BÁCH BỘ ĐỨNG

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

BÁCH BỘ ĐỨNG



Tên khoa học: Stemona collinsaeCraib, thuộc họ Bách bộ (Stemonaceae).
Mô tả: Rễ nạc, số lượng thay đổi, to bằng ngón tay. Thân mọc đứng, cao 10-50cm, phân nhánh, mọc bò hay quấn, màu đo đỏ, tối. Lá mọc so le, dạng tim, kéo dài, nhọn, dài 6-8cm, rộng 5-6cm; gân chính 9-13 màu đỏ. Hoa ở nách lá, xếp 1-2 cái, màu đo đỏ hay trắng lục, các mảnh ngoài hình dải, nhọn mũi, dài 22-23mm, rộng 4mm; 2 mảnh trong hình ngọn giáo, thuôn, dài 22mm, rộng 7,5mm. Quả dạng quả nang, hình nón dẹp, cao 1cm, nở thành hai van, chứa 2 hạt có áo hạt trắng và xẻ tua.
Bộ phận dùng: Thân rễ (Radix Stemonae). Khi tươi màu trắng, sau trở thành vàng và quắt lại khi già và thô. Lúc non dễ bị bẻ gãy, trừ lôi giữa của củ dạng sợi hoá gỗ.
Phân bố sinh thái: Cây của Nam Việt Nam, Campuchia, Lào và Thái Lan thường gặp trong các ruộng, rẫy, các chỗ trống và đất chứa cát.
Công dụng:
- Ở Lào, người ta gọi cây này là Hak sam sip, đó là loại củ trừ mối rất có hiệu quả. Kết quả thử nghiệm được nêu lại như sau: "Người ta nghiền 100g rễ Bách bộ đứng và ngâm trong một lít nước trong hai giờ, và ngâm vài miếng gỗ mềm vào trong đó trong 24 giờ. Các mảnh gỗ này được đặt vùi trong tổ mối và đặt ở lối ra vào của mối, trong thời gian 48 giờ. Không có mảnh gỗ nào bị mối phá hại, và mối đều tránh không đụng đến chúng. Người ta lại rưới nước ngâm rễ Bách bộ đứng này vào tổ mối, đến lần rưới thứ hai mối bắt đầu di chuyển và bỏ hoàn toàn tổ mối.
- Người Lào còn dùng Bách bộ đứng dưới dạng nước xông diệt chấy rận vv...
Ghi chú: Ở nước ta còn có một số loài Bách bộ đứng, cũng được sử dụng.

BÁCH BỘ

BÁCH BỘ



Tên khác: Củ ba mươi, Củ rận trâu, Dây dẹt ác
Tên khoa học: Stemona tuberosaLour; thuộc họ Bách bộ (Stemonaceae).
Mô tả: Dây leo có thân mảnh, nhẵn, dài đến 6-8m, ở gốc có nhiều rễ củ mọc thành chùm, 10-20 hoặc 30 củ (Củ ba mươi), có khi tới gần một trăm củ, dài 15-20cm, rộng 1,5-2cm. Lá mọc đối hay so le, giống lá Củ nâu, nhưng đặc biệt có hệ gân ngang dày song song với các gân chính hình cung, dài 10-15cm, rộng 4mm, mặt ngoài màu vàng lục, mặt trong màu đỏ tươi, có mùi thối; 4 nhị dài 4-5cm. Quả nang chứa nhiều hạt. Cây ra hoa tháng 3-6 có quả tháng 6-8 .
Bộ phận dùng: Rễ củ (Radix Stemonae), thường được gọi là Bách bộ.
Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Ấn Độ, Malaixia, mọc hoang ở vùng đồi núi, trên sườn núi, ven suối. Có thể thu hoạch củ vào mùa xuân hoặc mùa thu. Cắt bỏ rễ con, rửa sạch, nhúng trong nước sôi, hoặc đồ vừa chín. Loại nhỏ để nguyên, loại to bổ dọc dài, phơi nắng hoặc sấy khô.
Thành phần hoá học: Trong rễ củ có các alcaloid, chủ yếu là stemonin, tuberostemonin, isotuberostemonin, hypotuberostemonin, oxytuberostemonin, stemin, stenin; glucid 2,3%, lipid 0,83%; protid 9,0%; acid hữu cơ (citric, formic, malic, suecinic...).
Tính vị, tác dụng: Củ có vị đắng, tính hơi ấm, hơi có độc, có tác dụng nhuận phế, sát trùng, diệt sâu, trừ ngứa. Người ta đã biết intemonin có tác dụng làm giảm tính chất hưng phấn của trung khu hô hấp của động vật, có tác dụng ức chế phản xạ của ho, còn làm cho giun bị tê liệt, làm chết rận rệp và có bệnh lỵ, bệnh phó thương hàn.
Công dụng: Thường dùng trị: 1. Viêm khí quản, lao phổi, ho gà; 2. lỵ amip; 3. Bệnh giun móc, giun đũa, giun kim; 4. Tình trạng ngứa ngáy da, eczema, viêm da. Còn dùng diệt bọ chét, rệp, chấy rận và sâu bọ.
Cách dùng, liều dùng: Ngày dùng 4-12g, dạng thuốc sắc, thuốc viên hay thuốc bột, uống liều 4-6 ngày. Dùng ngoài, ngâm trong cồn, đun sôi trong nước, hoặc nấu cao để bôi, hay nghiền bột mà dùng.
Bài thuốc:
1. Hen khí quản: Bách bộ, Tử uyển, nhân hạt Mơ, mỗi vị 10g, Bối mẫu 6g, sắc uống.
2. Ho gà: Bách bộ, Hạ khô thảo, mỗi vị 10g sắc uống.
3. Tẩy giun kim: Bách bộ nấu nước thụt.
Ghi chú: Người tì vị hư yếu không dùng. Dùng nhiều sẽ gây ngộ độc. Giải độc bằng nước ép Gừng tươi hoặc thêm một ít giấm ăn.

BÁCH BỆNH

BÁCH BỆNH



Tên khác: Bá bịnh, Bách bệnh, Mật nhơn, Mật nhân, Lồng bẹt, hay Hậu phác nam, nho nan (Tày), Tongkat ali (Malaysia), Pasak bumi (Indonesia), Longjack (Anh quốc).
Tên khoa học: Eurycoma longifolia jack subsp longifolia, thuộc họ Thanh thất (Sinaroubaceae).
Mô tả: Cây nhỡ, cao 2-8m, có lông ở nhiều bộ phận. Lá kép gồm 10-36 đôi lá chét, không cuống, mọc đối, mặt trên xanh bóng, mặt dưới trắng xoá; cuống lá màu nâu đỏ. Cụm hoa hình chùm kép hoặc chùm tán mọc ở ngọn, cuống có lông màu gỉ sắt. Hoa màu đỏ nâu. Quả hình trứng, hơi dẹt, có rãnh giữa, khi chín màu vàng đỏ, chứa một hạt, trên mặt hạt có nhiều lông ngắn. Mùa hoa quả tháng 3 đến tháng 11.
Bộ phận dùng: Toàn cây, chủ yếu là rễ (Herba Radix Eurycomae).
Phân bố sinh thái: Cây của vùng Ấn Độ - Mailaixia, mọc hoang ở vùng núi, trong các rừng thưa, dưới tán các cây gỗ lớn. Phổ biến nhất là miền Trung và các tỉnh Tây Nguyên.
Thu hái: Có thể thu hái rễ quanh năm, phơi khô hay sấy khô.
Thành phần hoá học: Các hợp chất triterpen (Niloticin, dihydroniloticin, piscidinol A, bourjotinolon A, episapelin A, melianon, hyspidron). Các alcaloid (carbolin, 9,10-dimethoxycanthin), chất đắng (Eurycomalacton).
Tính vị, tác dụng: vị đắng, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi thấp, lợi tiểu, lương huyết, chỉ lỵ.
Công dụng: Bách bệnh làm thuốc chữa chàm trẻ em, thân, rễ làm thuốc chữa sốt, tiểu tiện ra máu, chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, chướng bụng. Một số tài liệu nghiên cứu gần đây cho rằng nước sắc Bách bệnh có hoạt tính kích thích sinh dục nam.
Cách dùng, liều dùng: Ngày 4-6g dưới dạng thuốc sắc hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Bài thuốc:
1. Chữa sốt, ngộ độc, say rượu: Rễ Bá bệnh 20g sắc uống.
2. Chữa chàm ở trẻ em, chữa lở ngứa, ghẻ:Lá Bá bệnh đun nước tắm, rửa sạch chỗ bị chàm rồi giã nát đắp lên.
3. Kích thích tiêu hóa, chữa chứng ăn không tiêu: Vỏ thân Bá bệnh 12g, Trần bì 8g, Can khương 4g, Đậu khấu 6g, Xích phục linh 12g, Cam thảo 4g. Sắc uống mỗi ngày một thang.
4. Chữa phụ nữ kinh nguyệt không thông, đau bụng lúc có kinh, nhức mỏi chân tay: Rễ, vỏ thân Bá bệnh 15g, sắc uống ngày 2 lần.
Kiêng kỵ: Phụ nữ đang mang thai thì không được dùng.

Hướng dẫn thu mẫu và làm tiêu bản cây thuốc


Hướng dẫn thu mẫu và làm tiêu bản cây thuốc


Thu thập mẫu từ thực địa
- Khi thu mẫu phải nắm được các quy định về pháp luật (Các loài thuộc sách đỏ, các loài, các khu vực cấm thu mẫu)
- Cần có hiểu biết, làm quen với các cây độc, các cây dễ gây dị ứng... Ví dụ Cây Sơn (Rhus verniciflua) dễ gây lở (lỏ sơn), các loài han gây ngứa, không để các chất độc,nhựa rơi vào mắt, đường hô hấp,  mồm...
- Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết: Dụng cụ chặt, đào như dao, kéo, búa rìu, thuổng, thước đo, cặp ép..
- Thu thập thực vật nhỏ, các bộ phận nhỏ cần có ống nhựa vặn nút kín (có thể đổ dung dịch cố định vào trước). Thu thập cây dưới nước và ở đầm lầy cần phải có túi nhựa, túi polyethylen, nên dùng loại túi kép.
- Ghi chép vào sổ tay riêng, sử dụng bút chì đen thường (Không dùng bút chì hoá học).
- Cần có một bộ nhãn, chỉ để buộc vào từng mẫu tương ứng với ghi chép ngoài thực địa trong sổ tay.
- Kích thước mẫu tiêu bản tiêu chuẩn trên thế giới là 41x 29 cm nên mọi mẫu vật thực vật cần phải bố trí theo tiêu chuẩn đó. Cây to hoặc dày bằng mọi cách cần phải làm cho có kích thước phù hợp với kích thước mẫu tiêu bản. Mẫu dày, cồng kềnh phải chẻ ra, sấy khô để khâu lên tiêu bản. Cây lớn có thể lấy từng phần nhỏ.
- Trong tự nhiên các cá thể trong cùng một loài có thể có những đặc điểm khác nhau về mặt hình thái nên thông thường phải chọn các mẫu tiêu biểu và thu mẫu ít nhất từ 2-3 cá thể.
- Cây thảo, nhỏ thường thu cả cây, cố gắng thu nhiều mẫu ở các thời gian sinh trưởng, phát triển khác nhau kèm hoa, quả, hat...
- Khi đào rễ cần chú ý tới những lá khô ở gốc (đôi khi có thể giúp ích cho việc định loại), rửa hệ rễ và làm cho ráo nước (nếu có thể được).
- Ghi chép ngoài thực địa cần chú ý tới các dẫn liệu màu sắc, mùi vị, các tư liệu về địa chất. Cần ghi chép tại chỗ (Không được tin vào trí nhớ vì có thể quên, nhầm lẫn). Nên ghi số lên nhãn và buộc vào mẫu bằng chỉ dai.
- Có thể sử dụng các phương tiện chụp ảnh, quay phim để ghi lại các đặc điểm giảm nhẹ quá trình ghi chép.
- Mẫu mới thu có thể đặt giữa hai lớp giấy bản hoặc báo. Thời gian giữ mẫu trong cặp ép đi thực địa phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và bản chất của mẫu, tránh quá nóng, ẩm (dễ làm rụng lá ở tiêu bản).

Sấy mẫu tiêu bản
- Ép và sấy cho cây khô là hai quá trình không tách rời nhau, trong khi sấy cần ép chặt mẫu để lá khỏi nhăn nheo, để mẫu cây nằm đúng vị trí định khâu mẫu.
- Mẫu cây thu từ thực địa đem về nơi xử lý thường bị héo ít nhiều. Sắp xếp mẫu cây trên giấy để cố định trước khi sấy. Thường đặt trên tờ báo có kích thước lớn gấp đôi kích thước mẫu (một nửa làm nền,một nửa gập đậy lên). Khi sắp xếp cần tuân thủ một số nguyên tắc:
    +  trong số các lá ít nhất có một lá được lật ngược lên.
    + Không để các bộ phận của cây đè lên nhau
    + Nếu có hoa sắp xếp ép để có thể nhìn thấy được bên trong hoa.
    + Cần sắp xếp đều trên diên tích cho phép (không tập trung vào phần giữa).
    + Cây dài có thể sắp xép theo hình chữ  V, N hay hình khác.
    + Nếu cần bỏ lá chú ý giữ cuống lá (để thấy được sự sắp xếp lá trên cây).   
    + Những phần nhỏ (hoa, lá) bị rụng cần đặt bên cạnh mẫu.
    + Các bộ phận sử dụng làm thuốc có thể bảo quản bằng cách phơi sấy khô hoặc ngâm trong các dịch bảo quản.
Sau khi xếp mẫu lên tờ báo gập nửa tờ báo còn lại lên trên mẫu. Đặt các mẫu lên cặp ép (không dày quá 40cm) buộc cặp ép lại sấy ở 35-400C trong khoảng 8-12h. Trong quá trình sấy cần thường xuyên thông thoáng. Lấy cặp ép ra buộc lại, sấy cho đến khô.

Khâu mẫu cây lên tiêu bản
Giấy để khâu có kích thước 41 x 29 cm, thường làm bằng bìa trắng, với mẫu lớn hay mẫu gỗ cần có giấy dày, chắc hơn. Đặt mẫu cây thuốc đã ép. và sấy khô lên bìa và khâu vào bìa, dán giấy lên trên các nốt khâu ở mặt trái. Khi mẫu đã khâu xong ở góc phải phía dưới của tiêu bản người ta dán nhãn vào. Kích thước nhãn 8 x13 cm. Nội dung nhãn gồm các thông tin:
Số hiệu tiêu bản
Tên, họ khoa học
Tên thường gọi, tên địa phương
Đặc điểm
Nơi thu mẫu
Công dụng
Ngày thu mẫu
Tên người thu mẫu
Người và ngày định tên
Cơ quan nghiên cứu

Bảo quản mẫu tiêu bản khô
Mẫu cần bảo quản nơi khô ráo, tránh nấm mốc, mối mọt. Sắp xếp mẫu theo các quy ước để dễ tìm, tra cứu khi cần thiết.

Bảo quản tiêu bản thực vật trong chất lỏng
Mẫu nhỏ có thể gắn trên bản kính và ngâm trong dung dịch có thành phần: 

Ethanol (90%)           20ml
Nước cất                  10ml
focmalin                   1ml
Acid acetic đđ           1 ml                
Có thể thêm CuSO4 hoặc đồng acetat để giữ màu xanh của các mẫu cây.
Các mẫu dược liệu sử dụng để trưng bày hay để học tập có thể bảo quản trong chất định hình lỏng. Chất định hình chuẩn thường là dung dịch formalin 4-6% hoặc sử dụng dịch định hình có thành phần:   

       Phenol            20g                                
       Acid lactic đđ  20g                               
       Glycerin          20g                               
       Nước              20ml                             
       CuCl2             0,2g                              
            Acetat đồng    0,2g                 

BẠC HÀ LỤC

BẠC HÀ LỤC



Tên khoa học: Mentha spicata (L.) E.M. Huds, thuộc họ Bạc hà (Lamiaceae).
Mô tả: Cây thảo đứng, cao 0,3-1,3m, thân vuông phân nhánh và hoa nhẵn. Lá không cuống, phiến hình ngọn giáo, nhọn, dài 1-6cm, rộng 3-17mm, mép có răng cưa, gần như nhẵn, gân phụ 7-8 cặp. Cụm hoa ở ngọn, mang nhiều xim co trên cuống, đài có răng nhọn, tràng có môi trên lõm, môi dưới 3 thuỳ tròn, màu hồng hoa cà; nhị hơi dài hơn tràng; vòi chẻ 2. Quả bế đen. Hoa tháng 7-8, quả tháng 8-9 .

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Menthae Spicatae), thường gọi là Lưu lan hương.
Phân bố thu hái: Cây được nhập trồng làm cây thuốc nhưng còn hiếm, có thể thu hái cây vào tháng 5 đến tháng 8.
Thành phần hoá học: Trong tinh dầu có chứa caryone, L-limonen và phellandren.
Tính vị, tác dụng: Vị cay thơm, tính ấm, có tác dụng sơ phong, lý khí, chỉ thống.
Công dụng
- Cây thường dùng trị: cảm mạo, ho, đau đầu, bụng đầy trướng, đau bụng kinh.
- Cây được trồng lấy tinh dầu dùng làm hương liệu chế kem đánh răng. Còn được dùng trong ngành Y tế. Có nơi ở Bắc Phi, người ta dùng nước sắc lá Lưu lan hương chữa đau về mật, đau bụng kinh, đau bụng, khó tiêu viêm đau răng lợi. Lá giã đắp làm dịu đau thấp khớp và trừ sốt rét.

BA CHẠC Poilane

BA CHẠC Poilane



Tên khoa học: Euodia poilanei. Guill; thuộc họ Cam (Rutaceae).
Mô tả: Cây gỗ nhỏ cao đến 5m. Nhánh nâu -đen, có lông mềm ngắn, với lỗ bì kéo dài, sáng. Lá kép lông chim chẵn hay lẻ. Lá chét 3-6 cặp, bầu dục, dài 9-25cm, rộng 4-7cm, gần tròn ở gốc, có mũi nhọn ngắn ở đầu, có những tuyến nhỏ màu đen ở dưới, ở lông mềm thưa, nhất là ở phía dưới. Hoa hồng sáng hay đo đỏ, thành cụm hoa gần hình cầu, ở nách lá về phía cuối các cành ngọn. Quả nang, có 5 hạch, rộng khoảng 1cm, có u do những tuyến to ở ngoài. Hạt dài 4mm, gần như cú 3 cạnh, nhọn ở đầu cuối, màu đen bóng.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Euodiae).
Phân bố: Mới gặp trên các ngọn núi cao ở tỉnh Lào Cao.
Công dụng: Quả được dùng sắc uống chữa bệnh đường hô hấp.

BẠC HÀ CAY

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

BẠC HÀ CAY


Tên khác: Bạc hà Âu
Tên khoa học: Mentha piperitaL., thuộc họ Bạc hà (Lamiaceae).
Mô tả:
Thân vuông cao 40-80cm, thường có màu tím. Lá mọc đối, hình trái xoan - nhọn; mảnh, ít lông, dài 4-8cm, rộng 1,5-2,5cm, màu lục tới lục - đo đỏ, mép có răng thô. Hoa xếp thành vòng tụ họp thành bông dày đặc ở ngọn thân, mỗi hoa dài cỡ 8mm, hơi có hai môi, tràng hoa màu tía hay hồng đỏ. Có nhiều chủng được trồng khác nhau bởi màu sắc lá thân, bởi mùi vị của tinh dầu, như Bạc hà trắng (var. officinalis Sole. f. pallescens Camus), Bạc hà đen (var. officinalis Sole f. rubescens Mitcham).
Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất - Herba Menthae Piperitae; người ta cũng dùng lá và tinh dầu.
Phân bố sinh thái: Loài được nhập từ Pháp và Liên Xô (cũ), Ðức từ những năm 1956-1962 vào nước ta.
Thu hái chế biến: Bạc hà cay nhân giống bằng các đoạn thân cành, nhất là các thân ngầm. Sau 2-3 tháng đã có thể thu hái, năng suất hàng năm trên một ha là 14,4-19,2 tấn, cho hàm lượng tinh dầu 0,16-0,30% và hàm lượng menthol là 30-48%. Có thể thu hái mỗi năm hai kỳ, kể từ khi cây bắt đầu phân nhánh hoặc bắt đầu ra hoa. Phơi nhẹ ở nhiệt độ dưới 350C trong râm càng tốt. Ở nước ta, Bạc hà cay cho năng suất tinh dầu chưa cao nên chưa được phát triển.
Thành phần hoá học: Lá chứa nhiều hợp chất flavonoid (heterosid của flavon), triterpen, carotenoid. Tinh dầu chiếm đến 1-3% trọng lượng khô. Thành phần tinh dầu thay đổi tuỳ theo nhiều yếu tố: di truyền, thời vụ trồng, cách trồng, điều kiện khí hậu. Các thành phần chính là: menthol (30-50%), menthon (20-35%), acetat menthyl (4-10%), menthofuran (2-10%) + isomenthon + pulegon,- piperiton, neomenthol, octan 3 ol và nhiều carbur.
Tính vị, tác dụng: Bạc hà cay có vị cay, mùi thơm tính ấm. Tinh dầu Bạc hà cay có mùi thơm mát, không hắc như tinh dầu Bạc hà. Có tác dụng sát trùng, làm dịu và chống co thắt nhất là đối với ống tiêu hoá. Nó kích thích sự tiết các dịch tiêu hoá, nhất là mật, cũng có tác dụng tiêu viêm.
Công dụng: Cũng được dùng như Bạc hà. Bạc hà cay dùng làm thuốc lợi tiêu hoá, chống co thắt ruột, trướng bụng, vàng da, sỏi mật. Dùng xông chữa cảm cúm và đau họng. Tinh dầu của nó dùng làm hương liệu trong công nghiệp dược phẩm và các chế phẩm có liên quan (thuốc đánh răng) công nghiệp thực phẩm, nước uống, mứt kẹo, thuốc lá, hương liệu. Menthol cũng dùng như tinh dầu để làm hương liệu. Trong y học, Menthol tham gia vào loại kem chống ngứa và trong các sản phẩm vệ sinh cho cơ thể.
Cách dùng, liều lượng: Dùng dưới dạng thuốc xông, thuốc hãm 12-20g mỗi ngày.
Bài thuốc:
1. Cảm cúm, đau đầu, sổ mũi: Dùng Bạc hà 5g, hạt Quan âm, Cúc hoa vàng mỗi vị đều 10g. Kinh giới 7g, Kim ngân hoa 15g, sắc uống.
2. Ðau họng: Dùng Bạc hà 5g, Ngưu bàng, Huyền sâm, Cát cánh, Cam thảo mỗi vị 10g sắc uống.
Ghi chú: Bạc hà cay được sử dụng là một loài lai giữa Mentha aquatica L. và M. spicata L.