Bào chế HỒ TIÊU (hạt tiêu)-Piper nigrum L.

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

HỒ TIÊU (hạt tiêu)


Tên khoa học: Piper nigrum L.; Họ hồ tiêu (Piperaceae)
Bộ phận dùng: Quả. Quả có hai thứ khác nhau, tùy theo cách thu hái:
- Hạt tiêu đen (hắc hồ tiêu: quả chưa chín hẳn, phơi khô, vỏ dăn deo, màu đen, thơm, ít cay không nát vụn, mọt là tốt.
- Hạt tiêu sọ (hạt tiêu trắng, bạch hồ tiêu): quả đã chín hẳn đã loại vỏ đen bên ngoài, màu trắng ngà, xám, ít nhăn nheo, ít thơm, cay nhiều, không nát vụn, mọt là tốt.
Hạt tiêu sọ dùng tốt hơn hạt tiêu đen.
Thành phần hóa học: Tinh dầu 1,5 - 2,2% (tập trung ở vỏ quả giữa) và có 2 alcaloid là piperin và chavixin; có chất béo, tinh bột.
Tính vị - quy kinh: Vị cay, tính đại ôn. Vào hai kinh vị và đại trường.
Tác dụng: Ôn trung tiêu, hạ khí, tiêu đờm, kích thích tiêu hóa.
Công dụng: Bụng lạnh đau, thổ tả, ăn không tiêu, phát tán phong hàn.
Liều dùng: Ngày dùng 2 - 4g.
Kiêng kỵ: Âm hư hỏa vượng không nén dùng
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Dùng thuốc kiêng phạm vào lửa, cho vào thuốc thang thì tán dập, làm hoàn tán thì tán bột.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Sàng sây bỏ tạp chất (hạt tiêu sọ), giã nát nhỏ. Thường dùng dưới dạng bột làm thuốc hoàn.
Bảo quản: Để nơi khô ráo, kín, tránh nóng ẩm.

Bào chế HỔ PHÁCH-Succinum ex carbone

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

HỔ PHÁCH


Tên khoa học: Succinum ex carbone
Bộ phận dùng: Nhựa cây thông (Pinus sp.) lâu năm, kết tinh lại thành từng cục ở dưới đất. Hổ phách trong suốt, đỏ vàng là tốt, sẫm đen là xấu. Người ta làm giả hổ phách để làm tràng hạt, cúc áo.
Hổ phách cứng và giòn, nghiền ra bột ngay, rất nhẹ, đốt ra khói trắng thơm, nếu khói đen là nhựa thông.
Thành phần hóa học: Chất nhựa và tinh dầu.
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, tính bình. Vào bốn kinh tâm, can, phế và bàng quang.
Tác dụng: an thần, thông lâm lậu, hóa tan ứ đọng.
Công dụng: Trị kinh giản, mất ngủ, trị lâm lậu, đái ra huyết, đau bụng máu: nhì chẩm thống.
Liều dùng: Ngày dùng 1 - 3g.
Kiêng kỵ: âm hư, nhiệt trong nội tạng mà không có ứ thì kiêng dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Dùng hổ phách làm thuốc thì lấy nước hòa với bột nhân hột trắc bá, cho vào trong nồi đất, bỏ hổ phách vào mà nấu độ 2 giờ thì có ánh sáng lạ thường rồi nghiền thành bột dùng (Lôi Công). Nay chỉ chế với sữa người rồi tán bột dùng (Lý Thời Trân).
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Nghiền thanh bột mịn dùng.
Bảo quản: Dễ bảo quản, để nơi khô ráo, tránh làm nát vụn.

Bào chế HẬU PHÁC-Magnolia officinalis Rehd et Wils.

HẬU PHÁC


Tên khoa học: Magnolia officinalis Rehd et Wils.; Họ mộc lan (Magnoliaceae)
Bộ phận dùng: Vỏ cây (hậu phác)
- Thứ vỏ dày mềm, sắc nâu tía, thơm và có nhiều dầu là tốt, đặc biệt thứ có đốm sáng (kim tinh hậu phác) là tốt hơn cả.
- Trước kia chỉ dùng thứ vỏ dày sắc tím, thơm hắc (của Phú Quốc đưa ra).
- Nay ta chỉ có thứ vỏ dày, sắc nâu, không thơm, hắc gọi là "vỏ de" Cinnamonuu sp, họ long não (Lauraceae) hoặc thứ vỏ gọi là "vôi rừng” Eugenia jambolana Lamk, họ Myrtaceae đều chưa đúng phẩm chất.
Thành phần hóa học: có magnolola.
Tính vị - quy kinh: Vị cay, đắng, tính ôn. Vào ba kinh tỳ, vị và đại trường.
Tác dụng: Hạ khí, tiêu đờm, tiêu hóa, lợi thủy.
Công dụng: trị hoắc loạn, kiết lỵ, bụng đầy trướng, thổ tả, trị ngoại cảm, nóng sốt.
Liều dùng: Ngày dùng 4 - 20g.
Kiêng kỵ: Tỳ vị hư yếu, nguyên khí kém, đàn bà có thai không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Rửa sạch nhanh, cạo bỏ thô bì, thái lát mỏng 2 - 3 ly tẩm nước gừng, sao qua.
Bảo quản: Đậy kín, để nơi khô ráo vì dễ mốc, tránh nóng vì mất dầu thơm.

Bào chế HẠNH NHÂN MƠ-Prunus armeniaca L.

HẠNH NHÂN MƠ


Tên khoa học: Prunus armeniaca L.; Họ hoa hồng (Rosaceae)
Bộ phận dùng: Nhân của hạt quả hạnh.
Hạt cứng có nhân nguyên vẹn, chắc, nhiều dầu, màng nhân mỏng, nhân màu vàng đất, không mốc mọt là tốt.
Có hai thứ nhân: nhân đắng (khổ hạnh nhân Prunus armeniaca L. var ansu Maxim) Tây y hay dùng; nhân ngọt (điềm hạnh nhân) Đông y hay dùng.
Thành phần hóa học: Chất dầu 50 - 60%, amygdalin, albuminoid và các men (emunsin). Sau khi thủy giải thành một phân tử acid cyanhydric và hai phân tử glucose.
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, tính bình. Vào hai kinh phế và đại trường.
Tác dụng: Tả phế, giải biểu, hạ khí, nhuận táo, tiêu đờm.
Công dụng: Trị ho suyễn, ngoại cảm, chữa họng tê đau, đại tiện bế.
Liều dùng: Ngày dùng 4 - 12g.
Kiêng kỵ: Hư nhược không cảm tà khí mà ho thì không nên dùng
Cách bào chế:
Theo Trung y:
- Tẩm nước nóng, chà sạch vỏ, ngắt bỏ đầu nhọn, sao vàng hoặc trộn lẫn với cám sao qua (Đào Hoàng Cảnh)
- Có thể để nguyên vỏ và đầu nhọn là để phát tán (Lý Thời Trân)
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Dùng cả vỏ giã dập cho vào thuốc thang (để giải biểu)
- Ủ mềm, rót nước sôi vào để 5-10 phút, xát tróc vỏ, bỏ cây mầm. Khi bốc thuốc thang giã dập.
- Giã dập, bọc trong giấy bản ép bỏ dầu (trị hư lao, ho lâu năm).
Bảo quản: Dễ bị mốc mọt, cần để nơi khô ráo, kín, mát. Không nên sấy hơi than, lửa sẽ mất dầu và nhân sẽ biến thành màu vàng.
Mùa hạ có thể phơi nắng.

Bào chế HẢI TẢO (rong biển)-Sargassum sp

HẢI TẢO (rong biển)

Tên khoa học: Sargassum sp.; Họ rong mơ (Sargassaceae)
Bộ phận dùng: cả cây. Lá dày dài có hột (khí bào) tròn, to, mềm mại, màu nâu hồng có sợi dai, khô.
Thành phần hóa học: Iod, albumin, chất asen, chất béo, chất nhầy, đường
Tính vị - quy kinh: Vị đắng mặn, tính hàn. Vào ba kinh vị, can và thận.
Tác dụng: Tiêu đờm, làm mềm chất rắn, lợi thủy, hạ khí.
Công dụng: Trị bướu cổ, tràng nhạc, thủy thũng.
Liều dùng Ngày dùng 8 - 12g.
Kiêng kỵ: Tỳ vị hư hàn, có thấp trệ không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
- Trộn với đậu đen, đồ lên một lúc, phơi khô dùng (Lôi Công).
- Rửa cho hết vị mặn, sấy khô dùng (Lý Thời Trân).
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Rửa sạch, bỏ hết tạp chất, thái nhỏ phơi khô dùng.

Chiết xuất, phân lập và tinh chế Conessin từ Mức hoa trắng

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

1. Chiết xuất, phân lập và tinh chế Conessin từ Mức hoa trắng
Tên khoa học của cây mực hoa trắng: Holarrhena antidysenterica Wall., họ Trúc đào-Apocynaceae.
Tên khác: Mộc hoa trắng, thừng mực lá to, sừng trâu, míc lông, mộc vài (Tày), xi chào (K’ho), hồ liên.
Đặc điểm thực vật
Cây gỗ cao chừng 3 – 12 m. Cành non nhẵn hoặc mang lông màu nâu đỏ, trên mặt có nhiều khổng bì trắng, rõ. Lá mọc đối gần như không cuống, nguyên hình bầu dục đầu tù hoặc nhọn, gốc tròn hay nhọn, dài 12 – 15 cm, rộng 4 – 8 cm, mặt lá bóng, màu xanh lục nhạt. Hoa màu trắng, mọc thành ngù xim ở kẽ lá hoặc ở đầu cành. Quả đại, mọc từng đôi thành cung trông như sừng trâu. Mỗi đại màu nâu có vân dọc, dài 15 – 30cm, rộng 0,2 – 0,25cm, màu nâu nhạt, đáy tròn, đầu hơi hẹp, lõm một mặt, trên mặt có đường mặt có đường màu trắng nhạt, chùm lông của hạt màu hơi hung hung dài 2 – 4,5cm. Toàn cây có nhựa mủ.

1.1. Chiết xuất alcaloid toàn phần từ vỏ thân Mức hoa trắng

Qui trình chiết xuất alcaloid toàn phần từ vỏ thân cây Mức hoa trắng: Cân khoảng 400 g bột dược liệu, làm ẩm bằng 100 ml dung dịch HCl 10%, bổ sung 1600 ml dung dịch HCl 10% đến ngập hết dược liệu và ngâm trong 24 giờ. Rút dịch chiết và lọc. Tiếp tục chiết thêm bột dược liệu 2 lần nữa bằng cách bổ sung 600 ml dung dịch HCl 10% đến ngập dược liệu, mỗi lần ngâm lạnh trong 6 - 8 giờ. Gạn để thu dịch chiết và lọc. Gộp các dịch chiết acid thu được, kiềm hóa dịch chiết acid bằng amoniac đặc đến pH = 9-10. Để lắng và gạn bỏ phần dịch ở trên bằng cách lọc qua giấy lọc. Hút kiệt nước. Có thể tiến hành li tâm rồi gạn bỏ dịch nước ở trên, thu được cắn. Chiết alcaloid base trong cắn và giấy lọc nhiều lần bằng cloroform, mỗi lần 300 ml, cho đến khi thử bằng thuốc thử Dragendorff không cho tủa vàng. Gộp dịch chiết, cất thu hồi cloroform dưới áp suất giảm. Chuyển cắn thu được ra cốc có mỏ, cô cách thủy tới cạn, sấy ở 600C trong 3 giờ, thu được 12,0 g alcaloid toàn phần.

1.2. Phân lập Conessin từ alcaloid toàn phần của vỏ thân Mức hoa trắng

Qui trình phân lập Conessin từ alcoloid toàn phần của vỏ thân cây Mức hoa trắng: 12,0 g cắn alcaloid toàn phần được hòa tan trong 300 ml ether dầu hỏa, rửa giấy lọc và tủa bằng 50 ml ether dầu hỏa. Lắc 3 lần dịch chiết ether dầu hỏa với dung dịch HCl 10%, mỗi lần 150 ml. Gộp các dịch chiết nước acid và kiềm hóa dịch chiết nước acid bằng Na2CO3 đến pH = 9-10 bằng cách cho từ từ Na2CO3 vào dung dịch, đồng thời khuấy đều đến khi dung dịch trong và không có bọt. Chiết bằng ether dầu hỏa 3 lần, mỗi lần 300 ml. Gộp các dịch chiết ether dầu hỏa và làm khan dịch chiết bằng cách lọc dịch chiết ether dầu hỏa qua giấy lọc khô, cất thu hồi ether dầu hỏa, cắn thu được hòa tan trong 50 ml dung dịch acid oxalic 17,5% trong ethanol. Để yên ở nhiệt độ phòng để thu được tinh thể Conessin hydrooxalat, lọc lấy tinh thể. Hòa tan tinh thể thu được trong 300 ml nước. Kiềm hóa dung dịch đến pH = 9-10 bằng cách cho từ từ Na2CO3 đến khi hết bọt để tạo tủa Conessin base. Chiết Conessin base 4 lần bằng ether dầu hỏa, mỗi lần 50 ml. Gộp các dịch chiết ether dầu hỏa và làm khan dịch chiết bằng cách lọc dịch chiết ether dầu hỏa qua giấy lọc khô, cất thu hồi ether dầu hỏa, thu được sản phẩm PL1. Đem kết tinh sản phẩm PL1 trong aceton, để yên ở nhiệt độ phòng thu được Conessin tương đối tinh khiết. Lọc lấy tinh thể, sấy dưới áp suất giảm ở 600C trong 4 giờ, sử dụng chất hút ẩm là phosphor pentoxyd (P2O5) thu được 2,55 g sản phẩm PL2.
Xác định hàm lượng Conessin bằng sắc kí lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) cho thấy sản phẩm phân lập được đạt độ tinh khiết khoảng 82,50%.
3.1.1.3.  Tinh chế Conessin
* Bước 1: Tinh chế bằng sắc kí cột
+ Chuẩn bị cột sắc kí: Dùng cột thủy tinh trung tính có đường kính 3 cm, chiều dài 50 cm, được lắp thẳng đứng trên giá, phía dưới cột có van để điều chỉnh tốc độ dung môi. Khóa van, cho một ít dung môi rửa giải vào cột. Lót một lớp bông mỏng ở phía đáy cột, ngay trên van để chất nhồi sau khi được nhồi vào cột không gây tắc cột.
+ Nhồi cột: Cân 50 g chất nhồi cột silica gel 60 (0,04 – 0,063 mm), được hoạt hóa ở 1000C trong 3 giờ, sau đó ngâm trong toluen 1 giờ, khuấy đều rồi đổ từ từ lên cột. Mở khóa cột để dung môi chảy từ từ, để các hạt chất nhồi cột lắng xuống (có thể dùng đũa thủy tinh có bọc cao su gõ nhẹ vào cột, để tránh cột bị khô). Ổn định trong khoảng 3 giờ. Đến khi khoảng cách từ mặt trên lớp chất nhồi đến mặt trên dung môi rửa giải còn khoảng 1 cm thì đóng khóa cột.
+ Đưa mẫu lên cột: Hòa 2,55 g PL2 trong 5 ml benzen, đổ từ từ vào cột để tránh xáo động lớp chất nhồi trong cột, dùng pipet tráng vòng quanh bên trong cột trước khi thêm dung môi rửa giải.
+ Dùng lần lượt các hỗn hợp dung môi sau để rửa giải: 100 ml hỗn hợp toluen : ethyl acetat (98 : 2); 150 ml hỗn hợp toluen : ethyl acetat (95 : 5); 50 ml hỗn hợp toluen : ethyl acetat (93 : 7). Tốc độ rửa giải 2 ml/phút (khoảng 40 giọt/phút). Bỏ khoảng 100 ml dịch rửa giải đầu tiên, lấy 180 ml dịch rửa giải tiếp theo (xác định sự có mặt của hoạt chất bằng TLC trong các phân đoạn), cất thu hồi dung môi được sản phẩm TC1.
* Bước 2: Kết tinh lại trong dung môi
Kết tinh 3 lần sản phẩm TC1 trong aceton, lọc lấy tinh thể, sấy dưới áp suất giảm ở 600C trong 4 giờ, sử dụng chất hút ẩm là phosphor pentaoxyd (P2O5) thu được 2 g sản phẩm có hàm lượng Conessin khoảng 99%. 

Bào chế HẢI SÂM-Stichopus japonicus Selenka

HẢI SÂM

Tên khoa học: Stichopus japonicus Selenka; Họ Holothuridae
Bộ phận dùng: Nguyên cả con.
Dùng thứ to lớn, mình có gai gọi là hải sâm tử, sắc xanh đen, mềm là tốt.
Thành phần hóa học: Chất mỡ, chất đường, albumin.
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, mặn, tính ôn, Vào kinh thận.
Tác dụng: Bổ thận, thêm tinh tủy, tráng dương, sát trùng.
Chủ trị: Trừ mọi chứng hư lao, giáng hỏa, trị sưng lở, trị lỵ kinh niên.
Liều dùng: Ngày dùng 12 - 20g có thể đến 40g.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
- Bắt được hải sâm, rửa sạch phơi, sấy giòn.
- Khi dùng ngâm nước cho vừa mềm, thái lát, phơi giòn, tán bột.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Bắt về cạo rửa sạch bằng nước muối, lộn trong ra ngoài, lại rửa sạch, phơi khô sấy giòn. Khi dùng ngâm nước cho mềm thấu, thái lát mỏng 3 – 5mm, sao với gạo nếp cho phồng vàng đều. Tán bột phối hợp với thuốc khác làm hoàn hoặc nấu cháo ăn dần.
Bảo quản: Để nơi khô ráo, trong lọ hay hộp sắt kín có lót vôi sống, tránh ẩm mốc, sâu bọ, thỉnh thoảng phơi sấy nhẹ.