dùng như một chất bổ sung dinh dưỡng có tác dụng làm giảm các triệu chứng của quá trình lão hóa như chảy xệ ngực, nhăn da, loãng xương, bạc tóc, v.v… Cây là nguồn giàu sterol và các chất giống hormone có tác dụng trong điều trị nhăn và lão hóa da (Anthony C. Dweck, FLS, FRSC, FRSH, 2009).
- Cây Kwao Krua Trắng còn có tác dụng chống loãng xương. Tác dụng này đã được tiến hành trên chuột đực vào năm 2007 (Urasopon N, Hamada Y, Asaoka K, et al.,2007). Các tác giả này cũng tiến hành nghiên cứu tác dụng chống loãng xương của cây trên chuột cái đã cắt bỏ buồng trứng. Nghiên cứu cho thấy tác dụng chống loãng xương của cây phụ thuộc vào loại xương, vị trí trên xương, và khoang xương (Urasopon N, et al., 2008).
- Dịch chiết thô và các thành phần tinh khiết từ cây Kwao Krua Trắng đã được chứng minh có tác dụng estrogen trong nhiều thí nghiệm tiến hành trên chuột chưa trưởng thành (Jones HEM, Pope GS., 1960), chuột cái (Jaroenporn S, Malaivijitnond S,Wattanasirmkit K, et al., 2007), chuột bị cắt bỏ buồng trứng (Benson GK, Cowie AT, Hosking ZD., 1961; Malaivijitnond S, Chansri K, Kijkuokul P, et al., 2006; Cherdshewasart W, Kitsamai Y, Malaivijitnond S., 2007), khỉ cái (Trisomboon H, Malaivijitnond S, Cherdshewasart W, et al., 2007), khỉ cái đã mãn kinh (Trisomboon H, Malaivijitnond S,Watanabe G, et al., 2006), chuột đực (Jaroenporn S, Malaivijitnond S,Wattanasirmkit K, et al., 2006), và trong một thử nghiệm lâm sàng trên người (Cain JC., 1960; Muangman V, Cherdshewasart W., 2001).
- Một loạt chất có nguồn gốc từ xenobiotic ở cây cỏ và xenobiotic nhân tạo đã được báo cáo là đều có các hoạt động do hoóc môn gây ra. Nghiên cứu hiện nay đã tiến hành các khảo sát về tác dụng của Pueraria Mirifica (PM) – đã được sử dụng như một loại thuốc cổ truyền chống lão hóa ở Thái Lan, bằng cách dùng men tái hợp, các tế bào MCF-7 sinh sản nhanh và phân tích sự mở rộng tạm thời của các tế bào HepG2.
- Trong các phân tích của men tái hợp, 0.025, 0.25, 2.5, 25, 2.5 x 10(2), 2.5 x 10(3), 2.5 x 10(4) ng/ml PM cô đặc không cho thấy dấu hiệu hoạt động nào của estrogen, trong khi 10(-9) trong số 17 beta-estradiol lại cho kết quả hoạt động estrogen cao. Các hoạt động estrogen được quy lại ở dạng 2.5 ng/ml đến 25 microg/ml PM cô đặc trong một lượng tùy thuộc vào các tế bào MCF-7, những ảnh hưởng estrogen của PM được hạn chế bằng cách sử dụng tamoxifen, là một loại kháng estrogen phổ biến. PM còn cho thấy tác dụng của estrogen lên các tuyến tế bào u gan, các tế bào HepG2, có chứa gien của cơ quan nhận cảm estrogen và luciferase. Chung quy lại, PM tự bản thân nó có thể không mang đặc tính estrogen trong hệ thống men, nhưng lại có đặc tính estrogen trong các tế bào MCF-7 và HepG2 mang những enzim chuyển hóa của con người. Các kết quả đã chỉ ra rằng PM có thể cần fải được kích hoạt những chuyển hóa để estrogen có thể hoạt động được (Lee YS et al, 2002).
- Nghiên cứu của Udomsuk L trên chuột đực chủng C57BL/6 cho thấy Miroestrol và deoxymiroestrol phân lập từ rễ củ của loài Pueraria candollei var. mirifica có tác dụng trên các enzyme trong con đường sinh tổng hợp các Hormon sinh dục tương tự estradiol. Cụ thể, hai chất này làm giảm hoạt tính của các enzym 3β-HSD, 17β-HSD1, CYP17 và CYP19 mRNA, trong khi đó gây tăng hoạt tính enzyme 17β-HSD2 (Udomsuk L et al, 2011). 9 loại isoflavonoid, gồm có cả chất pterocarpene mới như puemiricarpene, đã được tách ra từ củ rễ của Pueraria mirifica (Leguminosae). Cấu trúc của puemiricarpene đã được xác định bằng các phương pháp quang phổ. Hoạt động estrogen của những loại isoflavonoid được tách biệt đã được thử nghiệm trên các tế bào ung thư vú MCF-7 ở con người. Các hoạt động đều đặn đã được theo dõi, đặc biệt là chất kwakhurin, là một loại prenylated isoflavonoid. (Chansakaow S, 2000).
- Trên mô hình sinh trưởng của tế bào MCF-7 và tế bào cổ tử cung, Sookvanichsilp N đã phát hiện ra hoạt tính estrogen của các dịch chiết từ rễ loài Pueraria mirifica, bao gồm: dịch chiết cồn, dichloromethane. Trong ba dịch chiết này thì dịch chiết Dichloromethan có hoạt tính estrogel mạnh nhất (Sookvanichsilp N, 2008).
- Một loạt các nghiên cứu liên quan đến tác động của các chất trong cây Pueraria mirifica trên các dòng tế bào vú trong ống nghiệm đã được thực hiện bởi Trường Đại học Emory Y khoa ở Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ, và Bộ phận sản phụ khoa,Phramongkutklao College of Medicine, Bangkok, Thái Lan. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng chiết xuất rễ củ cây Pueraria mirifica (Smith Naturals Co Ltd, Bangkok) có thể chống estrogen thuộc tính chống lại các dòng tế bào ung thư tích cực trong ống nghiệm, đặc biệt là các tăng sinh thụ thể estrogen dương tính (ER +) dòng ung thư vú (T47-D, MCF-7, và ZR-75-1) thu được từ Viện Ung thư MD Anderson (Texas) và Viện Ung thư Quốc gia (NCI) tại Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) Pueraria mirifica thúc đẩy các nguyên bào sợi trong tế bào vú bình thường và ức chế tế bào ung thư vú phụ thuộc estrogen (Chưa công bố, Sawatsri.S, et al., 2001).
2. Tác dụng chống oxy hóa
Nghiên cứu tác dụng của Miroestrol và deoxymiroestrol – các Phytoestrogen chiết xuất từ loài Pueraria candollei var. mirificatrên chuột của Udomsuk L (Udomsuk L et al, 2011) cho thấy:
- Các hợp chất này có tác dụng trên các enzyme Cytochrome P450 của gan, cụ thể: gây tăng hoạt tính benzyloxyresorufin O-dealkylase và giảm hoạt tính methoxyresorufin O-dealkylase. Kết quả này khẳng định ảnh hưởng của Miroestrol và deoxymiroestrol trên hai enzyme Cytochrome P450 là CYP2B9 (kích thích) và CYP1A2 (ức chế).
- Nghiên cứu trên tế bào não chuột: hai hợp chất này có tác dụng làm giảm sự oxy hóa lipid thôg qua sự giảm sinh malondialdehyde trong não.
- Từ phân đoạn Ethyl acetat tách từ dịch chiết cồn rễ củ loài Pueraria candollei var. mirifica Sucontphunt A đã nghiên cứu trên tế bào thần kinh đại não chuột chủng HT22 thấy có tác dụng chống oxy hóa và kháng độc với glutamat rõ ràng ở nồng độ 10 và 50 µg/ml theo cơ chế bất hoạt tác dụng của H2O2. Tác dụng thể hiện trên hình ảnh vi học tế bào và số lượng tế bào còn sống (Sucontphunt A et al, 2011).
3. Tác dụng trên chuyển hóa
Những estrogen thực vật tách từ rễ củ qua thử nghiệm tác dụng lên sự chuyển hóa lipid trên những phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh cho thấy chúng có tác dụng làm tăng đáng kể nồng độ Lipoprotein tỷ trọng cao – HDL (34%) và apolipoprotein A-1 (40%), đồng thời giảm nồng độ Lipoprotein tỷ trọng thấp – LDL (17%) và aplipoprotein B (9%). Khi xét tỷ lệ LDL/HDL và Apo B/Apo A thấy hai tỷ lệ này giảm rõ rệt (lần lượt là 37% và 35%) sau 2 tháng dùng thuốc (Okamura S, 2008).
4. Tác dụng ức chế gây đột biến
Nghiên cứu trên vi khuẩn Salmonella typhimuriumchủng TA98 và TA100 thấy dịch chiết từ hai loài Pueraria mirificaPueraria lobata không gây đột biến tế bào, mặt khác còn thể hiện rõ tác dụng ức chế đột biến liều dùng 2.5, 5, 10 và 20mg/khoanh khi sử dụng tác nhân gây đôt biến là 2-(2-furyl)-3-(5-nitro-2-furyl)- acrylamide và benzo(a)pyrene (Cherdshewasart W, 2009).

Tài liệu tham khảo
1. Yagi N, Nakahashi H, Kobayashi T, Miyazawa M (2013). Characteristic chemical components of the essential oil from white kwao krua (Pueraria mirifica). J Oleo Sci.;62(3):175-9.
2. Chatuphonprasert W, Udomsuk L, Monthakantirat O, Churikhit Y, Putalun W, Jarukamjorn K. (2013),  Effects of Pueraria mirifica and miroestrol on the antioxidation-related enzymes in ovariectomized mice. J Pharm Pharmacol.; 65(3):447-56.
3. Wiriyakarun S, Yodpetch W, Komatsu K, Zhu S, Ruangrungsi N, Sukrong S. (2012), Discrimination of the Thai rejuvenating herbs Pueraria candollei (White Kwao Khruea), Butea superba (Red Kwao Khruea), and Mucuna collettii (Black Kwao Khruea) using PCR-RFLP. J Nat Med.
4. Udomsuk L, Chatuphonprasert W, Monthakantirat O, Churikhit Y, Jarukamjorn K. (2012),  Impact of Pueraria candollei var. mirifica and its potent phytoestrogen miroestrol on expression of bone-specific genes in ovariectomized mice. Fitoterapia.;83(8):1687-92.
5. Udomsuk L, Juengwatanatrakul T, Putalun W, Jarukamjorn K. (2012), Suppression of BSEP and MRP2 in mouse liver by miroestrol and deoxymiroestrol isolated from Pueraria candollei. Phytomedicine.;19(14):1332-5.
6. Tiyasatkulkovit W, Charoenphandhu N, Wongdee K, Thongbunchoo J, Krishnamra N, Malaivijitnond S. (2012 ), Upregulation of osteoblastic differentiation marker mRNA expression in osteoblast-like UMR106 cells by puerarin and phytoestrogens from Pueraria mirifica. Phytomedicine.;19(13):1147-55.
7. Shimokawa S, Kumamoto T, Ishikawa T, Takashi M, Higuchi Y, Chaichantipyuth C, Chansakaow S. (2013), Quantitative analysis of miroestrol and kwakhurin for standardisation of Thai miracle herb 'Kwao Keur' (Pueraria mirifica) and establishment of simple isolation procedure for highly estrogenic miroestrol and deoxymiroestrol. Nat Prod Res.; 27(4-5):371-8.
8. Malaivijitnond S. (2012), Medical applications of phytoestrogens from the Thai herb Pueraria mirifica. Front Med.;6(1):8-21