BÒNG BONG

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

BÒNG BONG
Herba Lygodii.


Tên khác: Thòng bong.      
Tên khoa học: Lygodium sp., họ Bòng bong (Schizaeaceae). Cây mọc hoang leo trên các cây khác ở bờ bụi.
Mô tả:
Thòng bong là một loại quyết có hiệp rất dài, mọc leo. Thân rễ bò, lá dài, có nhiều cặp lá chét, mỗi lá chét có nhiều lá chét con mang ổ tử nang ở mép. Bao tử hình 4 mặt trắng xám hơi vàng. Vòng đầy đủ nằm ngang gần đỉnh bảo tử nang.
Bộ phận dùng: Cả dây mang lá (Herba Lygodii.).
Phân bố: Mọc phổ biến ở các bụi rậm, bờ rào.
Thu hái: Gần như quanh năm, phơi khô mà dùng, không phải chế biến khác.
Thành phần hoá học : Flavonoid, acid hữu cơ.
Công dụng:  Chữa đái rắt, đái buốt, đái ra máu, đái ra sỏi. Trị chấn thương, ứ huyết, sưng đau.
Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dạng nước sắc (thường kết hợp với Thổ phục linh)
Bài thuốc:
Bài thuốc chữa vết thương phần mềm: Kinh nghiệm của cụ lang Long Hải Dương
(Hải Dương). Rửa vết thương bằng nước sau đây: Lá trầu không tươi 40g, Phèn phi 20g. Dùng 2 lít nước nấu lá Trầu không xong để nguội, gạn lấy nước trong cho Phèn phi vào, đánh cho tan, đem lọc để rửa vết thương.
Sau khi rửa vết thương, băng bằng thuốc sau đây: Lá mỏ quạ tươi (Cudrania cochinchinensis) rửa sạch bỏ cọng, giã nhỏ đắp lên vết thương. Nếu vết thương xuyên thủng thì đắp cả 2 bên: ngày rửa và thay băng 1 lần, sau 3-5 ngày thấy đỡ thì 2 ngày thay băng một lần. Nếu vết thương tiến triển tốt nhưng lâu đầy thịt thay thuốc gồm lá Mỏ quạ tươi và lá Thòng bong hai thứ bằng nhau: Giã nát đắp vào vết thương, ngày rửa thay băng một lần, 3-4 ngày sau lại thay bằng thuốc: Lá Mỏ quạ tươi, lá Thòng bong, lá Hàn the 3 vị bằng nhau giã nát, đắp lên vết thương nhưng  chỉ 2-3 ngày mới thay băng một lần (Tạp chí Đông y 4/1966).
     Chú ý: Người ta dùng bào tử ở phía sau lá của loài Lygodium japonicum (Thunb.) Sw. gọi là Hải kim sa (Spora Lygodii) trị đái buốt, đái rắt.

BỌ CẠP

BỌ CẠP (全蝎)

Scorpio


Tên khác: Toàn yết, Toàn trùng, Yết tử, Yết vĩ.
Tên khoa học: Buthus sp., họ Bọ cạp (Buthidae).
Mô tả: Phần đầu ngực và phần bụng trước dẹt, dài  hình elip. Phần bụng sau có hình giống cái đuôi, teo lại và uốn cong. Cơ thể mẫu nguyên vẹn có chiều dài khoảng 6 cm.  Phần đầu ngực có màu nâu hơi xanh lục, phần trước phát triển nhô ra 1 đôi chân kìm nhỏ, ngắn và 1 đôi chân xúc giác dạng càng cua lớn dài, rộng, phần lưng được che phủ bởi mai giống hình chiếc thang, phần bụng  có 4 đôi chân đi mỗi chân có 7 đốt kèm 2 vuốt ở phần cuối. Phần bụng trước bao gồm 7 đốt. Đốt thứ 7 thẫm màu với 5 rãnh xương sống gồ lên ở trên đốt lưng. Mặt lưng có màu nâu hơi xanh lục. Phần bụng sau có màu vàng hơi nâu, có 6 đốt, với các nếp nhăn dọc trên các đốt. Đuôi mang một ngòi châm dạng vuốt sắc và không có cựa gai ở dưới ngòi châm. Mùi hơi hắc, có vị mặn.
Bộ phận dùng: Dùng cả con làm thuốc gọi là Toàn yết, nếu chỉ dùng đuôi gọi là Yết vĩ.
Phân bố: Nước ta có nhiều loài bọ cạp, vị thuốc phải nhập từ nước ngoài.
Thu hái: Toàn yết được bắt vào cuối mùa xuân đến đầu mùa thu. Loại bỏ đất cát, luộc trong nước hoặc nước muối đến cứng. Lấy ra, đặt vào chỗ thoáng gió và làm khô âm can.
Tác dụng dược lý:
+ Thuốc có tác dụng chống co giật, yếu hơn Ngô công.
+ Thuốc có tác dụng hạ áp lâu dài. Nhiều học giả cho rằng chế phẩm Toàn yết ảnh hưởng đến chức năng vận mạch của trung khu thần kinh, làm giãn mạch, trực tiếp ức chế hoạt động của tim và làm giảm tác dụng tăng áp của adrenalin.
+ Thuốc có tác dụng an thần giảm đau.
+ Trong Bọ cạp có chất độc gọi là Katsutoxin là một chất protid có carbon, hydro, oxy, nitơ và sulkfur. Tác dụng gây độc chủ yếu của Katsutoxin là gây liệt hô hấp. LD50 trên súc vật thí nghiệm là 0,07 - 0,7mg/kg, tùy thuộc loại súc vật thí nghiệm. Ở thỏ thí nghiệm, thuốc gây co cứng chi và liệt hô hấp.
Thành phần hoá học : Trong bọ cạp có chất độc katsutoxin có bản chất protein giống như nọc rắn hay nọc độc của một số con vật khác.
Công năng: Trừ kinh phong, giải độc, tán kết.
Công dụng:  Làm thuốc trấn kinh, chữa trẻ em kinh phong, làm thuốc kích thích thần kinh, chữa bán thân bất toại...
Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 3-5g dùng phối hợp với các vị thuốc khác.
Bào chế: Khi dùng loại bỏ tạp chất, rửa sạch và phơi khô.
Bài thuốc:
1.Trị chứng trúng phong bán thân bất tọai, kinh phong co giật ở trẻ em:
+ Toàn yết (bỏ đầu chân) 3g, Địa long (rửa sạch sao vàng) 3g, Cam thảo 2g, tất cả tán bột mịn trộn đều, chia 5 - 6 lần uống trong ngày với nước nóng.
+ Toàn yết 3g, Ngô công 4,5g, Câu đằng 12g, Cương tàm 6g, Chu sa 3g, Xạ hương 10mg tán bột trộn đều. Uống 3g/lần x 2 - 3 lần mỗi ngày.
+ Toàn yết 1 con (có thể dùng đến 3 con), Cương tàm 10g, Địa long 6g sắc uống. Trị kinh phong trẻ em.
+ Tiêm chính tán (Dương thịnh gia tàng phương): Toàn yết 3g, Bạch phụ tử 10g, Bạch cương tàm 10g, tán bột mịn, uống 3g mỗi lần, ngày uống 2 - 3 lần với rượu. Trị trúng phong liệt thần kinh mặt.
2.Trị viêm khớp mạn tính: thuốc có tác dụng thông lạc chỉ thống.
+ Toàn yết 3g, Xạ hương 60mg, tán bột mịn trộn đều, mỗi lần uống 1,5g với rượu ấm. Có thể dùng độc vị Toàn yết mỗi lần 1 - 1,5g với rượu.
+ Toàn yết Nhũ hương tán: Chế Xuyên ô đầu 10g, Toàn yết 3g, Xuyên sơn giáp 6g, Nhũ hương 5g, Thương truật 10g, làm thuốc tán. Uống 6g/lần. Có thể dùng thuốc thang hoặc thuốc đắp ngoài.
3.Trị ung nhọt, bệnh phong:
+Toàn yết tiêu phong tán: Toàn yết 3g, Bạch chỉ, Đảng sâm đều 10g, tán bột mịn, mỗi lần uống 6- 10g, ngày 2 - 3 lần. Trị bệnh phong.
+Toàn yết 3 phần, Chi tử 7 phần, cho vào dầu mè đun sôi cho sáp ong nấu thành cao đắp lên mụn nhọt độc sưng tấy hoặc lở loét.
4.Trị viêm tuyến vú: Toàn yết 2 con bọc vào ổ bánh bao cho ăn trước bữa ăn. Trị 308 ca mắc bệnh 1 - 7 ngày, khỏi 99,7% (Tạp chí Trung y 1986,1:40 - Hồ cẩn Bách).
Một báo cáo khác của Trịnh Nhuận Tuyền trị 10 ca viêm tuyến vú cấp, dùng bột Toàn yết 3g bọc cho uống kết quả tốt (Trung y dược Hắc long giang 1988,1:23).
5.Trị bệnh lệ đạo: Toàn yết nước khô tán bột, uống mỗi ngày 1 - 2 lần, 6 - 9g/lần. Trị 19 ca bệnh lệ đạo cấp mạn. Kết quả tốt (Báo Trung cấp y 1987,7:50).
Kiêng kỵ: Phong do huyết hư thì không dùng. Cẩn thận dùng khi có thai.

BÌNH VÔI

BÌNH VÔI
Tuber Stephaniae glabrae

Cây Bình vôi

Tên khác: Ngải tượng.
Tên khoa học: Stephania glabra (Roxb.) Miers) hoặc một số loài Bình vôi khác có chứa L-tetrahydropalmatin, họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả:
Phần gốc thân phát triển thành củ to, có củ rất to, hình dáng thay đổi tuỳ theo nơi củ phát triển. Vỏ ngoài màu nâu đen, khi cạo vỏ ngoài có màu trắng xám. Hoặc đã thái thành miếng to, nhỏ không đều, có màu trắng xám, vị đắng.
Bộ phận dùng: Phần gốc thân phình thành củ của cây Bình vôi (Stephania glabra (Roxb.) Miers) hoặc một số loài Bình vôi khác có chứa L-tetrahydropalmatin, họ Tiết dê (Menispermaceae).
Phân bố: Cây mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi nước ta và một số nước khác, thường gặp trên các núi đá vôi.
Thu hái: Có thể thu hái quanh năm, đào lấy củ, rửa sạch, cạo bỏ vỏ đen, thái mỏng, phơi hay sấy khô.
Thành phần hóa học: nhiều alcaloid (1%), trong đó quan trọng nhất là L-tetrahydropalmatin và roemerin.
Công năng: An thần, tuyên phế.
Công dụng:
- Y học cổ truyền: Làm thuốc trấn kinh, an thần, chữa mất ngủ, sốt nóng, nhức đầu, khó thở, chữa đau dạ dày.
- Y học hiện đại: Dùng toàn cây, cao hoặc alcaloid bào chế thành dạng thuốc thích hợp để làm thuốc an thần.
Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 3-6g bột củ hoặc 10-15ml rượu thuốc 10%.
Ghi chú: Alcaloid của Bình vôi có trong các chế phẩm Rotunda, Stilux-60...

BINH LANG

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

BINH LANG (槟榔)

Semen Arecae

Hạt cau

Tên khác: Hạt cau
Tên khoa học: (Areca catechu L.), họ Cau (Arecaceae).
Mô tả: Cây cau là một cây sống lâu năm, thân mọc thẳng, cao độ 15 – 20m, đường kính 10 – 15cm, thân tròn, không chia cành, không có lá, có nhiều đốt do vết lá cũ rụng, chỉ ở ngọn mới có một chùm lá to, rộng, xẻ lông chim. Lá có bẹ to. Hoa tự mọc thành buồng, ngoài có mo bao bọc, hoa đực ở trên, hoa cái ở dưới. Hoa đực nhỏ  màu trắng ngà, thơm mát. Quả hạch, hình trứng, to gần bằng quả trứng gà, lúc đầu xanh, vỏ bóng nhẵn, khi già biến thành màu vàng đỏ. Quả bì có sợi, hạt có nội nhũ xếp cuốn. Hạt hơi hình nón cụt, đầu tròn, giữa đáy hơi lõm, màu nâu nhạt, vị chát.
Cây cau được trồng ở khắp nơi trong nước ta, nhất là vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Trồng bằng quả, sau 5 – 6 năm mới thu hoạch, đó là cau nhà, còn gọi là Gia tân lang, có loại cau tứ thời (Cau bốn mùa), cây thấp đã có quả, ra quả quanh năm.
Cau rừng (Areca oleracea Linn cùng họ) còn gọi là Sơn tân lang, cây bé, hạt nhỏ, nhọn và chắc hơn. Vùng Nghệ An, Thanh Hóa có nhiều. Hiện nay ta thu mua cả hai loại cau nhà và cau rừng.
Bộ phận dùng: Vị thuốc là hạt già phơi hay sấy khô của cây Cau (Areca catechu L.), họ Cau (Arecaceae).
Phân bố: Cây được trồng khắp các miền nước ta.
Thu hái: Mùa thu hoạch khoảng tháng 9 – 12 (không kể loại cau tứ thời) lấy quả thật già, róc bỏ vỏ ngoài và vỏ già, lấy nguyên hạt ở trong đem phơi sấy thật khô.
Thành phần hoá học : Trong hạt cau có tanin, tỷ lệ trong hạt non độ 70% nhưng khi chín chỉ còn 15 – 20%. Hoạt chất chính là 4 alcaloid (tỉ lệ độ 0,4%) chủ yếu là arecolin C­­8H13NO2, arecaidin C17H11NO2, guvacin C­­6H9NO2 guvacolin C17H11NO2 Ngoài ra còn có mỡ béo (14%) các đường (2%), muối vô cơ và một sắc tố đỏ.
Công năng:  Hạ khí, hành thuỷ, tiêu hoá, sát trùng (phá tích).
Công dụng: Chữa sán, giúp tiêu hoá, chữa viêm ruột, lỵ, ngực bụng chướng đau, thuỷ thũng, sốt rét, cước khí sưng đau.
Cách dùng, liều lượng: Ngày 4 - 6g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán, để trị sán thường phối hợp với hạt Bí ngô, để trị sốt rét phối hợp với Thường sơn.
Bào chế:
Theo Trung Y: Ngâm nước ủ mềm, cạo bỏ dưới đáy, thái nhỏ. Chớ chạm tới lửa sợ kém sức, nếu dùng chín thì thà không dùng (Lôi Công Bào Chích Luận).
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Ngâm nước 2 - 3 ngày, ngày thay nước một lần trong chậu sành hay men, vì có chất chát, kỵ sắt, thái mỏng, phơi khô, không được sao.
- Thuốc trị sán: do xét nghiệm thấy nước sắc hạt Cau có tác dụng làm tê liệt sán nhưng chỉ mạnh đối với đầu con sán (trái lại hạt Bí rợ có tác dụng chủ yếu làm tê khúc đuôi) cho nên có bài thuốc sau đây: Sáng lúc bụng đói ăn 40 - 100g hạt bí rợ (bỏ vỏ). Hai giờ sau uống nước sắc hạt Cau (trẻ em trên 10 tuổi 30g,  phụ nữ  50 - 60g, người lớn 80g, cho liều hạt cau trên đây đun với 300 ml nước. Đun cho cạn còn 250 ml. Nhỏ dung dịch gelatin 2,5% vào cho đến khi kết tủa (để loại chất chát). Gạn lọc, đun cạn cho còn 150 - 200ml). Nửa giờ sau khi uống hạt cau, uống một liều thuốc tẩy (Magie sunfat 30g). Nằm nghỉ, đợi thật buồn đi ngoài, ỉa vào một chậu nước ấm, nhúng cả mông vào.
Kiêng ky: Người khí hư hạ hãm không tích trệ, trẻ em và phụ nữ có thai không được dùng Binh lang. Kỵ lửa.
Ghi chú: Vỏ quả Cau già là vị thuốc có tên Đại phúc bì làm thuốc lợi tiểu, chữa phù thũng toàn thân, nhất là bụng.

BÍ NGÔ

BÍ NGÔ
Semen Cucurbitae


Tên khác: Bí đỏ, Bù rợ.
Tên khoa học: Cucurbita pepo L., họ Bầu bí (Cucurbitaceae).
Mô tả: Cây thảo, sống lâu năm. Thân có năm cạnh, có lông dầy, thường có rễ ở những đốt. Lá mọc so le, có cuống dài 8-20 cm, phiến lá mềm, hình trứng rộng hoặc gần tròn, chia thùy nông, đầu tròn hoặc hơi nhọn, mép có răng cưa, hai mặt lá có nhiều lông mềm, đôi khi có những đốm trắng ở mặt trên ; tua cuốn phân nhánh. Hoa đơn tính cùng gốc, mầu vàng ; hoa đực có đế hoa ngắn ; đài loe rộng có thùy hình dải hoặc gần dạng lá, tràng hoa có 5 thùy rộng ; hoa cái có lá đài dạng lá rõ,  bầu hình tròn hoặc hơi dài. Quả to, cùi dày, rỗng giữa có nhiều dạng : dạng tròn, hơi dẹt, có rãnh sâu ; dạng hình trứng hoặc hình trứng hơi dài, có khía rãnh, vỏ ngoài nhẵn, khi chín mầu vàng trắng, vỏ giữa mầu vàng cam, có mùi thơm, vị ngọt lợ, cuống quả có rãnh và loe rộng ở chỗ tiếp giáp với quả ; hạt mầu trắng xám, có mép mỏng và mầu sẫm hơn. Mùa hoa : tháng 3-4 ; mùa quả tháng 5-6
Bộ phận dùng: Hạt quả bí ngô đã già, chín và đã chế biến khô (Semen Cucurbitae).
Phân bố: Cây được trồng nhiều nơi làm thực phẩm.
Thu hái : Khi cây được 2-3 lá chính thức, cắt ngọn, mỗi nhánh nên giữ 2-3 quả để có quả to, cắt bỏ phần ngọn sau quả thứ 3. Ðể làm rau ăn, có thể dùng quả non hay quả già. Ðể làm thuốc, ta thu hái quả già, lấy thịt quả dùng tươi, còn hạt có thể dùng tươi hay phơi khô dùng dần.
Thành phần hoá học: Hạt bí ngô có các chất protid, lipid, glucid, các chất khoáng P, Mg, Ca, K. Hoạt chất là một alcaloid: cucurbitin trong phôi và vỏ lụa (có tác dụng tẩy giun sán).
Cùi quả bí ngô có các chất protid, lipid, glucid, các acid amin (arginin, adenin…) các chất khoáng P, Na, K, Ca, Mg, Fe, Cu, As,… các vitamin B1, C, caroten.
Công năng: Tẩy giun sán, ức chế sự phát triển của sán máng còn gọi Huyết hấp trùng (schistosomiase). Cùi quả bí ngô được coi như có tác dụng bổ não.
Công dụng:  Chữa sán.
Cách dùng, liều lượng: Bóc hết vỏ cứng, để nguyên màng xanh ở trong, giã nhỏ trộn với đường hoặc mật để ăn vào lúc đói, sau khoảng 3 giờ uống thuốc tẩy muối, đi ngoài trong một chậu nước ấm. Người lớn dùng khoảng 100g nhân hạt. Trẻ con 3-4 tuổi dùng 30g; 5-10 tuổi dùng 75g.
Bài thuốc :
 1. Trị giun đũa: Lấy 30-50g hạt Bí ngô, bóc vỏ, nghiền ra, lẫn với mật ong, ăn làm 3 lần, cách nhau 1/2 giờ. Sau đó 1 giờ, cho uống 1 liều thuốc xổ. Ðể trục giun sán nói chung, có thể dùng hạt Bí ngô rang ăn cho đến no, đến chán, rồi uống nhiều nước pha muối, cho đi ngoài, thì giun bị tẩy ra.
2. Trục sán xơ mít: Kinh nghiệm của nhân dân ta là chiều hôm trước ăn nhẹ hoặc dùng thuốc tẩy nhẹ để sáng hôm sau dùng thuốc. Lấy hạt Bí ngô bóc vỏ cứng, để nguyên màng xanh ở trong, dùng 100g nhân giã nhỏ, chế vào 60 ml nước, thêm vào 60g mật hay đường, trộn đều ăn vào tảng sáng đói lòng, ăn hết trong một lúc, nằm nghỉ. Ba giờ sau uống thuốc muối sulfat magnesium một liều, hay 10g Phác tiên hoà trong một cốc nước nguội. Sau đó, đổ 1 lít nước nóng pha thêm 2-3 lít nước lạnh vào trong chậu, để cho bệnh nhân ngồi đi ngoài trong nước ấm thì sán sẽ ra hết. Hoặc có thể dùng phối hợp với nước sắc hạt Cau, vỏ rễ Lựu thì tác dụng lại càng mạnh hơn.
3. Trị táo bón, dùng Bí ngô một miếng. Khoai lang một củ, nấu chè với đường đủ ngọt, ăn càng nhiều càng tốt.
4. Viêm đường tiết niệu, dùng hạt Bí ngô giã ra và nghiền nhỏ, đem nấu lên cho được một nhũ tương mà uống.
5. Ðái đường: Người ta xắt Bí ngô ra từng miếng, rắc muối, bỏ vào nấu, ăn thêm với nước mắm hoặc tương Ðậu nành. Hoặc xắt bí ra từng miếng, đem xào bằng dầu thực vật rồi thêm hành, muối, tương và nước vừa đủ, nấu lên ăn.

BẢY LÁ MỘT HOA

BẢY LÁ MỘT HOA (" 七叶一枝花)
Rhizoma Paridis Chinensis

Bảy lá một hoa (Paris spp.)

Tên khác: Thất diệp nhất chi hoa, Tảo hưu.
Tên khoa học: Paris polyphilla Sm. và một số loài khác thuộc chi Paris, họ Hành (Liliaceae).
Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm, cao 30-100cm, thường có 5-8 lá ở 2/3 trên. Lá có phiến hình trái xoan ngược dài 7-17 cm, rộng 2,5-5cm hay hơn, gốc tròn, chóp có mũi; cuống lá 5-6cm. Hoa mọc đơn độc ở ngọn thân trên một trục cao 70-80 cm. Lá đài màu xanh nom như lá; cánh hoa dạng sợi dài bằng đài, màu vàng. Quả mọng, cao 3cm, hạt to màu vàng.
Ra hoa tháng 3-7, quả tháng 8-12.
Bộ phận dùng: Thân rễ.
Phân bố: Cây mọc hoang ở những vực khe ẩm tối, gần suối ở độ cao trên 600m. Gặp nhiều ở Lào Cai (Sapa), Ninh Bình (Cúc Phương), Bắc Thái (Ðại Từ), Lạng Sơn, Hoà Bình, Hà Bắc. Cũng mọc nhiều ở Trung Quốc với nhiều thứ khác nhau
Thu hái: rễ quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu đông,rửa sạch phơi khô.
Thành phần hoá học: Saponin (diosgenin, pennogenin).
Công năng: thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng viêm.
Công dụng: Chữa sốt, rắn độc cắn, ho lâu ngày, hen suyễn.
Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-12g dưới dạng thuốc sắc, dùng ngoài (giã đắp lên nơi sưng đau) không kể liều lượng.
Ghi chú: Cây có độc, khi dùng phải thận trọng.

Stevia khởi phát cạnh tranh giữa Pepsi và Coca

Cây Stevia rebaudiana (Cỏ ngọt) được sử dụng ở Paraguay từ nhiều thế kỷ qua đang là tâm điểm cuộc chiến sắp tới giữa Pepsi và Coca khi cả hai đều đặt cược vào chiết xuất của nó để thúc đẩy kinh doanh nước giải khát có gaz.


Cây stevia ở Paraguay có chất đường cao gấp trăm lần loại đường ăn bình thường.
Loại cây nhiệt đới stevia có chất đường cao gấp trăm lần loại đường ăn bình thường, đủ sức qua mặt các loại đường tổng hợp bị chỉ trích gay gắt như aspartame (bán dưới nhãn hiệu Canderel hoặc Equal) hoặc sucralose (Splenda). Chính vì vậy, Pepsi và Coca đang đặt cược vào stevia để hâm nóng thị trường nước giải khát có gaz dạng “không có calorie” và “100% natural”. Tờ L’Expansion cho biết cả hai tập đoàn đã âm thầm thử nghiệm các sản phẩm làm từ chiết xuất stevia, với tên gọi PureVia ở Pepsi và Truvia ở Coca.

Đầu năm nay, hai tập đoàn này đã gửi hồ sơ đăng ký lên Cục quản lý thực dược Mỹ (FDA) để xin được chấp thuận công thức chế biến. Tuy chưa nhận được quyết định cuối cùng của FDA, Coca vẫn cùng với đối tác Cargill kinh doanh Truvia từ giữa tháng 7 như một loại đường ăn sử dụng hằng ngày. Với giá bán 3,99 đô la cho 40 gói nhỏ, Truvia có thể cho phép Coca giành ưu thế trong cuộc chạy đua tay đôi, dù hãng vẫn chưa tiết lộ thời điểm tung ra nước giải khát có Truvia tại thị trường Mỹ.

Lập luận để Coca tạm bỏ qua sự chuẩn thuận của FDA là “sản phẩm đã được thử nghiệm rộng rãi và các kết quả nghiên cứu chứng minh được tính vô hại đã được đăng tải trên một tạp chí khoa học vào tháng 5”, như khẳng định của Ann Tucker, phát ngôn viên của Cargill. Coca và Cargill đã tận dụng công bố ngày 4-7 năm nay của Tổ chức y tế thế giới kết luận đặc tính không gây độc của các chiết xuất từ stevia. Trong khi đó, Pepsi và đối tác Merisant (sản xuất đường tổng hợp Canderel và Equal) thông báo tung ra thị trường một công thức mới có sử dụng PureVia, đó là nước uống có hương SobeLife vào mùa thu này. “Chúng tôi đã vào vạch xuất phát, nhưng chúng tôi chờ ý kiến của FDA”, lãnh đạo của Merisant ở châu Âu, ông Hugues Pitre nói.

Năm ngoái, PepsiCo đã đặt chân vào hệ thống cửa hàng thức ăn nhanh McDonald’s, lãnh địa của Coca-Cola từ hơn 50 năm qua. Động tác này đã chấm dứt sự độc quyền của Coca, dù Pepsi chỉ bán nước cam Tropicana, trà lạnh Lipton và nước tăng lực Gatorade, ba nhãn hiệu hàng đầu của tập đoàn và hoàn toàn không được đụng đến nước giải khát có gaz. Để bắt kịp đối thủ cạnh tranh lớn nhất, Pepsi không ngần ngại điều chỉnh chiến lược của mình cách đây một chục năm, đặt cược vào sự bùng nổ của sản phẩm nước trái cây và nước ngọt bổ sung vitamine thay vì chỉ là 100% nước ngọt có gaz. Kết quả: doanh số của tập đoàn tăng 10% từ 5 năm nay (39,4 tỉ đô la năm 2007).

Nhưng quan trọng hơn là việc PepsiCo trở thành tập đoàn thực phẩm chế biến đứng hàng thứ hai thế giới, sau Nestlé và bỏ xa Coca-Cola, nhờ vào hai nhãn hiệu thực phẩm Quaker Oats và Frito-Lay dẫn đầu thế giới về khoai tây chiên và bánh snack. Kiến trúc sư của thành công này ở Pepsi chính là Indra Nooyi, người phụ nữ Ấn Độ được đưa lên lãnh đạo tập đoàn vào tháng 10 năm 2006, sau khi đã có hơn chục năm âm thầm làm phó chủ tịch phụ trách chiến lược rồi giám đốc tài chính.

Áp phe đầu tiên của Indra Nooyi là mua lại Tropicana vào năm 1998, nhãn hiệu nước giải khát bán chạy hàng thứ ba tại các siêu thị Mỹ, chỉ sau Coca và Pepsi. Chính nhờ có Tropicana mà Pepsi hốt bạc và có thể mạnh tay phát triển dòng sản phẩm nước giải khát có bổ sung khoáng chất hoặc kết hợp trái cây với rau quả. Vừa được chọn làm lãnh đạo cao nhất của tập đoàn, Indra Nooyi thâu tóm nước trái cây Izze và Naked Juice, hai nhãn hiệu ưa thích của giới khách hàng có thu nhập cao ở New York và Silicon Valley.

Năm 2001, khi Coca từ chối mua lại Quaker Oats, Indra Nooyi không ngần ngại ký ngay tấm ngân phiếu 14 tỉ đô la để kết thương vụ này. Mục tiêu của áp phe này không phải là thực phẩm ngũ cốc của Quaker oats, mà chính là nước Gatorade dành cho người chơi thể thao. Nhãn hiệu này trị giá hơn 6 tỉ đô la và nằm trong top 5 nước giải khát trên thị trường Mỹ.

Sau thành công trên, Pepsi gia tăng các thương vụ mua lại (Sobe Life năm 2000, V Water năm 2008) và tung ra sản phẩm mới (Propel Fitness Water năm 2002, Aquafina Alive năm 2007). Pepsi cũng giành vị trí dẫn đầu thị trường nước uống có vitamine tại Mỹ, tăng 8,5%/năm từ 2002, đủ để bù lấp sự tụt giảm nước giải khát có gaz trong cùng thời gian (giảm 2,5%/năm, theo công bố của Food for Thought). Những chủ bài cuối cùng của Pepsi trong cuộc canh tranh với Coca là Lipton Ice Tea, số 1 thế giới về trà đá, và một dòng nước giải khát có cà phê triển khai hợp tác với Starbucks.

Cuộc chiến sắp tới giữa hai đối thủ này sẽ lại khởi phát sau khi FDA đồng ý cho phép kinh doanh chiết xuất từ stevia.