Nguyên liệu ngành dược đang bị bỏ quên

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

Theo thống kê, 90% nguyên liệu sản xuất trong ngành dược cả tân dược và đông dược hiện đều phải nhập khẩu. Sự phụ thuộc này khiến khả năng cạnh tranh của ngành dược giảm đi đáng kể trong khi nếu quy hoạch tốt nước ta sẽ có những vùng trồng nguyên liệu đáp ứng được nhu cầu sản xuất dược phẩm trong nước.
Bộ y tế cho biết, nước ta có trên 3.000 loài cây trong rừng tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, trong đó có 50 loài có dược tính cao, hiện có 20 loài đang được nhân giống, trồng rộng rãi phục vụ cho việc sản xuất các loại thuốc chữa bệnh, kể cả bệnh nan y như kim tiền thảo chữa sỏi thận của Công ty cổ phần Dược phẩm OPC, thuốc Crila chiết xuất từ cây trinh nữ hoàng cung chữa bệnh u xơ tử cung…Trồng dược phẩm đang là hướng đi của một số doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu cũng như sản xuất.

Mấy năm nay, công ty TNHH sản xuất, thương mại Hồng Đài Việt đã đầu tư một vùng trồng nguyên liệu gồm cây bụp dấm, diệp hạ châu, kim tiền thảo, cỏ mực, ích mẫu tại Phú Yên với mục đích bán nguyên liệu cho một số công ty sản xuất thuốc, ngoài ra sơ chế rồi xuất khẩu. Tuy nhiên để có thể đưa được nguyên liệu sạch này vào các nhà máy, lãnh đạo công ty cũng phải mất một thời gian rất dài tiếp thị cũng như thuyết phục các đơn vị thu mua bởi giá của nguyên liệu sạch cao hơn rất nhiều so với những nguyên liệu trôi nổi đang có trên thị trường hiện nay. Ông Hoàng Xuân Lâm, phó giám đốc công ty Hồng Đài Việt nói:

Không chỉ có những đơn vị trồng nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy mà những đơn vị sản xuất dược phẩm nhiều năm qua đã chủ động nguồn nguyên liệu như công ty cổ phần Y - Dược phẩm Vimedimex đầu tư khá nhiều vùng trồng nguyên liệu, chẳng hạn như thông đỏ và dừa cạn sản xuất thuốc điều trị ung thư. Ngoài ra là cây hoa hòe ở Đak Lak sản xuất hoạt chất rutin cạnh tranh với rutin nhập khẩu từ Trung Quốc. Vimedimex cũng đầu tư xây dựng quy trình sản xuất cho 10 loại cây dược liệu chiến lược của công ty tại Tây Nguyên và Tây Ninh, trong tương lai có thể không phải nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất nhưng trước mắt những vùng trồng này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất của công ty. Hay như tập đoàn y dược Bảo Long từ lâu cũng đã đầu tư những vùng trồng nguyên liệu của riêng mình phục vụ cho hoạt động sản xuất.

Thực tế việc xây dựng vùng trồng dược liệu chẳng những giúp doanh nghiệp chủ động trong sản xuất mà còn là công cụ kinh tế giúp nông dân xóa đói giảm nghèo. Ông Hoàng Xuân Lâm cho biết, ngoài việc cung cấp giống, quy trình kỹ thuật, công ty còn đảm bảo bao tiêu sản phẩm cho nông dân với giá thành thỏa thuận ban đầu, một vụ thu hoạch diệp hạ châu bằng mấy vụ lúa, nhờ vậy nhiều nông dân trong vùng trồng nguyên liệu của công ty Hồng Đài Việt đã thoát nghèo. Dù vậy, ông Lâm cũng tâm tư, nông dân của ta hiện nay vẫn chưa thể trồng trọt một cách chuyên nghiệp khi vẫn có tư tưởng nơi nào giá cao hơn thì bán, điều này vô hình chung làm khó cho doanh nghiệp muốn mở rộng vùng trồng nguyên liệu. Về điều này, Lương y Đinh Công Bảy, Chủ tịch Hội dược liệu TPHCM cho rằng, hiện trạng phát triển dược liệu làm thuốc của nước ta chưa phát triển tương xứng với tiềm năng là bởi chưa có một quy hoạch tổng thể cũng như chính sách phù hợp, do vậy để phát triển bền vững cần phải có sự liên kết của 4 nhà, nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và doanh nghiệp, trong đó nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Lương Y Đinh Công Bảy cho biết thêm:

Song song với việc phát triển vùng trồng dược liệu, công tác chiết xuất và tổng hợp dược liệu của nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bởi nếu chỉ xuất thô với giá rẻ và nhập tinh với giá đắt thì lợi nhuận thu về chẳng được bao nhiêu. Phải có các nhà máy hiện đại chiết xuất, tổng hợp dược liệu song song với vùng trồng thì mới có thể phát triển đồng bộ. Bởi dược liệu giống như rau, chỉ cần quy trình bảo quản không đúng và không thu hoạch thì dược tính trong thuốc sẽ giảm và thậm chí là hư hỏng hoàn toàn. Hơn nữa doanh nghiệp cũng phải biết giữ chữ tín của mình với nông dân. Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh, Tổng thư ký hiệp hội gỗ và lâm sản Việt nam nói:

Cũng theo Tiến sĩ Minh, dược liệu hiện nay đâu chỉ phục vụ cho riêng ngành dược mà còn phục vụ cho nhiều ngành khác nữa như mỹ phẩm hay lương thực thực phẩm. Chỉ đơn cử như ngành mỹ phẩm, hiện người ta có xu hướng trở lại với thiên nhiên, hương liệu nhân tạo không còn được ưa chuộng bởi sử dụng lâu dài sẽ độc với người sử dụng. Hay như nhiều đơn vị sản xuất mì ăn liền rất cần nguyên liệu xả để làm gia vị trong khi xả cũng được dùng chiết xuất tinh dầu, hay như hồi, quế vừa là gia vị vừa là thuốc chữa bệnh vừa là hương liệu của ngành mỹ phẩm.

Tại hội nghị phát triển dược liệu vào giữa tháng 6, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định sẽ có sự liên kết giữa 4 nhà trong phát triển dược liệu nhưng phương án cụ thể để phát triển nó thì chưa thấy và hầu như các doanh nghiệp mày mò tự cung tự cấp một phần, còn lại chủ yếu là nhập khẩu, nói như tiến sĩ Trương Thìn, Hội đông y quận 5 thì vẫn cần lắm những chỉ đạo sát sao và quyết liệt thì mới có thể phát triển được ngành dược như mong muốn.
Theo-baomoi.com

HỘI THẢO - Cập nhật các tiêu chuẩn GMP mới trong thực phẩm chức năng tại thị trường Hoa Kỳ

Ngày 24 tháng 06 năm 2011, tại Hà Nội đã diễn ra buổi hội thảo Cập nhật các tiêu chuẩn GMP mới trong Thực phẩm Chức năng tại thị trường Hoa Kỳ. Chương trình được tổ chức bởi: Hiệp hội Thực phẩm Chức năng Việt Nam (VADS); Tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực an toàn và sức khỏe cộng đồng NSF International và Tập đoàn Nghiên cứu thị trường Euromonitor International.

Tham gia buổi hội thảo có sự trình bày của: PGS. TS. Trần Đáng (Chủ tịch, VADS); Ông Edward Wyszumiala (Tổng Giám đốc, NSF International); Ông Chris Aiyer (Giám đốc phát triển chương trình, NSF International); Ông Samuel Huynh (Chuyên viên phân tích, Euromonitor International). Đại diện các Cơ quan Quản lý Nhà nước cùng với đông đảo các doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực Thực phẩm Chức năng tại thị trường Việt Nam và các đơn vị báo chí - truyền thông.

Ảnh: Ông Ed Wyszumiala (TGĐ NFS International) báo cáo.

Các nội dung báo cáo cùng phần thảo luận rộng rãi đã tập trung vào các vấn đề chính như sau:

1. Tổng quan về Tiêu chuẩn Thực hành Sản xuất tốt GMP mới (cGMP) - điều kiện tuân thủ bắt buộc sau ngày 25 tháng 6 năm 2010 (ngay Điều luật Liên bang 21 CFR 111 chính thức có hiệu lực) để xuất khẩu các sản phẩm TPCN vào thị trường Hoa Kỳ.

2. Tổng quan chương trình thẩm định và đánh giá cGMP của NSF International dành cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm TPCN.

3. Báo cáo của Euromonitor International về thị trường Thực phẩm Chức năng tại thị trường Việt Nam trong năm 2010 so sánh với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Ảnh: TS Trần Đáng (Chủ tịch, VADS) chụp ảnh lưu niệm cùng các diễn giả

Hiệp hội Thực phẩm Chức năng Việt Nam (VADS) là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp, tổ chức, các doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ về TPCN và các lĩnh vực có liên quan. Các nhiệm vụ trọng tâm đã được xác định của VADS là:

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu và tiêu dùng Thực phẩm Chức năng.

- Hỗ trợ, động viên tổ chức, cá nhân tham gia phát triển Thực phẩm Chức năng.

- Tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật, các kiến thức về Thực phẩm Chức năng để toàn xã hội Hiểu đúng - Làm đúng - Dùng đúng Thực phẩm Chức năng.

- Trung tâm kết nối giữa Sản xuất - Kinh doanh - Quản lý - Nghiên cứu và Tiêu dùng Thực phẩm Chức năng.

NSF International là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận độc lập uy tín toàn cầu hoạt động trong lĩnh vực an toàn và sức khỏe cộng đồng; đi đầu trên thế giới trong việc phát triển các tiêu chuẩn, chứng nhận sản phẩm, đào tạo và quản lý rủi ro trong lĩnh vực an toàn và sức khỏe cộng đồng. NSF là Trung tâm hợp tác về an toàn thực phẩm và nước uống của Tổ chức y tế thế giới (WHO).

Tập đoàn nghiên cứu thị trường Euromonitor International là một tổ chức được thành lập vào năm 1972 với tổng hành dinh tại London (Anh Quốc), với hơn 1000 chuyên gia nghiên cứu thị trường và chuyên gia tư vấn toàn cầu cung cấp thông tin thị trường, sách tham khảo, hồ sơ nghiên cứu doanh nghiệp và dự báo thị trường của trên 80 quốc gia. Hiện tại Euromonitor có các văn phòng tại  Chicago, Singapore, Shanghai, Vilnius, Dubai, Cape Town và Santiago.

Theo đánh giá của Tập đoàn nghiên cứu thị trường Euromonitor, năm 2010 thị trường TPCN Việt Nam (không bao gồm TPCN phân phối qua hệ thống bán hàng trực tiếp) là 158,9 triệu USD và là một trong 3 thị trường có tốc độ tăng trưởng hàng đầu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên thực tế hiện nay, sự hiểu biết về TPCN còn rất hạn chế, ảnh hưởng tới xu thế phát triển TPCN - một “dòng thực phẩm có tác dụng rất lớn lao trong việc giữ gìn sức khỏe con người” (theo nhận định của Giáo sư – Viện sĩ Phạm Song).

Việt Nam có nguồn nguyên liệu tự nhiên phong phú, đa dạng cùng nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất tham gia trong lĩnh vực kinh tế tiềm năng này. Nhằm đảm bảo sự an toàn và chất lượng của các sản phẩm TPCN, tại các nước tiên tiến trên thế giới đều có các khuyến cáo về Thực hành tốt sản xuất (GMP) trong TPCN. Không nằm ngoài xu thế đó, trong lộ trình hòa hợp tiêu chuẩn về TPCN tại khu vực ASEAN, dự kiến bắt đầu từ năm 2015 các nước thành viên (bao gồm Việt Nam) sẽ đồng loạt triển khai Thực hành tốt sản xuất (GMP) trong TPCN theo các khuyến cáo chung của ASEAN.

Ảnh: PGS. TS Trần Đáng (Chủ tịch VADS) phát biểu bế mạc 


Việt Nam là một trong những nước sớm áp dụng tiêu chuẩn này, theo Thông tư số 16/2011/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành về nguyên tắc sản xuất thuốc từ dược liệu và lộ trình áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt sản xuất thuốc” (GMP) đối với cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu có hiệu lực từ ngày 8/6/2011, các cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu thành lập mới, bổ sung phạm vi kinh doanh thuốc hoặc gia hạn giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc phải đáp ứng các nguyên tắc sản xuất thuốc từ dược liệu theo quy định. Thông tư cũng quy định từ ngày 1/1/2014, các cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu phải đáp ứng nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt sản xuất thuốc” theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (GMP-WHO) mới đủ điều kiện kinh doanh thuốc.

Theo-duoclieuvietnam.com

Thị trường dược liệu đang bị thả nổi

Việc thả nổi quản lý chất lượng trong chủng loại, chế biến và nhập khẩu là nguyên nhân dẫn đến dược liệu sản xuất trong nước không cạnh tranh nổi với dược liệu nhập ngoại. Theo lương y Đinh Công Bảy - Tổng Thư ký Hội Dược liệu TP HCM: Tình trạng nhập khẩu dược liệu "rác", kém chất lượng tràn lan qua đường tiểu ngạch ở các cửa khẩu vùng biên dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng nhiều loại cây thuốc quý hiếm.

Theo điều tra của Viện Dược liệu, Việt Nam có khoảng 3.948 loài cây thuốc, 52 loài tảo biển, 75 loại khoáng vật, 408 loài động vật làm thuốc, trong đó, có nhiều loại có giá trị cao là dược liệu quý đã được thế giới công nhận như: Cây hồi, cây gió bầu, cây quế, atisô, sâm Ngọc Linh, cây tràm, hoa hòe, trinh nữ hoàng cung, giảo cổ lam… Tổng sản lượng dược liệu trồng ở Việt Nam ước tính hàng năm khoảng 3.000 -5.000 tấn. Với chủng loại và số lượng như vậy, Việt Nam được coi là nước có nguồn dược liệu rất đa dạng và phong phú.

Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước để sản xuất, chế biến lại chưa tương xứng với tiềm năng hiện có và tỷ lệ này giảm dần theo các năm: Năm 2005 chiếm 25%, năm 2009 còn 15% và đến 4 tháng đầu năm 2010 giảm xuống còn 12%. Một điều cũng hết sức nghịch lý là, trong khi Việt Nam là xứ sở của hàng ngàn cây thuốc, nhưng vẫn phải nhập khẩu hơn 90% nguyên liệu dùng để sản xuất thuốc trong nước.

Theo TS Nguyễn Bá Hoạt - Phó Viện trưởng Viện Dược liệu, đã có trên 20 loại thuốc vốn đã nhập nội thành công ở nước ta và đã từng sản xuất đạt sản lượng lớn, nay cũng phải nhập khẩu trở lại như: bạch chỉ, bạch truật, đương quy, huyền sâm, ngưu tất, sinh địa, thục địa, xuyên khung,… Có khoảng 45 loài cây trồng là thế mạnh của Việt Nam cũng phải nhập khẩu như: bạch biển đậu (đậu ván trắng), binh lang (hạt cau), hoắc hương, xạ can, hồng hoa, xuyên tâm liên…. Tình trạng này cũng xảy ra với 25 loại là cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam, đã từng khai thác xuất khẩu.

Một số loại dược liệu được bày bán trên thị trường.

Còn chất lượng dược liệu cũng là điều đáng lo ngại, theo nhiều chuyên gia, cho đến nay hầu hết dược liệu khi đến tay người tiêu dùng phải qua các khâu chế biến. Tuy nhiên, việc chế biến và chất lượng của dược liệu hiện nay rất đáng lo ngại cho sức khỏe của người tiêu dùng. Việc thả nổi quản lý chất lượng trong chủng loại, chế biến và nhập khẩu là nguyên nhân dẫn đến dược liệu sản xuất trong nước không cạnh tranh nổi với dược liệu nhập ngoại. Cũng theo lương y Đinh Công Bảy - Tổng Thư ký Hội Dược liệu TP HCM: Tình trạng nhập khẩu dược liệu "rác", kém chất lượng tràn lan qua đường tiểu ngạch ở các cửa khẩu vùng biên dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng nhiều loại cây thuốc quý hiếm.

Trong khi các nước trên thế giới đã thu được nguồn thu lớn từ dược liệu và thuốc có nguồn gốc từ dược liệu thì tại Việt Nam việc trồng dược liệu hiện nay còn thiếu quy hoạch tập trung, thiếu sự hỗ trợ từ các ngành liên quan, khiến thị trường dược liệu không ổn định, cây dược liệu cũng không phát triển. Hơn nữa, cho đến nay vẫn chưa có một cơ quan chuyên môn nào đảm trách khâu kỹ thuật sản xuất, dẫn đến tình trạng các cây dược liệu trong nước không đảm bảo được năng suất, chất lượng, giá cả để cạnh tranh với dược liệu các nước… Ngoài ra, một nguyên nhân nữa khiến cho dược liệu trong nước khó cạnh tranh với dược liệu nước ngoài là do việc làm ăn gian dối của một số thương gia và hộ gieo trồng với những thủ thuật như: đánh bóng tam thất bằng chì, dùng diêm sinh sấy khô hoặc sấy khô không đúng quy trình kỹ thuật….

Để dược liệu trong nước không bị thua trên "sân nhà", cách làm cần thiết nhất hiện nay là phát triển chủng loại và mở rộng diện tích trồng cây thuốc để giảm dần nguồn nguyên liệu nhập khẩu và hướng tới xuất khẩu. Lương y Đinh Công Bảy cũng cho rằng, muốn làm được điều này, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển, quy hoạch từng vùng trồng. Đồng thời giữ vai trò trung tâm xây dựng các cơ chế chính sách thông thoáng, tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nông liên kết hoạt động để phát triển những sản phẩm dược liệu hiệu quả. Nhà nước cũng cần có những biện pháp, chế tài nghiêm ngặt đối với những hành vi lợi dụng khai thác các nguồn dược liệu quý hiếm của Việt Nam sang nước ngoài để trục lợi. Ngoài ra, sự nỗ lực của các công ty sản xuất dược phẩm cũng là một động lực để thúc đẩy ngành Dược liệu Việt Nam phát triển

Theo-cand.com.vn

Ô nhiễm nơi “thủ phủ” dược liệu

Làng Thiết Trụ (xã Bình Minh, Khoái Châu, Hưng Yên) bao năm nay nổi lên như một “thủ phủ” cung cấp các loại dược liệu làm thuốc Bắc, thuốc Nam lớn nhất nhì cả nước. Dược liệu từ đây đi khắp cả nước, từ Bắc vào Nam và xuất đi nước ngoài. Nhưng bao năm làm nghề là bấy nhiêu thời gian, người dân Thiết Trụ phải sống chung với ô nhiễm.

Dược liệu đi xa, về gần:
Đã từ bao năm nay, nghề trồng và sơ chế dược liệu đã có ở Thiết Trụ, những người già cả nhất làng giờ cũng chỉ có thể nhớ, từ ngày còn bé đã thấy nơi đây, nhà nhà trồng cây dược liệu, người người làm nghề thu gom, sơ chế dược liệu. Thuốc Bắc, thuốc Nam ngày càng chiếm lĩnh được thị trường, nên nhu cầu về nguyên liệu cũng tăng cao, nghề trồng, sơ chế dược liệu ở Thiết Trụ có đất phát triển. Bởi vậy, theo ông Phạm Duy Hiển - Chủ tịch UBND xã Bình Minh, 3 năm trở lại đây, nghề sơ chế, chế biến dược liệu ở Thiết Trụ phát triển mạnh mẽ cả về quy mô số hộ tham gia và lượng dược liệu cung cấp ra thị trường.

Dược liệu được phơi như ngô, sắn.

 

Từ những năm 1980 của thế kỷ trước, khi thấy đất nông nghiệp trên địa bàn xã quá chật hẹp (bình quân 1 người chưa được 1 sào Bắc bộ), người dân Thiết Trụ đã biết tìm đến các cánh đồng của làng bên, xã dưới, dần dà, ra cả các tỉnh lân cận như Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương... để thuê đất trồng cây dược liệu. Ông Hiển kể, ở hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, vùng nào có trồng cây dược liệu là ở đó có sự hiện diện người dân của xã Bình Minh. Theo số liệu của UBND xã Bình Minh, thôn Thiết Trụ hiện có khoảng 200 hộ dân đi thuê đất ở các nơi để trồng cây dược liệu. Tính đến nay, số vị dược liệu có nguồn gốc từ Thiết Trụ đã lên tới trên 40 vị. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, người dân đã tập trung vào khoảng 15 vị thuốc có hiệu quả kinh tế, được tiêu thụ mạnh trên thị trường như Bản Hạ, Bạch Chỉ, Ngưu Tất….

Ông Hiển cho biết, các vị thuốc xuất xứ từ làng Thiết Trụ, xã Bình Minh có mặt trên khắp các hiệu thuốc Nam, thuốc Bắc, từ phố Lãn Ông, xã Ninh Hiệp (Hà Nội), đến các tỉnh, thành miền Nam. Thôn Thiết Trụ có khoảng 900 hộ dân thì gần như 100% số hộ đều tham gia trồng, sơ chế, chế biến dược liệu. Trong đó, có khoảng 80-100 hộ tham gia thu gom, chế biến rồi xuất đi các nơi. Nghề làm dược liệu, theo ông Hiển mang lại cho người dân nơi đây mức thu nhập khá cao.

Còn nhiều trăn trở:

Đổi đời, phất lên nhờ nghề sơ chế, chế biến dược liệu ngày càng phát đạt, thì cũng là lúc, người dân Thiết Trụ cảm nhận rõ rệt ô nhiễm môi trường từ chính nghề của mình. Đến Thiết Trụ, đặt chân tới đầu làng đã gặp ngay một mùi hăng hăng sộc thẳng vào mũi. Lần đầu không quen, tiếp xúc một khoảng thời gian ngắn có thể thấy chóng mặt, cảm giác nặng đầu, nôn nao. Đó chính là triệu chứng do các vị thuốc có chứa lưu huỳnh hay được gọi là diêm sinh gây ra.

Theo đó, trong chuỗi sơ chế, chế biến các vị dược liệu, đặc biệt là những dược liệu loại củ bắt buộc phải qua công đoạn hấp diêm sinh để chống mốc, chống thối. Bởi vậy, khi đưa ra khỏi lò hấp, diêm sinh tản đi khắp các ngõ ngách. Ông Nguyễn Văn Quất, thôn Thiết Trụ, một trong những hộ sản xuất dược liệu lớn nhất nhì thôn Thiết Trụ cho biết, khoảng chừng nửa tháng nữa, Thiết Trụ mới chính thức vào mùa vụ, thu gom, sơ chế và chế biến các vị dược liệu. Lúc đó, nhà nhà cùng tham gia vào sơ chế, chế biến, ô tô chở nguyên liệu về rồi lại “ăn” hàng đi tiêu thụ nườm nượp, đỗ dài trên triền đê.

Khắp các bãi đất trống trong làng, ngoài đồng, trên triền đê…. đều được tận dụng để làm chỗ phơi dược liệu. Ông Nguyễn Văn Kiên - Trưởng thôn Thiết Trụ tâm sự, đây là nghề gắn với nghiệp cha ông để lại từ xa xưa, hơn nữa, lợi nhuận cũng cao hơn sản xuất nông nghiệp. Bởi vậy, dù biết việc tiếp xúc trực tiếp với diêm sinh hàng ngày gây hại đến sức khỏe, song, cũng chưa có giải pháp nào khắc phục. Theo ông Kiên, nếu trong quá trình hấp bị hở thì diêm sinh rò rỉ ra ngoài không khí khá nặng, ngay cả người dân bản địa dù đã quen nhưng cũng bị hắt hơi, sổ mũi….

Thêm vào đó, ông Kiên cũng lo lắng trước việc nước rửa các loại dược liệu sau công đoạn hấp diêm sinh có chứa các chất gây hại, nhưng lại được thải ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước. Đặc biệt, vào cao điểm của mùa vụ, từ tháng 8 đến tháng 12 âm lịch hàng năm, hàng về dồn dập, nhà nhà ủ dược liệu ngay ngoài đường hoặc ngoài cánh đồng. Ông Hiển cũng nhìn nhận, việc chế biến, sơ chế dược liệu tại đây không thể tránh khỏi gây ô nhiễm môi trường, nhất là vào những tháng cao điểm sản xuất. Tuy nhiên, xã cũng chưa tổ chức thu gom rác tập trung, hay có biện pháp nào để cải thiện tình hình ô nhiễm trên các ao, hồ quanh làng.

Thêm vào đó, các công đoạn sơ chế dược liệu tại Thiết Trụ rất thiếu vệ sinh. Hầu hết mọi công đoạn đều được thực hiện ngay dưới đất, với cát, rác rưởi trộn lẫn. Khi được hỏi về khả năng đảm bảo vệ sinh, hầu hết người dân Thiết Trụ đều thanh minh rằng, đây mới là công đoạn sơ chế. Sau khi xuất cho các đại lý, họ còn qua nhiều công đoạn sao tẩm, chế biến khác nên công đoạn sơ chế dù có bẩn cũng không bị ảnh hưởng đến chất lượng, cũng như vệ sinh sản phẩm? Có lẽ, cùng chính vì suy nghĩ vậy, nên ngay cạnh khu vực sơ chế, chế biến  dược liệu là các bao tải phân gà để bón ruộng!

Theo phunu.info

Đừng để Viêt Nam thành nơi tiêu thụ phế phẩm đông dược!

Mặc dù, Bộ Y tế đã có nhiều văn bản chỉ đạo kiểm tra các cơ sở kinh doanh và khám – chữa bệnh bằng đông y. Tuy nhiên, nếu các cơ quan chức năng không triển khai quyết liệt thì thị trường dược liệu của Việt Nam sẽ trở thành nơi tiêu thụ thứ phẩm và phế phẩm của thị trường đông dược nước ngoài.

Hơn 700 phòng khám y học cổ truyền bị xử phạt trong 1 năm:
Những ngày cuối năm 2009, dư luận hết sức bất bình trước nhiều vi phạm liên tục xảy ra tại các phòng khám đông y Trung Quốc trên cả nước. Vụ Y dược cổ truyền (Bộ Y tế) cho biết, chỉ riêng trong năm 2009, có hơn 700 phòng khám y học cổ truyền bị xử phạt, trong đó các lỗi vi phạm của yếu của những phòng khám này là không có giấy phép hành nghề, bán thuốc chưa đăng ký lưu hành, thuốc hết hạn sử dụng….

Kết quả kiểm tra trên của cơ quan chức năng một lần nữa "báo động" về thực trạng phức tạp của các phòng khám đông y và thị trường đông dược trên cả nước. Riêng hai thành phố lớn Hà Nội, THCM đã xuất hiện rất nhiều các vụ việc "nổi cộm", rung lên hồi chuông báo động về tình hình khám chữa bệnh bằng đông y Trung Quốc và thị trường thuốc đông dược.

Tại Hà Nội, số vụ việc vi phạm và mức độ nghiêm trọng không hề nhỏ. Kết quả kiểm tra các phòng khám Đông y Trung Quốc trên địa bàn Hà Nội thì có đến 7 trong số 9 cơ sở bị kiểm tra phát hiện nhiều vi phạm. Ông Lê Anh Tuấn, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội ch biết, vấn đề bức xúc mà cộng đồng phản ánh về các phòng khám Đông y Trung Quốc trong thời gian qua chủ yếu là phòng khám quảng cáo không đúng sự thật hoặc quá nội dung cho phép.

Đáng lo ngại hơn, dù đã bị xử phạt nhưng tình trạng vi phạm của các phòng khám đông y cứ tiếp tục tái diễn. Theo ông Nguyễn Việt Cường, Chánh thanh tra Sở Y tế Hà Nội cho biết: "Năm nay phòng khám này vi phạm lỗi này thì sang năm phòng khám khác lại vi phạm lỗi đó. Hoặc năm nay phòng khám bị phạt vì bán thuốc chưa được cấp phép thì lần sau sẽ phạm lỗi khác".

Cần "siết chặt" hoạt động kinh doanh thuốc, khám – chữa bệnh đông y

Đối với hoạt động khám chữa bệnh đông y đã vậy, thị trường kinh doanh buôn bán đông dược cũng có những vi phạm không thua kém. Theo báo cáo của Vụ Y dược cổ truyền (Bộ Y tế), mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 50.000 tấn dược liệu để điều chế thuốc và các chế phẩm khác. Trong đó, nguồn dược liệu của ta chủ yếu lại nhập khẩu từ Trung Quốc qua con đường phi mậu dịch, không rõ nguồn gốc, không rõ tiêu chuẩn, không có giấy kiểm nghiệm.

Đặc biệt đã phát hiện khá nhiều dược liệu bị giả mạo như giả mạo Thỏ ty tử bằng hạt chế từ xi măng, giả mạo Ô dược bằng rễ Sim, giả Ý dĩ bằng hạt Cao lương. Việc trồng trọt dược liệu trong nước phát triển tự phát, chưa có quy hoạch, nhiều cơ sở trồng trọt còn sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy định. Không ít dược liệu còn được nhuộm bằng thuốc nhuộm (Đan sâm, Câu kỷ tử), sử dụng hóa chất độc hại hoặc dùng dược liệu có chứa hoạt chất độc hại (Bằng sa, cây Vòi voi).

Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, các cơ quan chức năng liên tục phát hiện nhiều cơ sở kinh doanh đông dược và thuốc y học cổ truyền vi phạm Tiêu chuẩn Dược Việt Nam tại địa bàn các quận 10, quận 5, quận 11, Tân Bình, Gò Vấp. Các vi phạm như: kho chứa dược liệu không đạt điều kiện vệ sinh, độ ẩm nên dễ mốc, biến chất; cơ sở không xuất trình được hoá đơn, chứng từ và nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá, không có số đăng ký lưu hành; không thực hiện niêm yết giá thuốc theo qui định….

Rõ ràng, thời gian qua các ngành chức năng trên cả nước liên tục phát hiện và xử lý đối với các cơ sở kinh doanh thuốc, khám – chữa bệnh, bán thuốc đông y, nhưng đến nay thuốc đông y không đảm bảo chất lượng vẫn tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người bệnh. Điều này cho thấy, phải chăng công tác quản lý cơ sở kinh doanh thuốc, khám – chữa bệnh, bán thuốc đông y còn bị buông lỏng?

Đã đến lúc cần "siết chặt" hoạt động quản lý với các cơ sở kinh doanh thuốc, khám – chữa bệnh, bán thuốc đông y hơn nữa, nếu không thị trường dược liệu của Việt Nam sẽ trở thành nơi tiêu thụ thứ phẩm và phế phẩm của thị trường đông dược nước ngoài. Đây cũng là điều cần thiết nhằm bảo vệ sức khoẻ và quyền lợi cho người bệnh.
Theo vnmedia

“Rác” dược liệu tràn vào Việt Nam

Mỗi năm nước ta tiêu thụ hơn 50.000 tấn dược liệu, trong đó dược liệu trong nước (thuốc nam) chiếm tỷ lệ khoảng 20%, số còn lại thường được nhập từ nước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc) qua con đường tiểu ngạch chiếm tới 80%.


Do được nhập về theo đường tiểu ngạch nên lâu nay chất lượng thuốc đông dược vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan quản lý.

Tình trạng đã trở nên đáng báo động khi Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương công bố thông tin phát hiện một số dược liệu nhập khẩu như hoàng kỳ, nhân sâm... bị tách chiết hết hoạt chất trước khi bán sang Việt Nam. Những dược liệu này thực chất không còn tác dụng dược lý và đơn thuần chỉ là... rác!

Phổ biến dược liệu không rõ nguồn gốc

Theo thống kê của Vụ Y học cổ truyền (Bộ Y tế), trên thị trường đông dược hiện có khoảng 80% dược liệu có nguồn gốc từ nước ngoài. Trong đó có đến gần 70% dược liệu không có số đăng ký được đưa vào Việt Nam từ nhiều nguồn và bằng nhiều cách thức khác nhau.

Cục trưởng Cục Quản lý dược Trương Quốc Cường cho biết, trong số hàng trăm loại dược liệu nhập vào Việt Nam thì cũng chỉ có 9 mặt hàng có số đăng ký, còn lại có tới 50-60% là hàng nhập lậu. Tuy nhiên, tình trạng này vẫn diễn ra nhiều năm nay mà không có sự kiểm soát hữu hiệu từ các cơ quan quản lý.

Phó Chánh thanh tra Bộ Y tế Trần Ngọc Nga nhận xét, lĩnh vực đông y và vấn đề quản lý nguồn dược liệu đang rất phức tạp. Vừa qua, chỉ qua kiểm tra 7 tỉnh trên toàn quốc đã có tới 1.996 cơ sở hành nghề đông y, hầu hết các cơ sở này không đủ điều kiện để cấp phép.


Còn các khảo sát của Sở Y tế Hà Nội tại hai điểm kinh doanh đông dược lớn nhất thành phố là phố Lãn Ông và làng thuốc Ninh Hiệp (Gia Lâm) cho thấy hầu hết các cơ sở kinh doanh, chế biến thuốc đông dược, 100% sản phẩm dược liệu không có nhãn mác, không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ nhưng vẫn được bày bán “thản nhiên” trên thị trường.

Tại phố Lãn Ông, các cơ sở buôn bán thuốc đông dược đều chế biến các dược liệu ngay trên nền đất. Thậm chí với những gói dược liệu đã ngả màu nấm mốc vẫn được những chủ kinh doanh phơi ra ánh nắng để “tái chế”. Ngay cả giá các loại dược liệu, thuốc đông dược ở đây cũng... “tù mù”.

Chẳng hạn như nhân sâm rẻ nhất chỉ có 35.000 đồng/lạng. Nhưng cùng loại nhân sâm trên ở cửa hàng gần đó lại có giá tới 85.000-100.000 đồng/lạng. Trên bao bì mỗi loại nhân sâm không có dòng chữ nào chứng minh nguồn gốc sản phẩm hay đã được chứng nhận đăng ký chất lượng tại đâu. Người tiêu dùng khi chọn mua cũng chỉ biết tin vào lời quảng cáo của những nhà kinh doanh.

Phó giám đốc Sở Y tế Hà Nội Nguyễn Văn Yên cho biết, nhiều lần khi đoàn kiểm tra xuất hiện ở phố Lãn Ông, nhiều cơ sở kinh doanh đã ôm hàng bỏ chạy. Vừa qua, sau khi tiến hành kiểm nghiệm hoạt chất của thuốc đông dược tại 2 cơ sở trên địa bàn, thanh tra Sở Y tế Hà Nội đã phát hiện hoạt chất không đạt tiêu chuẩn đã tiến hành tiêu huỷ toàn bộ số dược liệu trên.

Tại làng thuốc Ninh Hiệp hiện có hơn 300 hộ kinh doanh dược liệu, trong đó có khoảng 80 cơ sở làm nghề bốc thuốc nhưng chỉ có 7 cơ sở được cấp phép đăng ký kinh doanh. Tại đây, những bao tải dược liệu được nhập và hầu như không chứng minh được nguồn gốc và được bảo quản bằng các loại hoá chất độc hại như lưu huỳnh...

Ngay cả ngành chức năng cũng thừa biết những bất cập đang diễn ra ra tại đây nhưng họ cũng chỉ biết đứng nhìn. Theo ông Yên, không chỉ có việc kiểm soát khó vì thiếu lực lượng thanh tra, ngay cả việc kiểm nghiệm chất lượng các dược liệu tại đây cũng là bài toán nan giải.

Sẽ siết chặt các cơ sở kinh doanh đông dược

Đó là khẳng định của Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang tại buổi làm việc với Sở Y tế Hà Nội, ngày 14/9. Bản thân ông Quang cũng đã nhận được 4-5 văn bản báo cáo từ các địa phương về thực trạng nhập lậu, buôn bán “rác” dược liệu đang ở mức báo động. Trong đó có nhiều loại dược liệu cấm lưu hành ở Trung Quốc lại “tuồn” sang Việt Nam, đặc biệt tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Tp.HCM.

Trước mắt, ngành y tế sẽ tăng cường các cuộc kiểm tra trên diện rộng và đột xuất đối với các cửa hàng buôn bán đông dược, dược liệu nhằm ngăn chặn kịp thời tình trạng này. Các doanh nghiệp sử dụng dược liệu đông dược cũng sẽ phải chứng minh nguồn gốc, chất lượng dược liệu đủ tiêu chuẩn mới được phép sản xuất.

Trong trường hợp phát hiện ra “rác” dược liệu, lực lượng chức năng cần phải tiến hành tịch thu, tiêu hủy ngay lập tức bởi đây hoàn toàn có thể coi là hàng lậu, hàng cấm. Đồng thời, xử lý các doanh nghiệp đó theo chế tài từ xử phạt hành chính đến tạm đình chỉ hoạt động, rút giấy phép kinh doanh...

Đối với những cửa hàng kinh doanh nhỏ, lẻ, ngay khi phát hiện những lô hàng dược liệu “rác”, dược liệu không chứng minh được nguồn gốc thì cũng có thể coi là hàng lậu. Lực lượng thanh tra chuyên ngành cùng quản lý thị trường hoàn toàn có thể xử lý theo quy định pháp luật.

Ông Quang nhấn mạnh đến việc cần phải tăng cường công tác kiểm tra “phần ngọn” là các cửa hàng, cơ sở kinh doanh đông dược hiện nay để ngăn chặn lập tức và có hiệu quả việc buôn bán dược liệu “rác” ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Chánh thanh tra Bộ Y tế Trần Ngọc Nga cho biết, tới đây, thanh tra Bộ Y tế sẽ phối hợp với thanh tra y tế của các địa phương tăng cường hơn nữa việc kiểm tra.
Theo: vneconomy.vn

Trở thành "vườn dược liệu của thế giới" - Bao giờ?

Ngành công nghiệp dược liệu Việt Nam phát triển khi chúng ta thực hiện “xã hội hóa” quy hoạch nuôi trồng, chế biến ở các vùng dược liệu theo tiêu chuẩn thực hành nuôi trồng, thu hái và sản xuất tốt (WHO – GACP) đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Bảo tồn phải đi đôi với khai thác hợp lý và phát triển cây thuốc, hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa thuốc sản xuất từ dược liệu. Và Việt Nam trở thành “vườn dược liệu” như thế nào?
Tiềm năng miền nhiệt đới:

Theo điều tra của Viện Dược liệu, nước ta có 3.948 loài cây thuốc, 52 loài tảo biển, 75 loại khoáng vật, 408 loài động vật làm thuốc. Việt Nam có điều kiện khí hậu nhiệt đới nên cây thuốc mọc quanh năm. Hơn nữa, nhân dân ta có nhiều kinh nghiệm trồng và sử dụng cây thuốc, chúng ta có khả năng chiết tách và nghiên cứu nhiều dạng thuốc mới từ dược liệu từ nguồn tài nguyên hoang dại rất phong phú, đa dạng này. Theo PGS.TS. Nguyễn Thượng Dong – Viện trưởng Viện Dược liệu: “Để bổ sung cho kho tàng tài nguyên cây thuốc nước nhà, gần 50 năm qua chúng ta nhập nội hơn 300 loài cây thuốc, trong đó có 60 loài đã trở thành hàng hóa rất phổ biến như đương quy, ngưu tất, bạch truật...”. Nhờ khí hậu nhiệt đới mà nước ta có ưu thế về cây thuốc hơn các nước khác. Điển hình là vùng núi Ngọc Linh, Tây Nguyên có một số loài thực vật chưa từng được mô tả hay mới “xum tụ” về đây nhưng lại có “tổ tiên” tận các vùng ôn đới, Himalaya, Nam Trung Quốc, Indo – Malaya. Đây cũng là vùng mà họ Nhân sâm phát triển mạnh với số loài và cá thể phong phú. Hiện nay, vùng sâm Việt Nam được xem là vùng sâm thuộc khu vực nhiệt đới độc nhất còn lại trên thế giới.

Cả nước hiện có 136 loài cây thuốc đang được trồng và mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 15.600 tấn (tính cả cây thuốc hoang dại là 27.700 tấn – PV). Trong khi nhu cầu dược liệu trong nước là 59.548 tấn/năm gồm: phục vụ công nghiệp dược 20.110 tấn, hệ thống chữa bệnh bằng y học cổ truyền (YHCT) 18.452 tấn và xuất khẩu 20.986 tấn (đã bao gồm cả số lượng dược liệu phục vụ chưng cất tinh dầu và chiết xuất một số hợp chất tinh khiết). Nhu cầu về dược liệu ngày càng gia tăng do hệ thống điều trị  bằng phương pháp YHCT đã được WHO công nhận, số người có nhu cầu sử dụng dược liệu để chữa trị bệnh ngày càng gia tăng. Nhiều nhà khoa học cho rằng, các hợp chất thiên nhiên do đã tồn tại trong tế bào sống của cây thuốc... nếu được phân lập thành nguyên liệu làm thuốc, chúng rất nhanh thích nghi với tế bào sống của người, có tác dụng chống lão hóa.... Do đó khả năng hấp thu sẽ tốt và ít độc hơn so với các các chất tổng hợp hóa học chưa bao giờ tồn tại trong tế bào sống. Mặt khác, công nghiệp hóa dược, hóa dầu ở nước ta chưa phát triển nên dược liệu vẫn là nền tảng trong nền công nghiệp nguyên liệu.

Tầm nhìn thương hiệu Việt:

TS. Cao Minh Quang – Thứ trưởng Bộ Y tế khuyến cáo: “Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lưu thông phân phối dược liệu, thuốc từ dược liệu chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Thực tế còn rất nhiều tồn tại, bất cập như: việc triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật còn rất hạn chế, thiếu quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Dược Việt Nam, quy hoạch các vùng dược liệu trọng điểm, chưa ban hành chính thức tiêu chuẩn GAP/GACP, chưa phân rõ đầu mối việc quản lý dược liệu, thuốc từ dược liệu, thuốc – thực phẩm giữa các vụ/cục thuộc Bộ Y tế, hoặc chưa hình thành hệ thống quản lý chuyên ngành tại địa phương. Thiếu chuyên luận về dược liệu, thuốc từ dược liệu, chưa có bộ dược liệu chuẩn, thiếu quy định về điều kiện đối với sơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu theo nguyên tắc GMP. Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa nông – lâm nghiệp và y tế, thiếu phối hợp đồng bộ giữa các ngành trong việc phát triển các vùng dược liệu, giữa bộ phận canh tác với doanh nghiệp, chưa có đơn vị làm đầu mối hướng dẫn về kỹ thuật chọn nguồn gen, nuôi trồng và chế biến dược liệu... Vấn đề đầu tư xây dựng, hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa theo yêu cầu của Tổ chức Y tế Thế giới vì năm 2010 là hạn cuối để tất cả các doanh nghiệp phải đạt tiêu chuẩn thực hành nuôi trồng, thu hái và sản xuất tốt.

PGS.TS. Nguyễn Thượng Dong - Viện trưởng Viện Dược liệu, cho biết: Tài nguyên dược liệu hoang dại là vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia. Để tránh khai thác kiệt quệ dẫn đến tuyệt chủng, chỉ nên khai thác 10% trữ lượng của mỗi loài. Ví dụ, năm 1984 Nhà nước quy hoạch vùng sâm thành vùng cấm quốc gia nhưng trong hai thập kỷ qua, do khai thác quá mức nên sâm Việt Nam có nguy cơ bị tuyệt chủng. Hiện nay, chỉ có thể tìm thấy sâm Việt Nam còn sót ở độ cao 1.900 – 2.200m, song cũng rất hiếm. Ngoài ra, chúng ta quan tâm nhập nội một số loài cây thuốc có giá trị sử dụng lớn trên thế giới mà Việt Nam chưa có. Hiện nay, sản xuất trong nước mới đáp ứng được 46% nhu cầu của thị trường. Phần thiếu hụt cần được bổ sung bằng cách mở rộng quy mô các vùng trồng cây thuốc truyền thống theo mô hình vườn trang trại nhưng phải được công nghiệp hóa.

Định hướng công tác phát triển dược liệu Việt Nam từ nay đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 nêu rõ tập trung nghiên cứu và hiện đại hóa công nghệ chế biến, sản xuất thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, quy hoạch, xây dựng các vùng nuôi trồng và chế biến dược liệu theo tiêu chuẩn GACP. Bên cạnh đó, vẫn tăng cường công tác kiểm nghiệm, thanh kiểm tra bảo đảm chất lượng dược liệu, bán thành phẩm và thuốc từ dược liệu, phân rõ trách nhiệm cho các ban, ngành, chú trọng đào tạo cán bộ chuyên sâu. Phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống thuốc nhập lâu, thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc không được phép lưu hành, để chống tình trạng nhập lậu thuốc nhằm hạn chế việc nhập khẩu dược liệu, thuốc Đông dược, thuốc từ dược liệu theo con đường tiểu ngạch.
Theo duoclieuvietnam