KỸ THUẬT BÀO CHẾ RƯỢU THUỐC

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2012

KỸ THUẬT BÀO CHẾ RƯỢU THUỐC


1. Định nghĩa:
Rượu thuốc là một chế phẩm lỏng được chiết xuất từ dược liệu có nguồn gốc động vật, thảo mộc (tươi hoặc khô) hoặc hoà tan các hoá chất vào rượu, cồn để dùng uống hoặc đôi khi dùng ngoài.
Cũng có khi thêm đường hoặc xirô đơn vào đó nhằm làm giảm tính kích ứng của cồn ( như các rượu bổ ).
2. Phân loại:       Có hai cách:
2.1.Cách thứ nhất:                Theo thành phần
Có hai loại rượu thuốc:
2.1.1.  Rượu thuốc đơn: Có một dược chất như : Rượu Phụ tử, Rượu rết...
2.1.2. Rượu thuốc kép:Có nhiều dược chất: Rượu bổ huyết trừ phong, rượu bổ Đitakina....
2.2.Cách thứ hai:                 Theo đường dùng
Có hai loại rượu thuốc:
2.2.1. Dùng trong: Rượu rắn, rượu  Tắc kè, rượu bổ Đitakina, rượu Lô hội.....
2.2.2. Dùng ngoài:Cồn xoa bóp, rượu Rết ....
3. Thành phần
3.1. Dược chất
- Thảo mộc: Thường là lá, vỏ rễ cây, củ... như Ba kích, Hà thủ ô, Sâm các loại, Quế, Đương qui, Dâm dương hoắc...
- Động vật: Tắc kè, Rắn, Rết, Hải mã, Hải long, Bào ngư, Bìm bìm...
Có thể là cao động vật như rượu Cao Hổ cốt,
- Hoá chất ( khoáng vật): Long não, Iôt, Tinh dầu Bạc hà...
3.2. Dung môi
Dung môi là rượu Ethylic, độ cồn dùng từ 30 - 90° tuỳ theo dược liệu
Cồn phải là cồn thực phẩm ( dược dụng ).
- Thực tế dùng rượu ngũ cốc (tốt nhất là rượu tăm -rượu Đế, rượu Quốc lủi ), độ rượu từ  40 - 50°.
- Cồn thường dùng độ cồn từ  50 - 60°, với nguyên liệu là động vật, thường dùng độ cao hơn.
3.3. Chất điều vị
 Dùng đường hoặc xirô để rượu có vị ngọt dễ uống, thêm bổ dưỡng, tăng độ nhớt, bảo quản tốt hơn, hạn chế tủa của tạp chất và giảm kích ứng của cồn.
3.4. Chất điều hương
Thường dùng tinh dầu: Quế, Cam... tuy nhiên, có thể cho thêm Trần bì để lấy hương thơm trong rượu. Có thể dùng hoá chất như Vanilin.
3.5. Chất màu: Dùng đường cháy (Caramen ) màu cánh gián là đẹp nhất.
4. Kỹ thuật điều chế
4.1. Xử lý nguyên liệu
 4.1.1. Dược liệu: Dược liệu đã được chế biến, sao tẩm đúng qui cách và đúng yêu cầu trong đơn thuốc. Phân chia dược liệu đến kích thước thích hợp.
Mức độ phân chia tuỳ theo phương pháp chiết xuất, khi ngâm lạnh hay ngâm kiệt thì cần chia dược liệu mịn hơn khi ngâm nóng.
     + Dược liệu là rễ, củ: Thái phiến hoặc tán bột thô.
     + Dược liệu là thân thảo: Cắt đoạn dài 1 - 2 cm.
Thường ngâm rượu thì cứ ngâm thẳng vào rượu dược liệu đã được bào, thái mỏng, và sao tẩm dùng để bốc thuốc thang.
4.1.2. Dung môi:
Đông y qui định dùng rượu uống có độ rượu từ  40 - 50°, tốt nhất là dùng rượu tăm.
4.1.3. Tỉ lệ giữa rượu và dược liệu:
 - Dược liệu không có độc: Một phần dược liệu /5 phần cồn.
 - Dược liệu có chứa hoặc là chất độc A, B:Một phần dược liệu /10 phần cồn.
4.2. Chiết xuất
 Có năm phương pháp điều chế.
4.2.1. Hoà tan thường: Áp dụng cho các hoá chất hoà tan hoàn toàn trong cồn: Tinh dầu Bạc hà, tinh dầu Long não, tinh dầu Khuynh diệp...
4.2.2. Phương pháp Ngâm thường:
Áp dụng cho các dược liệu đã chế biến, sao tẩm vào bình, rồi cho rượu hoặc cồn thực phẩm vào ngập dược liệu từ 3 - 5 cm. Thời gian ngâm tuỳ theo số lượng dược liệu và loại dược liệu (mức độ phân chia dược liệu chẳng hạn). Ngâm dược liệu trong thời gian từ 10 ngày - 100 ngày hoặc hơn. Sau đó gạn lấy dung dịch cồn trong còn bã đem ép. Để lắng lọc.
4.2.3.Phương pháp Ngâm nóng.
Áp dụng cho các dược liệu có cấu tạo rắn, chắc khó chiết xuất.
Phương pháp này đòi hỏi phải có trang thiết bị và dụng cụ đặc biệt. Dó đó, nó không được trình bày trong tài liệu này.
4.2.4. Phương pháp Hạ thổ
Cho dược liệu ( động vật là tốt nhất ) và dung môi vào bình kín, rồi đem bình chôn xuống đất trong một thời gian nhất định.
Rượu chế bằng phương pháp này có mùi vị thơm ngon hơn và tác dụng tốt hơn.
4.2.5. Phương pháp Ngâm kiệt:
Dùng phương pháp Ngâm kiệt cho phép chiết xuất được tối đa hoạt chất và rút ngắn thời gian điều chế.
5. Pha Rượu
5.1. Định nghĩa
      Pha Rượu là quá trình phối hợp các dịch chiết riêng với chất điều vị, chất điều hương và nước chín ( hiện ngay  dùng nước cất).
5.2. Mục đích
Điều chỉnh độ rượu (độ cồn), tạo hương vị thích hợp cho hàng hoá nhằm thoả mãn người tiêu dùng.
5.3. Độ rượu thuốc
Độ rượu chiết xuất thường dùng trong khoảng 50 - 60°, nhưng độ rượu thành phẩm chỉ từ 20 - 30°  trừ cá biệt có trường hợp tới 40°.
5.4. Các hiện tượng bất thường khi pha rượu và cách khắc phục.
Quá trình pha rượu thường xảy ra một số hiện tượng như: Tủa, đục, biến màu v.v..  do thay đổi dung môi; thay đổi nhiệt độ; thay đổi pH môi trường; do các phản ứng hoá học xảy ra giữa các thành phần trong các dịch chiết khác nhau... làm ảnh hưởng
tới chất lượng rượu thuốc.
* Cách khắc phục:
- Tránh giảm độ cồn đột ngột (nên phải từ từ cồn thuốc vào nước cất).
- Khi chiết xuất không nên dùng độ cồn quá cao.
- Điều chỉnh PH môi trường thích hợp.
- Thêm các chất làm tăng độ nhớt (đường...) nhằm giảm bay hơi cồn và giữ mùi hương liệu.
- Khi phối hợp cần tuân thủ nguyên tắc: các chất  hương liệu cho vào sau, các chất làm giảm độ nhớt cho sau cùng.
Phối hợp từ từ các dịch chiết có thành phần, nồng độ gần nhau trước; đồng thời phối hợp với chất ổn định tăng độ nhớt môi trường.....
6. Bảo quản
Rượu thuốc để lâu thường có cặn, phải đóng chai đầy (chai có màu thì tốt nhất )  nút kín, để nơi mát, tránh ánh sáng. đựng chai kín đã xử lý kiềm.
7. Giới thiệu một số công thức.
7.1. Rượu thuốc đơn.
                                       Bài 1.  Rượu vỏ Quýt 1/5
* Công thức:
            Vỏ quýt (sao thơm)                              200  g
            Cồn 80°                                               1.000  ml
* Cách làm:
Vỏ Quýt ngâm vào nước vo gạo sạch cùi bên trong, thái nhỏ đem sao thơm. Ngâm trong bình kín 10 ngày, thỉnh thoảng khuấy, gạn ra, ép bã, lọc đóng chai dán nhãn.
* Công dụng: Khai vị, tiêu thực.
* Cách dùng: Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 - 5 ml hoà vào nước đun sôi để nguội.
                             Bài 2. Rượu Long não 1/10
* Công thức:
             Long não                                                   100  g              
             Cồn 90°                                                  1.000  ml
* Cách làm:
     Hoà tan Long não vào cồn, lọc, đóng vào chai, dán nhãn dùng ngoài.
* Công dụng: Dùng để xoa bóp, tan các chỗ tụ máu.
* Chú ý: Cũng bằng phương pháp này ta điều chế các rượu Bạc hà, rượu Khuynh diệp.
7.2. Rượu thuốc kép
                                 Bài 1.  Cồn xoa bóp
*  Công thức:
      Huyết giác                                                       40  g
      Đại hồi                                                            12  g
      Quế chi                                                            12  g
      Địa liền                                                            20  g
      Thiên niên kiện                                                20  g
      Long não ( bột )                                               15  g
      Cồn 70°  vừa đủ                                          1.000  ml                          
* Cách làm: Tất cả các vị thuốc tán thành bột ngâm trong cồn 70° trong 7 ngày, mỗi ngày khuấy một lần, gạn lấy kiệt nước, thêm bột Long não vào khuấy cho tan hết bột. Đóng chai.
* Công dụng: Chữa sưng tấy, tụ máu, bầm tím, bong gân, nhức xương, đau khớp.
* Cách dùng: Tẩm rượu vào bông hay miếng gạc, xoa lên chỗ đau sưng rồi xoa bóp.
                                  Bài 2. Rượu Ngũ gia bì

* Công thức
      Vỏ ngũ gia bì ( sao vàng )                                    200  g
      Đường kính                                                           200 g
      Rượu 40°                                                            1.000 ml
* Cách làm: Cho vào bình ngâm 10 ngày, thỉnh thoảng ( khuấy) lắc đều. Gạn, ép lấy hết rượu, thêm đường kính hòa tan, lọc, đóng chai
* Công dụng: Bồi dưỡng cơ thể, kích thích tiêu hoá. Chữa đau lưng, chân tay nhức mỏi, phong thấp, tê, bại gân xương, co duỗi khó.
* Cách dùng: Ngày uống 2 lần, mỗi lần một cốc con ( 15 ml = 1 thìa cà phê ) vào trước bữa ăn hay trước khi đi ngủ.

KỸ THUẬT BÀO CHẾ THUỐC TỄ (HOÀN MỀM)

KỸ THUẬT BÀO CHẾ THUỐC TỄ (HOÀN MỀM)


1. Định nghĩa:
Thuốc tễ là dạng thuốc dẻo, hình cầu, đường kính từ 1 - 2 cm, gồm có Mật ong và thuốc. Tỷ lệ mật ong và thuốc là: 1 : 1 hoặc 1 : 1,2  - 1,5.
Thuốc tễ phần lớn là các thuốc bổ dưỡng cơ thể, hoặc các thuốc cần dùng liên tục lâu dài để chữa các bệnh mạn tính.
Ví dụ: Tễ bổ thận âm, tễ bổ thận dương, tễ bổ khí huyết, tễ bổ thận tráng dương, tễ bổ tâm, tễ thuỷ lục nhị tiên...
2- Thành phần.          
Thuốc tễ gồm hai thành phần.
2.1. Dược chất:
Gồm các dược liệu là thảo mộc hay động vật, rất ít dùng dược chất là khoáng vật.
Dược liệu dùng để chế thuốc tễ phải được chế biến sao tẩm theo đúng yêu cầu của từng vị thuốc và phải tán thành bột mịn.
2.2. Tá dược:     Chỉ độc dùng Mật ong cô đặc thành châu thay tá dược.
3. Cách điều chế.
3.1. Nguyên tắc.
     Dược chất đã tán mịn, trộn đều theo phương pháp bột kép, đổ vào cối. Rưới Mật ong đã cô thành châu còn nóng vào bột vừa đủ, giã luyện cho tới khi nhuyễn, dẻo, mịn, đem chia viên.
3.2. Kỹ thuật điều chế.
Điều chế Thuốc tễ theo thứ tự sau đây:
3.2.1. Cô luyện mật thành châu.
Cho vào Mật ong số lượng nước cất bằng 5% lượng Mật ong. Đun sôi, vớt bọt nổi ở trên cùng, tiếp tục đun nhỏ lửa cho tới khi mật nổi bọt phồng to, với bỏ bọt đi. Tiếp tục đun nhỏ lửa cho tới khi nhỏ một giọt vào bát nước lạnh thấy chìm xuống đáy bát mà không hoà tan vào nước ngay hoặc do tỷ trọng phải đạt tỷ trọng  d = 1,4 (Mật ong có d = 1,32).
- Mật luyện ở 114°C gọi là mật non.
- Mật luyện ở 117°C gọi là mật luyện (thành châu ).
- Mật luyện ở 120 - 122°C gọi là mật già.
3.2.2. Cách sử dụng từng loại mật.
 - Mật già dùng cho loại thuốc khô như: Khoáng vật, thực vật nhiều .
 - Mật luyện dùng cho loại thuốc thường không dính, không khô.
 - Mật non dùng cho loại có độ dính lớn.
 Tuy nhiên, mật luyện được sử dụng nhiều hơn cả, bởi vì thuốc không phải là một vị mà là nhiều vị kết hợp với nhau có cả loại khô, loại thuốc dính....
3.2.3. Luyện thuốc.
 Cho hỗn hợp bột kép dược chất vào cối, tưới mật đang nóng vào trộn đều        (không dùng mật quá nóng cho dược liệu chứa tinh dầu), nghiền kỹ cho nhuyễn.
 Khi trộn đủ mật, giã mạnh liên tục cho tới khi thành một khối thuốc dẻo quánh     (giã càng kỹ càng tốt), nhấc chày lên thuốc bám thành cả một tảng vào chày không còn thuốc dính cối là được.
3.2.4. Chia viên:
 Tuỳ theo cỡ viên mà làm đũa ( giun ) to hay nhỏ và dùng bàn chia viên để chia viên cho thích hợp.
3.2.5. Sấy viên:
Chia viên xong, dàn viên ra khay, mẹt, sàng..., đem phơi nắng nhẹ (phải che
đậy để tránh bụi, ruồi, nhặng...) hoặc đem sấy ở nhiệt độ 40 - 45°C cho đến khi phía bên ngoài viên khô, nhưng viên thuốc vẫn mềm dẻo.
3.2.6. Đóng gói bảo quản.
Viên tễ được đóng gói từng viên một trong giấy bóng kính, hoặc quả sáp ong hoặc quả nhựa hình cầu. Để thuốc nơi khô, mát, tránh ánh sáng.
4. Tiêu chuẩn kỹ thuật
Thuốc tễ phải đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật sau:
- Mùi vị: Thơm dược liệu
- Nhìn mặt viên tễ: Nhẵn bóng đồng đều.
- Độ cứng: Không được cứng, rắn, phải mềm dẻo.
- Sai số khối lượng: Không quá  +  10% so với khối lượng một viên trung bình.
5. Giới thiệu công thức viên.
5.1. Tễ bổ thận âm.
5.1.1. Công thức:
          Thục địa                                                            500  g
          Hoài sơn                                                            300  g
          Toan táo nhục hay Tang thầm                           200  g
          Khiếm thực                                                        400  g
          Tỳ giải                                                               200  g
          Thạch hộc                                                          300  g
Mật ong vừa đủ làm thành tễ.
5.1.2. Cách làm.
Thục địa thái mỏng, chưng cách thuỷ cho mềm nhuyễn. Các thứ khác sấy khô sao vàng tán thành bột mịn trộn chung với Thục địa. Cho vào cối, thêm mật ong đã bào chế thành châu, giã, luyện kỹ cho thành khối dẻo quánh không dính chày cối.
Làm mỗi viên nặng 12 gam bọc giấy bóng kính hoặc quả nhựa ở ngoài. Đóng hộp 6 hay 10 viên, dán nhãn.
5.1.3. Công dụng:Như Lục vị hoàn như Bổ thận, mát da thịt, bụng nóng ruột cồn cào, váng đầu, khát nước khô cổ, tiểu tiện vàng, đại tiên táo, tinh thần mỏi mệt. Dùng cho những người tạng nhiệt.
5.1.4. Cách dùng: Ngày uống 2 lần với nước sôi để nguội hay nước muối nhạt.
Người lớn mỗi lần 1 viên, trẻ em 3 - 6 tuổi mỗi lần 1/4 viên, trẻ em 6 - 10 tuổi mỗi lần 1/2 viên.
5.1.5. Kiêng kỵ:Người hư hoả, ăn ít, khó tiêu, ỉa lỏng không nên dùng.
5.1.6. Bảo quản. Để nơi khô kín mát.
5.2. Tễ thuỷ lục nhị tiên.
5.2.1. Công thức:
      Kim anh tử ( bỏ hột, lông)                                 500  g
      Khiếm thực                                                        500  g
      Mật ong vừa đủ làm thành tễ.
5.2.2. Cách làm:
Kim anh và Khiếm thực sấy khô ở nhiệt độ (40 - 50°C). Tán nhỏ. Cô Mật ong thành châu. Làm thành tễ như trên.
5.2.3. Công dụng: Chữa thần kinh suy nhược, lưng đau, gối mỏi, di tinh, mộng tinh, phụ nữ bạch đới.
5.2.4. Các dùng:Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 1 viên với nước đun sôi để nguội.
5.2.5. Kiêng kỵ: Không nên ăn các chất cay nóng.

KỸ THUẬT BÀO CHẾ THUỐC HOÀN (THUỐC VIÊN TRÒN)

KỸ THUẬT BÀO CHẾ THUỐC HOÀN
(THUỐC VIÊN TRÒN)

1. Định nghĩa
Viên hoàn là dạng thuổc rắn, hình cầu, có khối lượng thường nặng từ  0,05 g  -  0,5 g, có khi tới  2 g  hay hơn nữa.
Ví dụ: Tô mộc hoàn, Ích mẫu hoàn, Lục vị hoàn, Bổ tỳ ích khí hoàn, Bổ huyết điều kinh hoàn.......
2. Thành phần
2.1. Dược chất
Có thể là hoá chất, bột  dược liệu, cao thực vật, cao động vật.
2.2. Tá dược
Tá dược là những chất cần thiết để tạo thành viên thuốc. Tá dược thường là những chất trơ (vô hại) hoặc những chất góp phần làm tăng thêm hiệu lực của thuốc (tác dụng hiệp đồng hoặc phân rã thuốc hợp lý làm tăng khả năng hấp thu thuốc).
Tuỳ theo chất thuốc mà lựa chọn một hay nhiều tá dược cho thích hợp.
+ Nếu là dược chất khô rắn, tá dược dùng là chất lỏng như: Mật ong, xirô đơn, dung dịch hồ nếp 5% - 20%.
+ Nếu dược chất dạng mềm hay lỏng thì tá dược dùng phải khô như: Bột Cam thảo, bột Gôm, bột Gạo, bột Sắn...
Tá dược thích hợp sẽ làm cho viên mịn, không khô nứt, không chảy nước, dễ tan và dễ tiêu (thuốc được hấp thu cao) trong đường tiêu hoá.
Ngoài ra còn tá dược áo thuốc như: Bột tan, Bách thảo sương;  bột Chu sa, áo tá dược lỏng, giấy bạc, giấy thiếc... nhằm làm cho viên bảo quản tốt hơn, che dấu mùi vị, tăng cường tác dụng điều trị và làm cho viên đẹp, hấp dẫn...

3. Cách điều chế
3.1.Bước 1
Chuẩn bị nguyên liệu: Các dược liệu đã được chia nhỏ và chế biến sao tẩm đúng yêu cầu của từng vị, sấy khô, tán thành bột riêng (nếu là thuốc độc) hoặc tán chung thành bột để có độ mịn như nhau (tạo thành bột kép).
3.2. Bước 2:      
Làm thành viên.  (có hai cách)
Cách 1:   Làm viên bằng bàn cắt viên:
a/ Dụng cụ bao gồm:Cối chày sứ; bàn cắt viên, bàn xoa viên và khay men để sấy.
b/ Làm khối viên dẻo:
Cho dần tá dược lỏng vào khối bột kép nghiền kỹ trong cối, đánh thành một khối đều mịn, dẻo, sờ không dính tay và không dính chày, cối là được.
c / Chia viên:
Căn cứ vào số lượng viên phải làm, chia khối chất dẻo thành từng phần nhỏ, đem nắn thành đũa (giun) trên khay rồi dùng bàn cắt, cắt thành viên, vừa cắt vừa viên tròn. Chú ý, có thể cho một ít bột Hoạt thạch hoặc bột Cam thảo để khỏi dính khay.
 d/ Sửa viên: Dùng bàn xoa viên xoa cho thật tròn và đều.
E / Sấy viên
Cách 2:  Làm viên bằng máy bao viên ( chạy điện quay tay) hay thúng lắc.
a / Tiến hành làm viên.    
* Giai đoạn 1Gây con giống hay nhân viên.
Giai đoạn này chủ yếu tạo các hạt cốm nhỏ lặn tròn trong máy hoặc thúng lắc (tưới nước gây độ ẩm làm con giống phải thật vừa phải).
Chỉ chọn loại hạt Cải tròn đều đặn vừa cỡ để làm con giống (viên nhân) lắc thành viên tới cỡ vừa yêu cầu sử dụng.
Cũng có thể dùng hạt đường kính hay những hạt bột thuốc loại to để làm thay con giống.
* Giai đoạn 2: Làm viên to (bao viên ).
Tiếp tục lắc con giống, vừa lắc vừa cho thêm bột và nước. Phải lựa chọn và lấy cỡ viên cho đều. Nếu chưa đều thì loại vừa đạt yêu cầu ngừng lại  lựa chọn để riêng, loại nhỏ hơn nên phân loại to - nhỏ để lắc (bao) cho đến khi đạt yêu cần (tròn, đẹp, đồng đều ).
* Giai đoạn 3:       Sàng lựa
Lựa chọn những viên to đều để ra ngoài từ 1 - 2 giờ, sau cùng bao (lắc lại từ 10 - 15 phút) cho viên tròn và nhẵn hơn.
b / Sấy viên
Thuốc làm xong rải mỏng ra khay rồi cho vào tủ sấy. Lúc đầu sấy ở nhiệt độ 50 - 60°C từ 2 - 3 giờ, sau đó tăng dần tới nhiệt độ 70 - 80°C để tránh vỏ cứng nhanh mà trong ruột vẫn mềm dễ gây hỏng thuốc.
Khi sấy phải đảo luôn để thuốc khô đều và đồng màu.
c  / Bao áo viên.
* Mục đích: Mục đích của bao viên là làm cho viên thuốc không dính vào nhau, không bị hút ẩm, giữ được hương vị của thuốc, chống mốc hoặc che lấp mùi vị khó chịu của thuốc.
* Cách làm: Bao viên bằng cách quét một lớp xirô vào đáy thúng ( hoặc thùng bao) để lắc cho viên thuốc được ướt đều. Sau đó, cho bột cần bao vào và lắc. Làm nhiều lần cho đến khi bột cần bao tạo thành một lớp bám đều vào viên thuốc.
Bao xong, đem sấy ở nhiệt độ 40 - 50°C.
* Các chất thường dùng để bao viên là:
Bột Hoài sơn, bột Hoạt thạch, bột Cam thảo, bột đường, xirô, bột Chu sa, cao đặc Thục địa .
4.  Bảo quản
Thuốc viên hoàn đã sấy xong phải để thật nguội mới đóng vào chai lọ hoặc túi Polyetylen đã tiệt khuẩn và làm thật khô.
Thuốc phải để nơi khô ráo, mát, tránh ánh sáng và ánh nắng.
5.  Tiêu chuẩn kỹ thuật. 
- Mùi vị: Thơm mùi dược liệu.
- Mặt viên: Nhẵn bóng, đồng đều.
- Độ tan rã: Từ 10 - 20 phút phải tan rã hoàn toàn trong nước nóng ở 37°C.
- Sai số khối lượng:  không quá  +  10% so với khối lượng một viên trung bình.

KỸ THUẬT BÀO CHẾ THUỐC BỘT (THUỐC TÁN)

KỸ THUẬT BÀO CHẾ THUỐC BỘT(THUỐC TÁN)

1. Định nghĩa:
Thuốc bột là loại thuốc rắn, rời, khô dùng để uống hay dùng ngoài. Điều chế bằng cách tán mịn một hay nhiều dược liệu: động vật, thực vật hay khoáng chất đến độ nhỏ nhất định. Rây qua các cỡ rây thích hợp và trộn đều.
Thuốc bột có thể dùng trực tiếp để trị bệnh, hoặc làm chế phẩm trung gian để chế nhiều dạng thuốc khác như thuốc viên, thuốc đạn, thuốc cốm, rượu thuốc ... hoặc để chiết xuất.
2. Phân loại:   
2.1. Dựa vào thành phần:  Thuốc chỉ có một thành phần gọi là bột đơn, gồm nhiều thành phần gọi là là bột kép.
2.2. Dựa vào cách dùng:Dùng trong ( uống) hay dùng ngoài
2.3. Dựa vào độ phân chia:
Bột thô ( qua  rây 32 ); bột mịn vừa ( qua  rây 26 ), bột mịn ( qua  rây 24 ), bột rất mịn (qua rây 22 )
Bột dùng ngoài phải mịn hoặc rất mịn để tránh kích ứng bột dùng để uống phải mịn vừa để dễ hấp thu. Bột thô chỉ dùng để chiết xuất.
2.3. Dựa vào độ phân liều:
- Chia cho người bệnh dùng từng liều.
- Không chia
3. Ưu điểm và nhược điểm của thuốc bột.
3.1. Ưu điểm
- Bào chế đơn giản, kết hợp được nhiều loại dược liệu với nhau, dễ phân liều, dễ đóng gói và chuyên chở, dễ sử dụng, hấp thu nhanh, công hiệu lại chóng, tiết kiệm được dược liệu hơn thuốc thang.
- Có khả năng bảo vệ niêm mạc vết thương, có tác dụng hút dịch, thu liễm làm vết thương khô ráo, chóng khỏi. Dùng ngoài, để điều trị cục bộ chỗ đau.
3.2. Nhược điểm.
- Do diện tích tiếp xúc bề mặt lớn, cho nên dễ bị hút ẩm làm cho bột dễ mốc, mọt, mất mùichóng bị hỏng.
- Khó che dấu mùi vị khó chịu của một số vị thuốc.
- Tác dụng chậm hơn thuốc lỏng.
4. Kỹ thuật bào chế
Dụng cụ điều chế thuốc bột bao gồm: Thuyền tán, cối, chày, rây.
Nghiền tán trực tiếp
Nghiền tán gián tiếp qua chất trung gian
Áp dụng: Những dược liệu có thể chất mềm dẻo như mạch môn, thiên môn, thục địa, hoàng tinh; nhựa như nhũ hương, một dược; các loại cao mềm, dược liệu chưa nhiều dầu mỡ (Ba đậu, Hạnh nhân..); dược liệu độc cần thêm chất màu; dược liệu có màu để tránh gây bẩn; dược liệu quí như Xạ hương, Băng phiến; dược liệu
quí hiếm như Sừng tê giác, Hùng đởm (mật gấu)....
4.1. Điều chế bột đơn.
Những dược liệu là khoáng chất nếu đủ tiêu chuẩn, đúng quy cách thì đem tán ngay thành bột bằng phương pháp thích hợp, rồi rây qua rây.
Dược liệu là thảo mộc, động vật phải  bào chế trước khi tán như lựa chọn, bào, thái mỏng, sao tẩm, sây khô, tán nhỏ rồi rây lại.
4.2. Điều chế bột kép.
Nguyên tắc  
- Tán riêng rẽ từng dược liệu một.
- Rây qua rây cùng cỡ số cho có độ mịn như nhau.
- Trộn đếu các bột thuốc trong cối theo nguyên tắc, thuốc nào ít cho vào trước rồi cho từng ít một những thuốc có bột nhiều vào sau, mỗi lần cho bột vào phải trộn đều rồi mới cho thêm lượt khác (mỗi lần cho thêm bột vào bằng lượng bột đã có trong cối ).
- Trộn xong rây hỗn hợp lại một lần nữa.
Chú ý: Khi bào chế thuốc độc A, B thì cần có thêm bột màu (nếu dược liệu không có màu đặc trưng) để xem thuốc đã phân tán đều chưa. Lượng thuốc độc A, B quá ít thì phải cho thêm bột trơ để láng cối.
Bột kép để 2 - 3 tháng phải đảo lại cho đều.
5. Bảo quản và đóng gói 
- Để trong chai lọ hoặc kín, nơi thật khô ráo, mát.
- Cần đóng liều nhất định cho người bệnh dễ sử dụng.
6. Tiêu chuẩn kỹ thuật
- Màu sắc, mùi vị: Có màu săc, mùi vị của dược liệu bào chế thuốc ( màu có thể khác nếu dược liệu là thuốc độc A, B).
- Độ mịn: Bột mịn vừa, đồng nhất, khi nén xuống thành một mặt nhẵn bóng.
- Sai số khối lượng của liều dùng một lần:  không vượt quá   +  5%.
7. Giới thiệu một số thuốc bột đơn và thuốc bột kép
7.1. Thuốc bột đơn
Thuốc bột đơn: bột Cam thảo, bột Phèn phi (Minh phàn), bột Ô tặc cốt, bột Đinh lăng
Ví dụ: Bột Cam thảo
* Cách làm: Rễ Cam thảo cạo sạch vỏ, thái lát mỏng, sấy khô, tán thành bột mịn. Bột có màu vàng, vị ngọt, mùi đặc biệt.
* Công dụng: Để pha nước Cam thảo dùng trong các trường hợp ngộ độc (giải độc). Để chế thuốc viên.
* Bảo quản: Rất dễ bị mốc, phải để trong lọ kín nơi khô ráo.
7.2. Thuốc bột kép
Bài thuốc: Khô trĩ tán
* Công thức:        
          Bột phèn phi                        500   g
          Bột Ô mai                            200   g
          Bột Thần sa                         300   g  (Ba trăm gam )
          Bột Thạch tín                        40   g  (Bốn mươi gam)
Điều chế (cách làm) bột đơn
+ Chế Phèn phi:
Lấy 2 kg Phèn chua (Bạch phàn ) rửa sạch, cho vào chảo gang, đun nóng cho đến khi chảy và khô hoàn toàn, chỉ tắt lửa khi nào chắc chắn Phèn chua đã khô.
Để nguội, bỏ chỗ đen, cho vào cối tán nhỏ, rây. Bột màu trắng, vị chua.
+ Ô mai:   Cách chế biến:
Lấy 2 kg Ô mai cho vào chảo gang, vừa đun vừa đảo, cho tới khi khói đen nhiều thì đốt cháy, đảo đều. Khi thấy lửa lui xuống thì lấy vung đậy lại và bắc xuống để nguội, tán thành bột rất mịn.
+ Thần sa:     Cách chế biến:
Tán nhẹ với nước nguội trong cối sứ thành bột mịn, phơi râm cho khô.
+ Thạch tín.  Cách chế biến:
Lấy 100 gam (một trăm gam) Thạch tín cục cho vào nồi đất. Sau đó, đun bằng than củi trong 2 giờ, cứ 15 phút đảo một lần, để nguội, cạo bỏ chỗ bị cháy rồi tán thành bột thật mịn.
Điều chế thuốc bột kép: Khô trĩ tán
Cân đúng số lượng của từng vị thuốc trên theo công thức, trộn đều chúng với nhau. Chú ý bột Ô mai cho vào sau cùng ( màu đen của bột Ô mai đảm bảo độ đồng đều của thuốc). Sau khi trộn đều xong, rây bột thuốc kép nhiều lần  (  4  - 5 lần ) nhằm cho thuốc đồng đều hơn và mịn hơn.
* Đóng gói: Đóng trong lọ kín, dán nhãn cẩn thận.
Thuốc độc bảng A  - chỉ dùng ngoài, không được uống.
* Bảo quản: Nơi khô ráo và theo qui chế thuốc độc.
* Chỉ định:  Theo sự hướng dẫn của lương y và y sĩ, bác sĩ.