BA CHẠC

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

BA CHẠC



Tên khác:  Chè đắng. Chè cỏ. Cây dầu dầu
Tên khoa học: Euodia lepta (Spreng.) Merr.; thuộc họ Cam (Rutaceae).
Mô tả: Cây nhỡ cao 2-8m, có nhánh màu đỏ tro. Lá có 3 lá chét, với lá chét nguyên. Cụm hoa ở nách các lá và ngắn hơn lá. Quả nang, thành cụm thưa, có 1-4 hạch nhẵn, nhăn nheo ở cạnh ngoài, chứa mỗi cái một hạt hình cầu đường kính 2mm, đen lam, bóng. Hoa tháng 4-5. Quả tháng 6-7.
Bộ phận dùng: Lá và rễ (Folium et Radix Euodiae Leptae).
Phân bố sinh thái: Cây mọc phổ biến khắp nước ta trên các đồi cây bụi, ở rìa rừng và trong rừng thưa, ở cả vùng đất núi và đồng bằng. Còn phân bố ở Trung Quốc, Philippin ...
Thu hái chế biến: Rễ và lá quanh năm. Rửa sạch rễ thái nhỏ và phơi khô ngoài nắng. Lá sấy khô hay phơi trong râm.
Thành phần hoá học: Rễ chứa alcaloid; lá có tinh dầu thơm nhẹ.
Tính vị, tác dụng: Vị đắng, mùi thơm, tính lạnh; có tác dụng thanh nhiệt, chống ngứa, giảm đau.
Công dụng, chỉ định và phối hợp:
1. Lá thường được dùng chữa ghẻ, mọn nhọt, lở ngứa, chốc đầu. Chữa các chứng nhiệt sinh khát nước, ho đau cổ họng, mắt mờ, trẻ em sốt cao sinh kinh giật. Ngày dùng 20-40g lá, dạng nước sắc hoặc cao. Thường nấu nước để tắm rửa hoặc xông. Có thể phối hợp với Kim ngân hoa (lượng bằng nhau) nấu nước uống.
2. Rễ và vỏ chữa phong thấp, đau gân, nhức xương tê bại, bán thân bất toại và điều hoà kinh nguyệt. Ngày uống 4-12g rễ và vỏ khô dạng thuốc sắc.
Ở Trung Quốc lá được dùng: 1. Phòng trị bệnh cúm truyền nhiễm, viêm não; 2. Ðột quỵ tim, cảm lạnh, sốt, viêm họng, sưng amydal; 3. Viêm phế quản tích mủ, viêm gan. Rễ được dùng trị: 1. Thấp khớp, đau dây thần kinh hông, đau hông; 2. Ngộ độc lá ngón. Dùng ngoài trị đòn ngã tổn thương nọc rắn, áp xe, vết thương nhiễm trùng, eczema, viêm mủ da, trĩ. Liều dùng: Lá 10-15g, rễ 9-30g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài, lấy lá tươi đắp hoặc nấu nước rửa, hoặc phơi khô và tán bột làm thuốc đắp.
Bài thuốc:
1. Dự phòng cúm truyền nhiễm và viêm não: Ba chạc 15g. Rau má 30g. Ðơn buốt 15g. Cúc chỉ thiên 15g, sắc uống.
2. Chữa mẩn ngứa, ghẻ:Hái một nắm lá to cả cành non cây ba chạc, khoảng 50 - 100g, để tươi, rửa sạch, đun sôi với 4 - 5 lít nước trong 30 phút đến 1 giờ. Đợi khi nước ấm, dùng để tắm, lấy bã xát mạnh vào các nốt ngứa ghẻ. Ngày tắm nước này một lần. Tắm đến khi khỏi.
3. Dùng cho phụ nữ sau sinh:Rễ ba chạc 10g, sắc uống thay trà hàng ngày dùng tốt cho phụ nữ sau sinh có tác dụng giúp ăn ngon, dễ tiêu, bồi bổ sức khỏe.
4. Chữa tê thấp, xương đau nhức:Lá ba chạc tươi, lá tầm gửi cây sau sau, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát băng đắp vào chỗ đau nhức. Ngày làm 1 lần, trong 7 - 10 ngày. Để tăng hiệu quả, có thể kết hợp thuốc uống trong: Thiên niên kiện 12g, rễ bưởi bung 10g, quả dành dành 8g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô ngâm với 1 lít rượu 30 - 400, để càng lâu càng tốt. Ngày uống 2 lần, mỗi lần một chén nhỏ.

BẠC HÀ Á

BẠC HÀ Á




Tên khác: Bạc hà nam
Tên khoa học: Mentha arvensis L., thuộc họ Bạc hà (Lamiaceae).
Mô tả: Cây thường tạo thành đám gồm nhiều chồi ngắn hoặc dài mọc ngầm và khí sinh cùng với những thân vuông cao 0,30-0,70m, thường phân nhánh. Lá thuôn hoặc hình ngọn giáo, dài 4-6cm, rộng 1,5-2,5cm, màu lục tới lục hồng, mép có răng. Hoa nhỏ, màu trắng, hồng hoặc tím hồng, tập hợp thành một loại bông dày đặc thường bị gián đoạn. Toàn thân có lông và có mùi thơm. Mùa hoa tháng 6-9.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Menthae), và phần cây trên mặt đất (Herba Menthae Arvensis), thường gọi là Bạc hà.
Phân bố sinh thái: Cây của vùng Âu, á ôn đới. Ở nước ta có những cây mọc hoang ở vùng núi cao và những chủng nhập trồng ở nhiều nơi. Trồng bằng thân ngầm hoặc bằng thân cây trên mặt đất cắt đoạn dài 15-30cm. Cây ưa đất xốp, giàu mùn, ẩm ướt, thoát nước nhưng đủ độ ẩm. Có thể trồng quanh năm.
Thu hái chế biến: Thu hái khi cây bắt đầu phân nhánh hoặc ra hoa, đem sấy khô ở nhiệt độ 30-400C cho đến khô, hoặc phơi trong râm. Khi đã cắt cây sát gốc, thì bón phân để cây phát triển lại và sống lâu.
Thành phần hoá học: Cây có chứa tinh dầu 0,5-1,5%, trong đó có L-menthol 65-85%, menthyl acetat, L-menthon, L-pinen, L-limonen và flavonoid.
Tính vị, tác dụng: Bạc hà có vị cay, tính mát, thơm, có tác dụng hạ sốt, làm ra mồ hôi, làm dịu họng, lợi tiêu hoá tiêu sưng, chống ngứa. Tinh dầu có tác dụng sát trùng, gây tê tại chỗ, có thể gây ức chế làm ngừng thở và tim ngừng đập hoàn toàn, kích thích sự tiết dịch tiêu hoá, đặc biệt là mật, chống sự co thắt của các cơ quan tiêu hoá và ngực. Còn có tác dụng tiêu viêm.
Công dụng: Thường dùng trị: 1. Cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, sốt, đau họng, viêm hầu, ho; 2. Giai đoạn đầu của bệnh sởi; 3. Chứng khó tiêu, đầy bụng, đau bụng; 4. Ngứa da.
Liều dùng: Mỗi lần dùng 2-6g phối hợp với các vị thuốc khác sắc uống.
Sử dụng tinh dầu: Nước xông Bạc hà (có thể phối hợp với các cây có tinh dầu khác) rất hiệu quả đối với cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, đau họng. Cũng dùng làm thuốc sát trùng và xoa bóp nơi sưng đau. Nước cất Bạc hà (sau khi gạn tinh dầu) đã bão hoà tinh dầu nên rất thơm (hoặc 1-2ml tinh dầu trong 1 lít nước đã đun sôi để nguội) dùng để pha thuốc súc miệng, làm thuốc đánh răng cho thơm và sát trùng răng miệng, họng. Có thể uống mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần 2-3 thìa cà phê để giúp tiêu hoá. Ðau bụng, ỉa chảy, uống mỗi lần 4-6 thìa cà phê vào lúc đau. Còn dùng dưới dạng cồn Bạc hà (lá Bạc hà 50g, tinh dầu Bạc hà 50g, rượu vừa đủ 1 lít) ngày dùng nhiều lần, mỗi lần 5-10 giọt cho vào nước chín mà uống.
Bài thuốc:
1. Cảm cúm, đau đầu, sổ mũi: dùng Bạc hà 5g, hạt Quan âm, Cúc hoa vàng mỗi vị đều 10g. Kinh giới 7g, Kim ngân hoa 15g, sắc uống.
2. Ðau họng: Dùng Bạc hà 5g, Ngưu bàng, Huyền sâm, Cát cánh, Cam thảo mỗi vị 10g sắc uống.
Ghi chú: Phụ nữ cho con bú không nên dùng nhiều, vì nó giảm sự tiết sữa. Húng cây - Mentha arvensis L. var, javanica (Blume) Hook, là một thứ của Bạc hà thường trồng vì lá thơm, cũng dùng làm thuốc. Nó có vị cay tính ấm, có tác dụng thông phế khí, giải ban, tán hàn, giải biểu, thông thần kinh.

BẠC BIỂN

BẠC BIỂN



Tên khoa học: Messerschmidia argentea (L. f.) I.M. Johnst.), thuộc họ Vòi voi (Boraginaceae).
Tên đồng nghĩa: Tournefortia argentea L. f. (Boraginaceae). thuộc họ Vòi voi (Boraginaceae).
Mô tả: Cây gỗ nhỏ cao 3-4m, gốc to 20cm. Lá mọc khít nhau ở ngọn các nhánh; phiến lá hình trái xoan thuôn, dài 10-16cm, rộng cỡ 6cm, đầy lông như nhung màu trắng bạc, gân phụ khó nhận; cuống không có. Xim bò cạp kép, hoa xếp theo hai hàng, màu trăng trắng, lá đài 5; tràng có ống ngắn với 5 thuỳ xoan nhọn; 5 nhị, đính gần gốc tràng. Quả hạch tròn bẹp, vàng vàng lúc chín, to 5-8mm. Mùa hoa tháng 3 - 6, mùa quả tháng 10 - 12. Tái sinh bằng hạt và cành.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Argusiae).
Phân bố sinh thái: Loài phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam. Ở Việt Nam, cây mọc ven bờ biển từ Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa, đến Ninh Thuận, Bình Thuận; cũng gặp ở các đảo ven bờ như Cồn Cỏ (Quảng Trị), đảo xa bờ như Côn Đảo, Bảy Canh (Bà Rịa - Vũng Tàu) và quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa).
Cây mọc ven biển và hải đảo. Ưa sáng, có khả năng chống chịu hạn và gió bão, chịu mặn và bụi nước mặn, sống được trên cát san hô.
Thành phần hóa học:  Pyrrolizidin alkaloid.
Công dụng: Kinh nghiệm dân gian miền biển Khánh Hoà và một số vùng khác thường lấy lá làm thuốc trị nọc rắn biển cắn.

BẤC- Ðăng tâm thảo

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

BẤC



Tên khác: Bấc lùng, Cỏ bấc đèn.
Tên khoa học: Juncus effusus L., thuộc họ Bấc - Juncaceae.
Mô tả: Cây thảo sống lâu năm; thân tròn, cứng, mọc thành cụm dầy, cao độ 0,35-1,20m, đường kính thân 1,5-4mm; mặt ngoài màu xanh nhạt, có vạch dọc. Ruột thân (lõi) cấu tạo bởi các tế bào hình ngôi sao, để hở nhiều lỗ khuyết lớn. Lá bị giảm rất nhiều, chỉ còn bẹ ở gốc thân, màu hoe hoe hay nâu. Cụm hoa như ở cành thân; nhánh nhiều, mảnh. Hoa đều, lưỡng tính, màu xanh; bao hoa khô xác, gồm 6 phiến hẹp, nhọn; nhị 3; bầu 3 núm. Quả nang tròn, hơi dài hơn bao hoa; hạt nhỏ. Hoa tháng 5-6; quả tháng 6-7.
Bộ phận dùng: Lõi thân hay ruột bấc  (Medulla Junci); thường có tên là Ðăng tâm thảo.
Phân bố sinh thái: Cây mọc hoang dại ở những nơi ẩm lầy, gặp nhiều ở Nam Hà, Ninh Bình, Lâm Ðồng. Cũng được trồng để lấy bấc và để làm thuốc.
Thu hái: Vào tháng 9-10, cắt toàn cây về, rạch dọc thân để lấy lõi riêng ra, bó thành từng bó, phơi hay sấy khô tới độ ẩm dưới 10%. Có thể dùng nguyên sợi bấc hoặc làm thành bột. Muốn tán bột, tẩm bấc với nước cơm rồi phơi khô mới dễ tán. Sau đó cho vào nước, vớt bột nổi ở trên mà dùng.
Thành phần hoá học: Trong cây có araban, xylan, methyl pentosan, phlobaphen.
Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt, tính hơi hàn; có tác dụng mát tim phổi, lợi tiểu tiện.
Công dụng: Thường dùng trị tâm phiền mất ngủ, sốt, tiểu tiện khó khăn, đái dắt, miệng lưỡi lở, viêm họng.
Liều dùng: 4-8g/ngày dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.
Ðơn thuốc:
1. Chữa tiểu tiện ít, phù thũng, kém ngủ: Ðăng tâm 8g, nước 250ml. Ðun sôi trong 15 phút, chia làm 3 lần uống trong ngày.
2. Chữa tâm phiền, miệng khát: Bấc đèn 4g. Lá tre, Mạch môn mỗi vị 12g, sắc uống.
3. Chữa các chứng lậu, đái buốt, đái đục, đái ra máu: Cỏ bấc đèn, Rễ cỏ tranh, mỗi vị 8g, sắc uống.

BA BÔNG

BA BÔNG



Tên khác: Cỏ mao vĩ đỏ, Rau chua.
Tên khoa học: Aerva sanguinolenta(L.) Bulume, thuộc họ Rau dền (Amaranthaceae).
Tên đồng nghĩa: Achyranthes sanguinolenta L.; Aerva scandens Wall.; thuộc họ Rau dền (Amaranthaceae).
Mô tả: Cây thảo có thân và nhánh yếu, mọc trườn và đâm rễ ở các mấu, đứng hoặc mọc leo, có lông, nhất là ở phía trên. Lá dài 2-3cm, có cuống 5-10mm, có lông dày ở mặt dưới. Hoa trắng thành bông dày, hình trứng hay thuôn, rồi hình trụ, dài 0,6-2cm, có lông nhung, không cuống, có bông phía ngọn xếp 2-5 (thường là 3) cái thành chuỳ ngắn. Hoa nhỏ cao 3,5mm; 5 nhị xen với 4-5 nhị lép. Quả bố mỏng, mở không đều, chứa một hạt đen bóng. Mùa hoa tháng 12-2. Quả tháng 4.
Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Aervae).
Phân bố sinh thái: Loài cây cổ nhiệt đới, mọc hoang nơi khô hay ẩm dưới tán cây rừng đến độ cao 2000 mét, từ Lai Châu đến Lâm Ðồng, Ðồng Nai.
Công dụng:
- Chỉ mới được dùng trong dân gian làm thuốc bổ huyết, chữa người bị khô da, thiếu máu và trị phù thũng.
- Ở Lào dùng làm thuốc nhuận tràng.
- Ở Vân Nam (Trung Quốc), rễ và hoa được dùng làm thuốc dùng sống để phá huyết, lợi thấp; sao lên dùng bổ can thận, cường cân cốt, trị ho của người già và băng huyết ra máu đỏ (hồng băng).

BA BÉT NHIỀU HOA

BA BÉT NHIỀU HOA


Tên khoa học: Mallotus floribundus (Blune) Muell. Arg.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Tên đồng nghĩa: Mallotus annamiticus Kuntze; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Tên khác: Bạch đàn.
Mô tả: Cây nhỡ, nhánh non không lông. Lá mọc so le hay mọc đối, phiến lá hình lọng dài 5-9cm, không lông, mặt dưới có tuyến vàng, gân từ gốc 5-7; cuống dài. Cụm hoa chùm; hoa đực có 3 lá đài, khoảng 25 nhị; hoa cái có 2 lá đài, bầu có 3 vòi nhuỵ. Quả nang tròn, to 12mm. Mùa hoa quả tháng 8-9.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Malloti).
Nơi sống và thu hái: Cây mọc ở các đồi cây bụi rìa rừng nhiều nơi từ Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam- Ðã Nẵng, Khánh Hoà cho tới Kiên Giang (đảo Phú Quốc).
Thành phần hoá học: Hạt chứa dầu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá dùng nấu uống như trà. Rễ sắc uống trị sốt sau khi sinh và dùng trị đau dạ dày và ỉa chảy.

A KÊ

A KÊ



Tên khác: Akee
Tên khoa học: Blighia sapida Koen; thuộc họ Bồ Hòn (Sapindaceae).
Mô tả: Cây gỗ cao 12-13m, thẳng, cso tán xoè rộng và các nhánh cứng. La to mang 8 lá chét gần như mọc đối, hình bầu dục thuôn dài, dài đến 13cm, rộng 5cm, không lông, màu ôliu tươi, lúc khô gan rất lồi ở mặt dưới. Chùm hoa 1-2 ở nách lá có lông mịn, cuống hoa dài 1,5cm; lá dài 5; cánh hoa 5 màu trắng, hẹp, có một vảy to ở gốc; nhị 8; bầu 3 ô có vòi nhuỵ ngắn. Quả nang dài từ 7-10cm hình tam giác, màu vàng hay đỏ tươi, mở thành 3 mảnh: hạt 3, tròn, bóng loáng, mang áo hạt to ở gốc màu trắng, bao đến 1/2 hạt.
Phân bố: Loài cây mọc ở Trung Phi, được nhập trồng ở Đồng Nai làm cây cảnh.
Bộ phận dùng: Áo hạt, lá, vỏ và quả (Arillus, Folium et Fructus Blighiae).
Thành phần hoá học:Áo hạt chứa 69,2% nước, 5% protid, 20% lipid, 4,6%5 glucid, 1,2% tro, 40% Ca, 16 mg% P,  2,7 mg% Fe. Cuống noãn giữa hạt và áo hạt chứa 2 chất độc mà một chất là hypoglucin A. Quả chứa những nhân tố làm giảm glycoza huyết thông thường (amino acid cyclopropanoid, hypoglucin A và hypoglucin B) đều là chất độc có thể dùng thay insulin. Tro quả chứa nhiều Kalium.
Tính vị, tác dụng: Áo hạt cứng có dầu và có mùi vị của hạt dẻ, dùng ăn được. Ở Châu Âu, người ta cho đó là một thức ăn làm ngon miệng, khi đem nấu chín trong bơ hoặc với cá biển. Tác dụng trị lỵ và sốt, chữa cảm lạnh và chảy mủ, giảm đau, chống độc, chống nôn, cũng là chất độc và kích thích ...
Công dụng, Cách dùng: Áo hạt được dùng là thuốc trị lỵ và sốt. Lá (và vỏ) sắc nước uống lợi tiêu hoá, cũng dùng chữa cảm lạnh và chảy mủ. Nhiều bộ phận khác của cây được xem như làm giảm đau, chống độc, chống nôn, cũng là chất độc và kích thích. Được dùng làm thuốc trị viêm kết mạc, phù thũng, đau nửa đầu, đau mắt, viêm tinh hoàn, loét, ghẻ cóc và sốt vàng da.