Bảo quản dược liệu bằng chiếu xạ

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

Ở Việt Nam, lượng dược liệu bị mối mọt lên đến 15 - 20% và dược liệu bị nhiễm nấm mốc vào khoảng 12 - 28%. Các nhà khoa học đã khắc phục tình trạng trên bằng phương pháp chiếu xạ.

Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội phối hợp với Bộ môn côn trùng, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Dược Hà Nội và một số cơ sở sản xuất dược liệu tìm thấy khoảng 40 loài côn trùng gây hại có mặt trong các loại dược liệu khảo sát.


Nấm mốc có thể tiết ra độc tố
Các kiện hàng đông dược, dược liệu chờ chiếu xạ tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội. Ảnh: Q. Minh
Không chỉ các dược liệu nguồn gốc tinh bột mà cả những loại nghèo dinh dưỡng, thậm chí dược liệu chứa tinh dầu cũng bị côn trùng tấn công. Nghiên cứu về mức độ nhiễm nấm mốc cho thấy có trên 1.400 chủng nấm mốc thuộc 43 loài có mặt trong 35 loại dược liệu khảo sát.


Các loài nấm mốc này đều có khả năng phát triển rất nhanh, gây tổn thất lượng dược liệu lớn, thậm chí một số loài có thể tiết ra các độc tố, ảnh hưởng tới chất lượng dược liệu và sức khỏe người dùng.


Những năm qua, nhiều biện pháp diệt trừ côn trùng, nấm mốc trong dược liệu đã được nghiên cứu. Các biện pháp chủ yếu để làm sạch và bảo quản đông dược gồm xử lý nhiệt, phun thuốc trừ sâu trong quá trình trồng thảo dược, phun hóa chất sau khi thu hoạch, xông hơi lưu huỳnh hay khử trùng bằng các loại khí độc như ethylene oxide (EtO)…


Các biện pháp trên có nhiều nhược điểm như không xử lý hoàn toàn và triệt để, dư lượng hóa chất khử trùng trong sản phẩm vẫn còn. 
Phương pháp xử lý chiếu xạ
Các nhà nghiên cứu đã chiếu xạ các mẫu đương quy bị sâu mọt từ kho chứa dược liệu của công ty Dược phẩm Trung ương I với dải liều chiếu từ 0,25-1,0 kGy. Kết quả thu được cho phép khẳng định liều chiếu 0.25 kGy là đủ tiêu diệt các loại ấu trùng, côn trùng gây hại xâm nhiễm vào dược liệu cũng như ngăn cản sự tái nhiễm của côn trùng trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội.
Chiếu xạ dễ xử lý các kiện hàng
Theo kết quả nghiên cứu, thành phần, chất lượng dược liệu đã được xử lý chiếu xạ không có sự thay đổi nào kể cả về hình thức cảm quan sau 3 tháng bảo quản. Việc xử lý chiếu xạ gamma liều chiếu dưới 8 kGy không ảnh hưởng đáng kể tới độ ẩm dược liệu trong quá trình bảo quản; không bị côn trùng, nấm mốc xâm nhập sau 6 tháng bảo quản..


Các nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của dược phẩm đông y chiếu xạ lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa động vật cũng không cho thấy sự khác biệt nào về các chỉ tiêu sinh hóa và huyết học. Những thay đổi đó chủ yếu xảy ra theo hướng tăng cường sức đề kháng của cơ thể như tác dụng chung của thuốc. Kết quả thu được đã chứng tỏ tính an toàn của dược phẩm được xử lý bằng chiếu xạ đối với người sử dụng.


Ngoài khả năng tiêu diệt, chống tái nhiễm các loại côn trùng gây hại dược liệu phương pháp này còn thanh trùng, giảm thiểu sự có mặt của các chủng nấm mốc gây hại trong sản phẩm. Đây là công nghệ sạch, hiệu quả, dễ vận hành và an toàn hơn so với các biện pháp khử trùng khác.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành QĐ775/QĐ-TTg ngày 2.6.2010 về quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng bức xạ trong nông nghiệp đến năm 2020 và Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình đến năm 2020 trong đó có mục tiêu đẩy mạnh, mở rộng, nâng cao hiệu quả các ứng dụng năng lượng bức xạ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ đó, phương pháp bảo quản hàng hoá bằng bức xạ sẽ được ứng dụng rộng rãi với nhiều loại hàng hoá nhằm phục vụ đời sống tốt hơn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

N.Hạnh – Q.Minh-Theo baodatviet

Thằn lằn núi - món ăn dược liệu

Hiện nay, chúng ta vẫn thường  nghĩ rằng, tất cả các bệnh tật trên đời đều có thể chữa trị nhờ những sản phẩm “tân dược thông minh” bào chế từ các phòng thí nghiệm hiện đại. Thế nhưng, hơn 5.000 năm trôi qua cho đến nay, các loại sản phẩm chữa bệnh có nguồn gốc từ thiên nhiên vẫn khẳng định ưu thế, tiềm năng dồi dào trong kho tàng thuốc, dược liệu phòng và điều trị bệnh cho con người rất hiệu quả.


(Thằn lằn nú Bà Đen - Tây Ninh)
Theo GS.TSKH Hoàng Tích Huyền - nguyên trưởng bộ môn Dược lý - ĐH Y Hà Nội: "Có rất nhiều cây cỏ xung quanh mà con người vẫn nhìn thấy, sử dụng chúng hàng ngày mà đôi khi vẫn chưa khám phá ra hết những tính năng ưu việt của nó. Có những loại thực vật, động vật là thức ăn bổ dưỡng nhưng đồng thời lại là những dược liệu vô cùng quý giá cho y học.”

Đã từ lâu, ông, cha ta thường dùng thằn lằn phòng ngừa và chữa trị một số bệnh về đường hô hấp như; hen suyển... Bên cạnh đó thịt thằn lằn chứa một hàm lượng protein rất cao. Chính vì vậy, thằn lằn trở thành món ăn khoái khẩu cho giới ăn nhậu và những người sành điệu.
   Đến Tây Ninh, bạn không những được thưởng thức những món ăn nổi tiếng như: bánh canh Trảng Bàng, bánh tráng phơi sương, măng cầu Bà Đen… mà bạn còn được thưởng thức các món được chế biến từ thằn lằn.


 

(Trái sung chín là thức ăn chính của thằn lằn núi)
Thằn lằn núi Bà Đen rất lạ, nó có hình dạng to hơn thằn lằn thông thường, và thức ăn chính của nó là  những trái sung chín có sẵn trên núi, sống trong những khe núi. Vì mang tính dược liệu và thịt thơm ngon chính vì vậy ngày nay còn rất ít, một số nhà nông đã nghiên cứu nuôi tại nhà nhưng không mang lại thành công lớn, chủ yếu vẫn dựa vào nguồn cung cấp từ thiên nhiên.
Các món ăn được chế biến từ thịt thằn lăn như:
(Thằn lằn núi chiên giòn, chấm với nước mắm me)



(Một món chả đùm làm từ thịt thằn lằn núi)
Với vùng khí hậu nóng ẩm của Tây Ninh, là điều kiện thích hợp cho thằn lằn sinh trưởng. Đến với Tây Ninh với cái nắng nổi tiếng dưới tàn lá cây hoặc một quán nhậu sân vườn, bạn sẽ được thưởng thức một món ăn rất lạ và đặc trưng được chế biến từ thằn lằn, làm mềm môi từ một loại rượu Trảng Bàng, chuyến đi của bạn sẽ thêm phần thú vị.

Một món ăn có lợi cho sức khỏe, món khoái khẩu của các "đệ tử Ngọc Hoàng - cách nói dùng để chỉ những người thích nhậu" món ưa thích của các quý cô. Khô được chế biến từ thằn lằn là một món quà quí giá cho gia đình, người thân và bạn bè.

Theo yume.vn

Lấn cấn tìm giống sâm Ngọc Linh

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Xác định cây sâm là lời giải thoát nghèo nhưng đến nay ngành chức năng và huyện Nam Trà My vẫn “lấn cấn” trong việc tìm phương án hiệu quả chuẩn bị nguồn sâm giống cho người dân.

Ông Hồ Vũ Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Linh (Nam Trà My), cho biết địa phương hiện đang thiếu giống sâm trầm trọng. Năm 2010, cả xã được cấp 20 nghìn cây giống, trong khi nhu cầu của dân rất lớn. Đất không thiếu, nhưng bà con muốn trồng nhiều thêm nữa cũng không biết tìm đâu ra giống.

 Chăm sóc sâm tại nóc  Măng Lùng.
Chuyện thiếu giống sâm, cùng với công tác quản lý vùng sâm, lâu nay vẫn là vấn đề lấn cấn ở vùng cao Nam Trà My, cho nên việc giao vùng sâm cho tỉnh hay huyện quản lý vẫn chưa có câu trả lời. Ở cấp tỉnh, có Công ty Dược và vật tư y tế với trại sâm tại nóc Măng Lùng, chịu trách nhiệm cung cấp giống cho Nam Trà My và cả Tây Giang. Vậy vì sao thiếu giống khi sâm nhân giống bằng hạt? Ông Tuấn nói: "Bà con cần tiền, trồng sâm được vài năm tuổi là bán ngay, trong khi nhà nước chỉ  mua sâm từ 7 - 10 năm tuổi. Không thể “chờ đợi” được nên bà con bán hết cho tư thương. Mà sâm để càng lâu thì hạt còn nhiều… Cứ như vậy thì nguồn giống trong dân sẽ cạn kiệt”. Cũng theo ông Tuấn, Công ty Dược và vật tư y tế cho biết giống không thiếu mà do huyện không mua. Trong khi đó, ông Lê Ngọc Kích - Phó Chủ tịch UBND huyện thì cho rằng Nam Trà My đã từng đặt cọc trước cho công ty này nhưng họ không có giống để cấp. Bây giờ, 2 xã Trà Cang và Trà Nam đang cần giống, không biết mua ở đâu. Chính luồng thông tin nhiều chiều như vậy khiến người dân càng rối khi không biết hỏi ai trước tình trạng thiếu nguồn sâm giống.

Vùng Trà Linh bây giờ lại thêm một vấn nạn về giống sâm. Bên Kon Tum đã hình thành một trại giống lớn, lặng lẽ làm trong 10 năm qua. Thông qua thương lái, họ sang vùng Trà Linh mua cả cây, đặt cọc tiền trước… khiến nguy cơ tuyệt giống sâm Ngọc Linh ngay tại đất sâm Trà Linh. Bài toán giống giải mãi cũng không có đáp số đúng. Huyện Nam Trà My là nơi có sâm Ngọc Linh, xác định cây sâm là “quả đấm thép” để thoát nghèo nhưng vẫn chưa có phương án hiệu quả chuẩn bị nguồn sâm giống cho người dân. Năm 2005, Viện  Dược liệu Trung ương kết hợp với huyện trong việc nhân giống sâm, sau đó triển khai lập trại, cắt cử bảo vệ, làm đất, đào tạo cán bộ kỹ thuật. Hiện nay trại này vẫn hoạt động nhưng hiệu quả không cao, lượng giống về đến tay bà con còn thấp. Nguyên nhân là lực lượng bảo vệ không được hỗ trợ đúng mức nên họ lơ là, dẫn đến bất cập trong sản xuất và giữ gìn giống sâm. Về phía tỉnh, việc tổ chức thu mua, cam kết đầu ra, bao tiêu sản phẩm sâm… chưa thực hiện được. Vì thế tư thương tự tung tự tác, người dân thấy ai đưa tiền tươi thì bán ngay. Từ cách làm “chập chờn” này nên đến nay người dân vẫn chưa có giống bền vững.

Việc nhân giống sâm nếu tách rời khỏi quyền lợi thiết thực của người dân, không kéo họ vào tham gia trực tiếp sản xuất, bảo vệ thì thất bại bởi đây là đất rừng của người dân địa phương. Vùng Nam Trà My, nói rộng ra là miền núi của tỉnh, có nhiều dược liệu quý chứ không riêng gì sâm, song đến nay vẫn chưa thấy có một quyết sách và quyết tâm lớn, rõ ràng, cụ thể cho việc phát triển bền vững để vừa tận dụng nguồn thuốc quý từ dược liệu mang lại, vừa giúp xóa đói giảm nghèo. Hơn thế nữa, một khi người dân làm giàu từ rừng, họ thấy tận mắt hiệu quả từ rừng mang lại mà không được phá rừng thì lúc đó rừng mới không bị phá.

TRUNG VIỆT-Theo báo Quảng Nam

Dầu Mù u. một dược liệu dân gian quý

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Tác giả : TRƯƠNG NGỌC - THÙY TRANG (Theo Oil of Tamanu: an overview.htm) Mù u đã được biết đến từ hàng ngàn năm trước tại quần đảo Tahiti, đó là những cây lớn mọc hoang gần đại dương được gọi là ati. Tại Hawai thì mù u có tên là kamani. Mù u có nhiều chủng loại, trong đó loại Calophyllum inophyllum được chú ý nhiều nhất, quả nhỏ cho hạt gọi là tamanu chứa chất dầu màu xanh lục, có mùi thơm. Mù u cũng là một dược liệu dân gian được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.



DẦU MÙ U DÙNG THEO KINH NGHIỆM DÂN GIAN


Từ xưa, người Tahiti đã sớm khám phá ra những hạt Mù u khô có chứa dầu và tìm cách ly trích để dùng vào việc săn sóc, bảo vệ da chống lại các tác nhân gây tổn hại như ánh nắng, độ ẩm cao, gió biển.

Qua kinh nghiệm thực tế, dầu Mù u đã trở thành phương thuốc và mỹ phẩm dân gian chăm sóc bảo vệ da, là sản phẩm thiên nhiên giúp chống nắng và làm ẩm da. Với những tác dụng ấy, người ta đã chú ý bảo vệ cây Mù u, thu hái hạt và xem đó là món quà tặng quí giá của thiên nhiên. Phụ nữ Tahiti dùng dầu Mù u hàng ngày như chất làm ẩm da, làm mỹ phẩm bôi lên mặt và thân thể.

CÔNG DỤNG CỦA DẦU MÙ U


Theo y học cổ truyền, dầu Mù u có tác động mạnh làm giảm đau thần kinh tọa, đau dây thần kinh, đau khớp xương và đau thần kinh do bệnh phong. Năm 1918, các nhà khoa học Pháp bắt đầu nghiên cứu về tác dụng tại chỗ đối với da của dầu Mù u và ghi nhận đặc tính làm liền da của nó. Y văn của Pháp đã ghi nhận nhiều trường hợp sử dụng thành công dầu Mù u trong điều trị các bệnh lý về da. Điển hình là một phụ nữ vào bệnh viện St. Louis tại Paris với tình trạng loét hoại thư ở chân dai dẳng không lành và việc cắt bỏ chân là điều khó tránh khỏi. Trong thời gian chờ đợi cắt bỏ chân, hàng ngày bệnh nhân được cho đắp dầu Mù u. Kết quả vết thương lành dần và khỏi hoàn toàn, chỉ để lại một vết sẹo phẳng, nhỏ. Trong những trường hợp khác, dầu Mù u đã sử dụng thành công để làm lành những vết bỏng nặng do nước sôi, hóa chất hoặc X-quang.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA DẦU MÙ U


Dầu Mù u chứa 3 nhóm lipid căn bản: lipid trung tính, glycolipid và phospholipid; Một acid béo gọi là calophyllic acid; Một chất kháng sinh mang vòng lactone và một chất kháng viêm không steroid gọi là calophyllolide. Ngoài ra còn có chất kháng viêm coumarine đã tạo nên những hoạt tính bảo vệ sức khỏe. Vì thế dầu Mù u có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm và giảm đau. Đặïc tính làm liền sẹo và giảm đau chưa được giải thích trong y văn dù đã được công nhận.

DẦU MÙ U VÀ THÀNH PHẨM TRÊN THỊ TRƯỜNG


Từ thập niên 20 của thế kỷ trước, dầu Mù u đã được dùng tại Fiji để làm giảm sự đau nhức thần kinh trong bệnh phong. Nữ tu Marie-Suzanne thuộc dòng thánh Mary đã dùng dầu Mù u (được gọi là Dolno, tức không đau) để bôi lên sang thương người bị bệnh phong và cho kết quả tốt. Từ kết quả lâm sàng tại Fiji, dầu Mù u nhanh chóng được nghiên cứu tại Pháp vào thập niên 30 trong điều trị đau dây thần kinh và tiếp tục được quan tâm về tác dụng làm liền sẹo.

- Dầu Mù u được dùng trong các bệnh lý da và mỹ phẩm nhờ tính thẩm thấu qua da tốt, có mùi thơm, làm sáng da nên thường được đưa vào các thành phẩm dạng nước (lotion), kem, pommad và các mỹ phẩm khác. dầu Mù u có tiềm năng lớn trên thị trường các sản phẩm trị bệnh ngoài da lẫn trong kỹ nghệ mỹ phẩm.

- Các nghiên cứu khoa học liên quan đến dầu Mù u đã có từ năm 1920 nhưng nhiều năm sau mới được sử dụng rộng rãi, nhất là tại Tahiti - nơi mà dầu Mù u được tiếp thị cho các dịch vụ săn sóc ban đầu ngoài da và hỗ trợ sắc đẹp.
- Tại châu Âu, dù là một sản phẩm còn mới mẻ nhưng dầu Mù u đã được nhiều công ty đưa vào các công thức sản phẩm. Dầu Mù u có thể được sử dụng nguyên chất hoặc pha loãng 50% với dầu dừa hoặc dung môi thích hợp khác mà không làm giảm hiệu lực.

- Trong ngành mỹ phẩm, dầu Mù u sử dụng phải thật tinh khiết để bảo đảm thích hợp cho mọi loại da, hấp thu nhanh, làm mềm da mà không để lại vết trơn láng của dầu.

- Trong tương lai, dầu Mù u có thể kết hợp với vitamin E, aloes vera (cây lô hội, tức nha đam) để tạo nên các sản phẩm săn sóc da. Hiện nay đã có nhiều công ty sản xuất dầu Mù u đóng chai như Active Botanicals, Port Villa, Pure World Botanicals...

- Một số công trình nghiên cứu khoa học về dầu Mù u đã được công bố tại châu Âu và Mỹ. Người ta còn phối hợp dầu Mù u với các chất khác để sản xuất loại mỹ phẩm dùng dưới dạng lotion. Ở nước ta cũng đã có sản phẩm Trăn - Mù u đóng chai 15ml. Trong tương lai, các sản phẩm có chứa dầu Mù u để điều trị và làm đẹp da có thể sẽ tạo nên một thị trường giàu tiềm năng.  

Còn 4 vướng mắc với phát triển dược liệu

Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang cho biết sau hội nghị toàn quốc ngành dược liệu lần 3 (tháng 5-2010), Bộ Y tế đã triển khai cho 17 đơn vị liên quan đến phát triển dược liệu, từ quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, doanh nghiệp đến bệnh viện y học cổ truyền tham gia thực hiện kế hoạch hành động đến năm 2020 nhằm vực dậy ngành dược liệu. Song quý 1 này, yêu cầu của Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại hội nghị về việc có cơ quan chuyên trách về quản lý dược liệu mới thành hiện thực với việc thành lập phòng quản lý dược liệu tại Cục Quản lý dược.

Ông Cao Minh Quang - Ảnh: Việt Dũng



* Tại VN ghi nhận được 3.948 loài thực vật và nấm, 52 loài tảo biển, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc. Trong đó có 206 loài cây thuốc còn khả năng khai thác, 144 loài cây thuốc quý hiếm như sâm ngọc linh, sâm vũ diệp, tam thất hoang, hoàng liên, bách hợp, biến hóa núi cao, thanh mộc hương, ba kích, đẳng sâm... có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn.

* Hiện có một số vùng trồng dược liệu đã hình thành như cây quế ở Yên Bái, Quảng Nam, Thanh Hóa; cây hồi ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Kạn; hòe ở Thái Bình, Nghệ An, Đắk Lắk; thanh hao hoa vàng ở Hà Nội, Bắc Giang; cây tràm ở Đồng Tháp Mười, Long An, Thừa Thiên - Huế, Tây Ninh; kim tiền thảo ở Bắc Giang, Tây Ninh; gấc ở Hải Dương, Bắc Giang; bụp giấm, dừa cạn ở Ninh Thuận, Bình Thuận. Tại VN có 22 địa phương có thể khai thác dược liệu ngoài tự nhiên.

* VN hiện có 322 cơ sở sản xuất dược liệu (trong đó hơn 200 cơ sở là hộ cá thể). Tính đến đầu năm 2010 có 10 cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu đạt tiêu chuẩn GMP (thực hành sản xuất thuốc tốt). Về mặt hàng, cả nước mới có 1.086 số đăng ký thuốc đông y. Bộ Y tế đã cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh cho 30 cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu.



* Theo ông, đâu là rào cản lớn nhất với phát triển dược liệu hiện nay?

- Vướng mắc lớn nhất là chưa có cơ chế phát triển ngành dược liệu, kiểm soát chất lượng dược liệu. Bộ Y tế đang phối hợp với Bộ Công thương để pháp quy hóa những chính sách khuyến khích nông dân, ưu đãi nhà đầu tư. Bộ Y tế đã xây dựng một bản dự toán gần 400 tỉ đồng để xây dựng ngành dược liệu trong 10 năm tới. VN có trên 947 họ, với gần 1.700 loài cây thuốc khác nhau, nhưng rải rác trong tự nhiên, chưa có điều tra về trữ lượng, chỉ mới điều tra sơ bộ tám vùng trồng dược liệu. Trong khi muốn sản xuất lớn phải có vùng trồng dược liệu, còn chỉ khai thác mà không trồng là hổng về định hướng. Giải quyết đầu ra cho dược liệu cũng cần được pháp quy hóa để từ dược liệu thành dược phẩm. Muốn vậy phải có chính sách, nông dân trồng cây thuốc được gì, nhà đầu tư được gì..., nếu không thì họ không thể yên tâm đầu tư và trồng dược liệu.

* Chất lượng dược liệu đang là vấn đề gây khó cho doanh nghiệp và người sử dụng. Vì sao tình trạng chất lượng dược liệu bị thả nổi kéo dài?

- Kiểm soát chất lượng dược liệu cũng là vấn đề gây đau đầu hiện nay. Phần lớn dược liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, chất lượng khó kiểm soát gây xáo trộn thị trường, những vấn đề như hàm lượng hoạt chất, có tồn dư chất độc hay không chưa trả lời được khiến phát triển ngành dược liệu chậm lại. Từ tháng 10-2010 đến nay, 17 đơn vị liên quan đến vực dậy ngành dược liệu đang hết sức tích cực, như tôi đã nói, quý 1 này Cục Quản lý dược sẽ thành lập phòng quản lý dược liệu nhằm có các chính sách tiếp theo để quản lý chất lượng dược liệu, nhập khẩu dược liệu... Tất nhiên cùng lúc không thể giải quyết được tất cả vấn đề, nhưng nay đã tìm ra vấn đề vướng mắc với phát triển dược liệu, đang xây dựng cơ chế và tới đây sẽ có tiền, có định hướng, tôi đánh giá những hướng đi tới của ngành dược liệu sẽ khả quan hơn.

* Trong số bốn vướng mắc mà ông đang cho là rào cản, điều gì gây khó khăn nhất cho phát triển dược liệu?

- Là giải quyết đầu ra cho nông dân trồng dược liệu và đầu ra cho nhà đầu tư. Điều này liên quan đến cả cơ chế kê đơn thuốc ở các bệnh viện. Nhưng với những hoạt động của 17 đơn vị liên quan đến dược liệu đang tiến hành, tôi cho rằng có thể khai thác tiềm năng dược liệu VN đang có. Chúng ta có tiềm năng về dược liệu, điều đó rõ ràng, nhưng không khai thác được mà lại đi nhập khẩu sản phẩm chất lượng chưa rõ. Đã đến lúc phải thay đổi điều đó.

(Theo Bộ Y tế, tại hội nghị phát triển dược liệu và sản phẩm thuốc quốc gia năm 2010)
LÊ THANH HÀ - VIỆT HÙNG - NGUYỄN HÀNG TÌNH thực hiện

Biệt dược từ cây thông đỏ: cửa đã mở

Hai mươi năm nay, giới y học trong nước ngóng đợi sự mầu nhiệm của dược chất taxol lấy từ cây thông đỏ Lâm Đồng. Nay đã hé mở những tín hiệu tốt lành đầu tiên.

Vườn dược liệu của Trung tâm Nghiên cứu và chế biến cây thuốc Đà Lạt - Ảnh: Nguyễn Hàng Tình

Cùng thời điểm này, bốn năm trước, tôi ngược núi Voi ở cao nguyên Lang Bian (Lâm Đồng) chứng kiến quần thể những cây thông đỏ cổ thụ cuối cùng bị người ta hạ gục, xẻ gỗ tanh bành mà xót xa. Vậy mà nay ở xã ngoại ô Tà Nung cách trung tâm Đà Lạt chừng 19km, tôi lại được đi giữa một trang trại trồng hàng ngàn cây thông đỏ quý giá đã tốt ngập người. Không chỉ có 4ha ở đây, phía ngoài đầu dốc Vạn Thành cũng có một vườn với 3ha thông đỏ như thế. Những công nhân đang chăm sóc vườn nói những cây thông non này đã được trồng lần lượt từ bốn, năm năm nay, lấy giống từ cành của những cây thông đỏ cổ thụ cuối cùng trên núi Voi. Vẫn với cách giâm cành, dùng hóa chất kích thích cho ra rễ, sau đó vô bầu rồi mang đi trồng song trước đó người ta đã mất không ít năm để khảo nghiệm, thuần hóa thứ cây rừng quý giá này.  

Đi tìm tinh chất Taxol
Trên cao nguyên Lang Bian, các nhà sinh học và lâm học đã phát hiện vài quần thể thông đỏ (tên khoa học là Taxus wallichina Zucc) sót lại ở vùng rừng tự nhiên núi Voi, Cấu Đất, Cổng Trời... Các quần thể thông đỏ này teo dần theo từng năm, hiện chỉ còn khoảng 100 cá thể, do nạn phá rừng và chính quyền không có cơ chế quản lý đặc biệt.
Ở trang trại thông đỏ Tà Nung và Vạn Thành, các công nhân cho hay cứ vài tháng họ cắt lấy những cành thông đỏ non đưa vào xưởng sấy rồi xay nát. Số nguyên liệu sơ chế này được đưa về Trung tâm Sâm và dược liệu TP.HCM (thuộc Viện Dược liệu, Bộ Y tế) để chiết tách qua nhiều công đoạn cho đến khi ra được tinh chất taxol. Dược sĩ Lê Thị Hạnh - người đã gắn bó suốt ba mươi năm qua với Trung tâm Nghiên cứu và chế biến cây thuốc Đà Lạt (trước thuộc Viện Dược liệu, nay thuộc Công ty cổ phần Y dược phẩm Vimedimex, sau khi cổ phần hóa trung tâm này) cho hay taxol chiết tách từ thông đỏ Đà Lạt mà đơn vị bà đang triển khai thu được ở dạng tinh thể. Từ đây, tinh thể taxol được hòa với dịch truyền để chữa trị bệnh nhân ung thư, việc ứng dụng chữa trị thử nghiệm đang được thực hiện ở một bệnh viện tại TP.HCM. Bà Hạnh cũng cho biết chín dòng thông đỏ đang được trồng ở hai vườn trại nói trên là những dòng có hàm lượng chất taxol cao và tốt nhất vốn được lọc chọn ra từ 49 dòng thông đỏ có trong rừng nguyên sinh ở cao nguyên Lang Bian.

7ha thông đỏ ở hai trại thông đỏ nói trên cho thu hoạch mỗi đợt chừng nửa tấn lá tươi. Việc chế biến bước đầu cho thấy để có 1g taxol phải mất đến 1 tấn lá thông đỏ khô và để có 1 tấn lá khô phải mất đến 2,5-3 tấn lá thông đỏ tươi.

Kích hoạt một dự án lớn với Taxol
Những thành quả đầu tiên thu được với tinh chất taxol là kết quả một hành trình dài đi từ một đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh của Lâm Đồng năm 2006, sau được nâng cấp thành một đề tài cấp bộ (2008) để nghiên cứu xây dựng quy trình trồng, lấy nguyên liệu đến chế biến thuốc, theo dược sĩ Hạnh. Tới đây, Trung tâm Nghiên cứu và chế biến cây thuốc Đà Lạt sẽ trồng thêm 5-9ha thông đỏ ở Tà Nung và Vạn Thành. Trong vườn ươm của trung tâm, hàng vạn cây thông đỏ giống đang được nhân trồng.

Dù vẫn rất thận trọng khi nói về những bệnh nhân ung thư đang được điều trị bằng hoạt chất taxol chiết xuất từ thông đỏ Đà Lạt, ông Vương Chí Hùng, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và chế biến cây thuốc Đà Lạt, xác nhận cuối tháng 3 tới, Vimedimex sẽ xin cấp phép cho dự án lập nhà máy chế biến dược phẩm taxol đầu tiên ở VN với kinh phí đầu tư 100 tỉ đồng, quy mô sản xuất 5-10kg taxol/năm. Mỗi năm, toàn VN có 150.000 bệnh nhân ung thư, theo đó, lượng taxol và taxotere cần cho việc chữa trị phải có từ 5-9kg. Vì vậy, nguồn lá thông đỏ cần cho việc chủ động sản xuất thuốc chữa trị ung thư mỗi năm có thể lên đến trên 100 tấn. Vimedimex dự kiến đến năm 2012 sẽ đưa ra thị trường sản phẩm này ở dạng thuốc tiêm.


Tìm lại nguồn dược liệu Việt


Không thể trông cậy vào nguồn đông dược thu hái tự nhiên và để dứt bỏ sự lệ thuộc vào nguồn dược liệu nhập khẩu, nhiều công ty dược VN đã và đang gầy dựng lại những vùng nguyên liệu dược cổ truyền để chủ động và vững vàng bước đi trong chiến lược phát triển ngành đông dược hiện đại.

Giữ được hướng đi ấy cũng chính là cách tiếp nối và tôn vinh quan điểm tự chủ “Nam dược trị Nam nhân” của ông thánh thuốc nam Tuệ Tĩnh từ hơn sáu thế kỷ trước.

Chăm sóc cây tràm Úc - một dược liệu quý - trong khu bảo tồn dược liệu 25ha của Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười - Ảnh: Dương Thế Hùng



Công nhân Công ty dược liệu Sìn Hồ (Lai Châu) thu hoạch cây thuốc 

Trong hội nghị phát triển dược liệu và sản phẩm thuốc quốc gia năm 2010, Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang cho biết đã có thời điểm VN có thể cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu từ vài trăm tấn đến hàng nghìn tấn sản phẩm dược liệu như quế, hồi, thảo quả, hòe, địa liền, hương nhu, ích mẫu, atisô, đương quy, địa hoàng, bạch chỉ, bạch truật, bạc hà...

Từ tuyệt chủng đến lệ thuộc:
Nay thì từ một nước xuất khẩu dược liệu có tiếng (với tiềm năng dược liệu đứng thứ hai trên thế giới), VN lại trở thành quốc gia nhập khẩu dược liệu, trong đó có cả những dược liệu bản địa hoặc từng được di thực, trồng thành công trên đất VN. Nhiều loại dược liệu quý hiếm đã tuyệt chủng hoặc nằm trong Sách đỏ... Và đã thấy không ít doanh nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu cổ truyền điêu đứng vì sự lệ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn dược liệu nhập khẩu. Có thời điểm 85% dược liệu để sản xuất đông dược trong nước nhập về từ Trung Quốc.

Sự thể ấy xảy ra như một tất yếu khi nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú hoàn toàn bị phá bỏ. Vùng núi Hàm Rồng (Sa Pa, Lào Cai) vào những năm 1972-1973 đều là rừng rậm, có nhiều loài cây thuốc quý như sâm vũ diệp, tam thất hoang, hoàng liên gai... song đến năm 1985 đã bị phá gần hết để trồng bắp và các loại cây khác. Cao nguyên An Khê (thuộc Gia Lai và Bình Định) trước kia vốn là trung tâm phân bổ lớn nhất VN của cây vàng đắng, hiện đã nằm dưới lòng hồ chứa nước thủy điện Vĩnh Sơn. Vùng phân bố tự nhiên của các loài cây thuốc quý như sâm ngọc linh, thiên niên kiện, cốt khí củ, ba kích, đẳng sâm, hoàng đằng, ngũ gia bì chân chim... cũng bị thu hẹp do nạn phá rừng và mất rừng. Một số vùng trồng cây thuốc truyền thống đã biến mất... Cây vàng đắng vào những năm 1980-1990 còn khai thác được từ 1.000-2.500 tấn/năm, từ năm 1995 đến nay gần như không còn. Các loại dược liệu như ba kích, đẳng sâm, các loại hoàng tinh thuộc chi Disporopsis và Polygonatum, bình vôi... vốn phân bố rất nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc nay đã vào Sách đỏ và Danh lục đỏ cây thuốc VN.

Trong tổng số 3.948 loài cây thuốc và nấm làm thuốc đã biết, chỉ có hơn 500 loài là cây thuốc được trồng với các quy mô khác nhau, trong đó chỉ có 44 loài đang được trồng với quy mô sản xuất. Tính cả các vùng trồng tạo nguyên liệu phục vụ trong nước và xuất khẩu thì tổng sản lượng dược liệu trồng trọt hằng năm của VN ước khoảng 3.000-5.000 tấn, chủ yếu là các giống dược liệu như thanh hao hoa vàng, quế, kim tiền thảo (1.100 tấn/năm).



Phòng sấy hấp cao khô của Danapha - Ảnh: V.Hùng



Tìm lại dược liệu VN":
Theo dược sĩ Tạ Ngọc Dũng - tổng thư ký Hội Dược liệu, vấn đề hiện không chỉ là nguồn nguyên liệu mà còn rất khó đánh giá chất lượng dược liệu ở VN bởi chưa có cơ quan quản lý nhà nước chính thức (Cục Quản lý dược mới đang chuẩn bị thành lập phòng quản lý dược liệu). 80-90% thị trường dược liệu VN (giá trị 144 triệu USD/năm) hiện nay là hàng nhập khẩu và thanh tra Bộ Y tế từng xác nhận hiện tượng dược liệu bị chiết xuất bớt dược chất, chỉ còn là xác được nhập về VN.
Năm 2005, Bảo Long - một trong những tên tuổi lớn về đông dược, hiện sản xuất trên 90 sản phẩm đông dược và mỹ phẩm thảo dược - đã tìm đến Sìn Hồ (Lai Châu) để trồng cây thuốc. 20ha đất mà tỉnh Lai Châu giao cho họ dần được khôi phục, dù tổng giám đốc Bảo Long Nguyễn Hữu Khai cho hay giá thành dược liệu trồng và thu hái tại Sìn Hồ hầu hết đều đắt gần gấp đôi so với giá dược liệu Trung Quốc ngoài thị trường, có loại đắt gấp chục lần. “Trên thị trường, nhiều loại dược liệu sinh trưởng 3-5 năm mới thu hoạch nhưng bị dùng chất kích thích nên chỉ vài tháng đến một năm đã thu hoạch, nhiều loại bị trộn thuốc bảo quản vượt tỉ lệ cho phép hàng chục lần để chống mốc, rồi bị tẩm cả tạp chất cho nặng cân, đẹp mã... Do vậy, dù giá thành rất cao, chúng tôi vẫn chủ trương trồng dược liệu sinh trưởng tự nhiên để có chất thuốc tốt, không sử dụng hóa chất kích thích sinh trưởng, thuốc trừ sâu bệnh hay chất bảo quản”. Năm 2009, Bảo Long phát triển thêm Công ty Dược liệu Bắc Hà - Lào Cai để phục hồi nguồn dược liệu với chất lượng nổi tiếng ở đây mà trước kia từng xuất khẩu rất nhiều sang Trung Quốc. Nay họ đã trồng được 50 loại dược liệu trên tổng diện tích 25ha, thu hoạch khoảng 50 tấn dược liệu/năm.
Cũng như Bảo Long, BV Pharma - một doanh nghiệp dược non trẻ khác - đang ấp ủ nhiều dự án lớn về trồng và sản xuất thuốc từ dược liệu cổ truyền. Thành lập năm 2002, BV Pharma nay đã có nhà máy đầu tiên ở VN sở hữu dây chuyền chiết xuất bằng công nghệ phun sương, bào chế dược liệu từ cây thuốc để sản xuất các sản phẩm thuốc y học cổ truyền. Ngoài 20 sản phẩm đông dược và thực phẩm chức năng với nguyên liệu chiết xuất 100% từ thiên nhiên điều trị các bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp, tiêu hóa, nội tiết, gan mật, giảm cân..., 20 sản phẩm cao khô dược liệu chất lượng cao của BV Pharma cũng đã được Bộ Y tế cấp visa như atisô, bìm bịp, biển súc, diếp cá, đinh lăng, hà thủ ô, kim tiền thảo... Đây cũng chính là nhà cung cấp nhiều loại dược liệu cho nhiều “ông lớn” của ngành dược như Traphaco, Dược Hậu Giang, Dược Đà Nẵng, Dược Nam Hà.

Cuối tháng 1 vừa qua, BV Pharma đã đệ trình xin cấp phép một dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất nguyên liệu hóa dược chữa ung thư và tim mạch từ dược liệu họ trồng, hướng tới tự túc 50% thuốc ung thư thiết yếu sản xuất tại VN. Khi hoạt động, nhà máy sẽ sản xuất tối thiểu 10 loại hóa dược, cấu thành nên các thuốc chủ yếu trong điều trị ung thư, tim mạch, viêm gan B, C và ít nhất 15 sản phẩm thuốc chống ung thư, tim mạch. Để có nguyên liệu, BV Pharma đã và đang xây dựng vùng nguyên liệu cung cấp cho nhà máy này, gồm trang trại 50ha thông đỏ ở Tây nguyên, trại trồng cây dừa cạn 20ha ở Ninh Thuận, 1ha trại nuôi nấm vân chi ở Củ Chi (TP.HCM) hoặc Đà Lạt, 10ha cây bình vôi biển, 1ha cây bảy lá một hoa, 3ha trại nuôi bò cạp, rết, địa long, vùng trồng nghệ 100ha và vùng trồng hòe 100ha. Dược sĩ Nguyễn Tiến Hùng - chủ tịch HĐQT BV Pharma - tin rằng dự án này sẽ giúp hình thành ngành công nghệ hóa dược từ các hợp chất thiên nhiên của VN.

BV Pharma cũng đang xin thành lập Viện Nghiên cứu phát triển dược liệu và các hợp chất thiên nhiên Tây nguyên như một nơi có thể triển khai các kết quả nghiên cứu của các viện, trường, các nhà khoa học trong nước trong lĩnh vực dược liệu. Đi kèm viện dự kiến là một vùng trồng dược liệu với quy mô đủ phục vụ sản xuất công nghiệp (khoảng 500ha) với 100 loại dược liệu. “Giữa năm 2011, chúng tôi sẽ đưa vào sản xuất sáu sản phẩm điều trị ung thư và tim mạch có nguồn gốc từ dược liệu VN” - ông Hùng cho biết. Khó khăn lớn nhất của việc thực hiện đề án này vẫn là nguồn vốn đầu tư và đất dành cho vùng nguyên liệu.




Từ hộp Dầu cù là đến nhà máy GMP:
     
Những năm đầu thập niên 1990, hộp dầu cù là nhãn hiệu Sao Vàng là món thuốc nhỏ không thể thiếu trong mỗi gia đình VN. Chẳng những vậy, nó giúp Công ty cổ phần dược Danapha, lúc ấy còn là một xí nghiệp dược phẩm nhỏ, trở thành đơn vị có kim ngạch xuất khẩu hàng đầu của Quảng Nam - Đà Nẵng lúc bấy giờ nhờ được ưa chuộng ở những thị trường lớn như các nước Liên Xô cũ và Đông Âu. Nay không chỉ vẫn đứng vững với những cao dầu, ống hít Sao Vàng truyền thống, các mặt hàng đông dược mới như Tadimax, bài thạch, VG-5... của Danapha đã lần lượt tìm được đường vào.
Tháng 11-2010, Danapha đưa vào vận hành nhà máy sản xuất thuốc đông dược hiện đại đạt chuẩn GMP-WHO với công suất 140 triệu viên/năm tại Khu công nghiệp Hòa Khánh (Đà Nẵng). Đông dược nay được sản xuất trong một quy trình tự động chuẩn khép kín, chất lượng sản phẩm được quản lý nghiêm ngặt. Sau hơn bốn tháng hoạt động, nhà máy này đã sản xuất trên 30 triệu viên thuốc đông dược của 15 dòng sản phẩm và được tiêu thụ hết, giá trị xuất khẩu đông dược tăng lên 38 tỉ đồng.
Chủ trương không xuất khẩu dược liệu thô mà tập trung vào các sản phẩm dược tinh chế, ngay trước khi đưa nhà máy trên vào hoạt động, Danapha đã xây dựng một vùng nguyên liệu 1,5ha ở xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng), nay được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt). Một vùng trồng dược liệu khác rộng 5ha ở khu vực trên cũng đang được xúc tiến hình thành với các phân khu ươm tạo giống - trồng, thu hái - sơ, chế biến với bốn loại cây chính là kim tiền thảo, trinh nữ hoàng cung, cỏ nhọ nồi và nhân trần. Dược sĩ Phùng Chất - giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển của Danapha - cho biết công ty ông sẽ hợp tác với hội nông dân các địa phương có vùng thổ nhưỡng, điều kiện khí hậu thích hợp để mở rộng quy mô trồng. Trong đó Danapha hỗ trợ nông dân về nguồn cây giống, hướng dẫn kỹ thuật, giám sát quá trình trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến và mua theo giá thị trường 100% sản phẩm của hộ gia đình tham gia dự án.
Vận động, hỗ trợ nhà nông trồng dược liệu:
Khôi phục những vùng dược liệu đủ cung ứng cho sản xuất dược ở quy mô công nghiệp đã trở thành một hướng đi được cả giới chuyên môn và cơ quan quản lý tán đồng. Vấn đề là “quy hoạch vùng trồng và có chính sách hỗ trợ người trồng, cam kết thu mua nhằm ổn định đầu ra cho sản phẩm” như đề xuất của GS.TS Phạm Thanh Kỳ - phó chủ tịch Hội Dược liệu VN. Ông Nguyễn Thế Viễn, một nông dân trồng cây thuốc kiêm người mua cây thuốc ở làng nghề Nghĩa Trai (Hưng Yên), cho hay bình quân thu hoạch/ha đất nông nghiệp ở đây từng đạt 166 triệu đồng, trong khi nông dân nhiều nơi chỉ mơ ước những cánh đồng 50 triệu đồng/ha.

Bà Vũ Thị Thuận, chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Traphaco - một trong những doanh nghiệp sản xuất đông dược lớn nhất, cho biết họ giải quyết vấn đề rắc rối “được mùa lại mất giá và ngược lại” bằng cách ký trực tiếp với nông dân hợp đồng tiêu thụ sản phẩm trong vòng năm năm. Nông dân ổn đầu ra, doanh nghiệp ổn đầu vào, cộng thêm việc đặt hàng nhà khoa học nghiên cứu để áp dụng mô hình trồng dược liệu sạch thì bốn nhà (nhà khoa học - doanh nghiệp - người nông dân - Nhà nước) ai cũng có quyền lợi và trách nhiệm ngang nhau.

Tháng 5-2010, sau hội nghị quốc gia về dược liệu, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã yêu cầu Bộ Y tế xây dựng và hoàn chỉnh 40 hồ sơ dược liệu có tiềm năng khai thác và phát triển thị trường, đồng thời hoàn chỉnh hồ sơ dược liệu quế, tràm, atisô có triển vọng đầu tư và phát triển thành sản phẩm quốc gia trong thời gian tới. Bộ Y tế cũng được yêu cầu hoàn chỉnh hồ sơ về khoa học, kinh tế, y tế, sở hữu trí tuệ của ba sản phẩm quốc gia là hồi, sâm ngọc linh và trinh nữ hoàng cung nhằm phát triển sản phẩm quốc gia từ thuốc dược liệu có tính cạnh tranh cao. Nhiệm vụ đã giao, giờ chỉ còn chờ câu trả lời.


Người bệnh vẫn đặt nhiều niềm tin vào y học cổ truyền:
Tại TP.HCM có ba đơn vị điều trị bằng y học cổ truyền và rất đông bệnh nhân tìm đến, chứng tỏ người dân vẫn đặt nhiều niềm tin vào y học cổ truyền. Nhu cầu sử dụng thuốc y học cổ truyền do vậy cũng rất lớn. Vấn đề là các công ty chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng dược liệu, nhất là dược liệu sạch và chất lượng. Chúng ta cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu nghiêm túc để đánh giá chất lượng từng loại dược liệu, phân loại thật giả hoặc dư lượng kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản trong dược liệu.
Các loại thuốc được sản xuất từ dược liệu (viên nang, nén, hoàn, cao, xirô, trà, tễ...) được bào chế thành các dạng tiện dụng giống như tân dược ngày càng nhiều, phần nào đáp ứng được nhu cầu sử dụng của bệnh nhân. Tuy nhiên, thuốc muốn được thầy thuốc kê toa cho bệnh nhân sử dụng điều trị thì phải chứng minh được tính hiệu quả và khoa học của loại thuốc ấy qua các công trình nghiên cứu khoa học. Chúng tôi thường chọn các loại thuốc thành phẩm đông y được các công ty dược sản xuất đạt chuẩn GMP để kê toa cho bệnh nhân.
PGS.TS NGUYỄN THỊ BAY
(giảng viên Đại học Y dược TP.HCM)