Bào chế MẠCH NHA-Hordeum vulgare

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

MẠCH NHA


Tên khoa học: Quả chín của cây Đại mạch (Hordeum vulgare L., Hordeum sativum Jess.), họ Lúa (Poaceae), làm mọc mầm, sấy ở nhiệt độ dưới 60°C.
Họ lúa (Poaceae)
Bộ phận dùng: hột lúa mạch mì đã có mầm, Hột khô chắc cứng, mọc mầm đều, còn đủ mầm, không ẩm mốc, không nát là tốt,
Xưa nay ta vẫn dùng hột đại mạch nghĩa là mạch nha không mầm, phơi khô, như thế là không đủ. Nên dùng cốc nha tức là hạt thóc tẻ (Oriza sativa L) thóc chiêm ngâm cho nẩy mầm rồi phơi khô.
Thành phần hóa học: Mạch nha và cốc nha có thành phần hóa học giống nhau, có tinh bột, chất béo, protid, men chuyển hóa đường (mantose, saccharose glucose), sinh tố B, lexitin; các men amylase, mantase.
Tính vị - quy kinh:
Vị mặn, tính ôn (mạch nha)
Vị ngọt, tính ôn (cốc nha)
Cả hai loại cùng vào hai kinh tỳ và vị.
Tác dụng: Tiêu hóa, hạ khí ức, tiêu tích.
Công dụng: Trị cam tích trẻ con, trị thực tích.
Liều dùng: Ngày dùng 12 - 16g.
Kiêng kỵ: người có thai hoặc đang cho con bú thì không nên dùng (mất sữa).
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Dùng thứ lúa mạch hột to, ngâm vào nước cho mềm thấu, vớt ra để ráo nước, ủ độ 5 - 6 ngày cho hấp hơi nóng, mọc mầm rồi phơi khô, khi dùng làm thuốc thì sao cho giòn, xát bỏ vỏ.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Ta không có và cũng không nhập mạch nha nên chỉ dùng đại mạch, sao qua cho vàng để dùng.
Bảo quản: Rất dễ mốc, mọt; để nơi khô, râm mát, đựng lọ kín.

Bào chế MỘT DƯỢCCommiphora myrrha Engler.; Họ trám (Burseraceae)

MỘT DƯỢC


Tên khoa học: Commiphora myrrha Engler.; Họ trám (Burseraceae)
Bộ phận dùng: Nhựa cây một dược.
Từng cục, từng khôi, ngoài vỏ đỏ nâu, trong sáng bóng có đốm trắng, khó tán bột, mài với nước trắng như sữa; phơi nắng thì hóa mềm dẻo và thơm, đốt vào lửa không chảy nhưng cháy có mùi thơm nồng.
Thành phần hóa học: Có nhựa cây 20 - 30%, trong nhựa này có a-b-7 acid commiphoric và acid commiphorinic; có tinh dầu 2,5 - 9% trong này có dầu đinh hương và dầu thông.
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, tính bình, vào kinh can.
Tác dụng: Thông 12 kinh; làm thuốc tán huyết, tiêu sưng, cắt cơn đau, lên da non.
Công dụng: Trị vết thương đâm chém, trị lở độc, bệnh trĩ, bệnh lậu.
Liều dùng: Ngày dùng 3 - 6g.
Kiêng kỵ: Không ứ trệ và mụn nhọt đã phá miệng không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Cho một ít rượu vào nghiền nát, phi qua nước, phơi khô, hoặc nghiền tán với bột nếp
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Nhặt bỏ tạp chất, sao qua với đăng tâm rồi đem tán bột.
Bảo quản: Đậy kín, tránh ẩm, để nơi khô ráo.

Bào chế MỘC THÔNG-Aristolochia manshuriensis

MỘC THÔNG


Tên khoa học: Aristolochia manshuriensis Kom.; Họ mộc hương (Aristolochiaceae)
Bộ phận dùng: Thân leo. Thân vàng nhạt, trong vàng nhiều, xốp có tia.
Thân xấu thì đen, mọt. Ta có dùng dây cây mộc thông nam còn gọi là tiểu mộc thông (Clematis’sp), họ mao lương để thông lợi tiểu.
Thành phần hóa học: Tinh dầu, chất akebin v.v…
Tính vị - quy kinh: vị đắng, tính hơi hàn. Vào bốn kinh tâm, phế, tiểu trường và bàng quang.
Tác dụng: Hành thủy, tả hỏa, thông lợi huyết mạch.
Công dụng: Trừ thấp nhiệt trong tỳ vị, thòng khiếu và huyết mạch, xuống sữa, lợi tiểu, trị thủy thũng.
Liều dùng: Ngày dùng 3-6g.
Kiêng kỵ: hoạt tinh, tiểu tiện nhiều, đàn bà có mang không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Đem mộc thông ngâm nước cho nước thấm vào lỗ thông, mang thái lát, âm can không nên phơi nắng vì phơi nắng sẽ biến ra sắc trắng tro.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Mua về đã cạo vỏ, không phải rửa, thái lát mỏng phơi khô. Làm hoàn tán thì sấy khô tán bột.
Bảo quản: dễ bị mốc mọt nên phải để chỗ kín, khô ráo, nên dùng nhanh, không nên trữ lâu sợ biến ra sắc đen; thứ cũ, để lâu ngày không nên dùng.

Bào chế MỘC TẶC (cỏ tháp bút)-Equisetum arvense

MỘC TẶC (cỏ tháp bút)


Tên khoa học: Equisetum arvense L.; Họ mộc tặc (Equisetaceae)
Bộ phận dùng: Thân và cành. Thân và cành có đường dọc thẳng, rỗng, có mắt màu xanh nâu, to và giống hình đầu tháp bút, nhám.
Chọn loại khô, sắc xanh, dày, sạch gốc rễ, không vụn nát là tốt.
Thành phần hóa học: Chất chua, chất đường và nhựa; ngoài ra còn còn có acid silixic.
Tính vị - quy kinh: Vị ngọt, hơi đắng. Vào ba kinh can, đởm và phế.
Tác dụng: Lợi thấp, giải cơ, lợi tiểu.
Công dụng:
+ Dùng sống: trị đau mắt có màng mộng, tiêu tích báng, ích can đởm.
+ Tẩm sao: trị rong kinh, băng huyết.
Liều dùng: Ngày dùng 6 - 8g.
Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa thịnh không có phong hàn thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Tẩm đồng tiện 1 đêm sấy khô
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Rửa sạch (nêu bán), thái đoạn 2cm (làm kỹ hơn thì cắt bỏ mắt phơi khô), phơi râm cho khô (thường dùng), tẩm đồng tiện một đêm rồi sao cháy hoặc đốt tồn tính.
Bảo quản: Để nơi khô ráo.

Bào chế MỘC QUA-Chaenomeles lagenaria

MỘC QUA


Tên khoa học: Chaenomeles lagenaria (Lois.) Koidz (Cydonia lagenaria Lois); Họ hoa hồng (Rosaceae)
Bộ phận dùng: Quả. Quả khô cứng đã bổ đôi lấy hết hột, thịt dày, ruột nhỏ, chắc nặng là tốt. Quả xốp, vàng, ruột to là xấu.
Thành phần hóa học: Có một số acid hữu cơ và sinh tố C, saponin, tanin và flavonosid.
Tính vị - quy kinh: Vị chua, tính ôn. Vào bốn kinh tỳ, vị, can và phế.
Tác dụng: Điều hòa tỳ khí, thu liễm, trừ thấp nhiệt, bình can.
Công dụng: Trị hoắc loạn, gân co quắp, tê thấp.
Liều dùng: Ngày dùng 6 - 12g.
Kiêng kỵ: Bí đái, trường vị tích nhiệt thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Lấy mộc qua đã khô, tẩm nước ủ một ngày đồ mềm, vừa đồ vừa thái (để nguội thì cứng lại), phơi khô dùng sống hoặc tẩm rượu sao.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Mua về đã bổ đôi, rửa sạch ủ một đêm, thái mỏng phơi khô, khi dùng đập dập.
Bảo quản: Dễ mốc mọt nên phải để nơi khô ráo, thoáng gió. Có thể sấy hơi diêm sinh.

Bào chế MỘC HƯƠNG-Saussurea lappa Clarke.

MỘC HƯƠNG


Tên khoa học: Saussurea lappa Clarke.; Họ cúc (Asteraceae)
Bộ phận dùng: Rễ cây xuyên mộc hương. Mộc hương có nhiều dầu thơm là tốt nhất. Ở ta còn dùng vỏ cây bùi tía (còn được gọi là vỏ dụt) để thay mộc hương gọi là nam mộc hương.
Thành phần hóa học: Tinh dầu thơm, chất nhựa, inulin.
Tính vị - quy kinh: Vị đắng, the, tính ôn. Vào kinh tam tiêu.
Tác dụng: Hành khí, kiện tỳ hóa vị, khai uất, tiêu hóa, giải độc, lợi tiểu.
Công dụng: Trị mọi chứng đau, trúng khí độc bất tỉnh, đau bàng quang, tiểu tiện bế tắc, tiết tả đi lỵ.
Liều dùng: Ngày dùng 3 - 6g.
Kiêng kỵ: các chứng do khí yếu gây ra, huyết hư mà táo thì kiêng dùng, kỵ nóng, kỵ lửa.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Dùng vào thuốc điều khí thì dùng sống, nếu muốn cho chặt ruột thì bọc bột nướng chín dùng (Lý Thời Trân)
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Rửa sạch, phơi râm cho khô, thái mỏng rồi tán bột, khi dùng cho vào nước thuốc thang, quấy đều mà uống.
Khi dùng mài với ít nước thuốc thang đã sắc rồi uống (cách này thường dùng).
Bảo quản: Dễ mốc mọt nên cần để nơi khô ráo, mát kín, kỵ nóng, không nên phơi nhiều làm mất mùi thơm.
Có thể sấy hơi diêm sinh.

Bào chế MIẾT GIÁP (mai cua đinh)

MIẾT GIÁP (mai cua đinh)


Tên khoa học: Carapax Amydae
Bộ phận dùng: Mai (mu ở trên). Mai cua đinh núi (Trionyx steindachneri) có gai trên lưng tốt hơn mai cua đinh nước (Trionyx senensis), đều thuộc họ Trionycidae.
Mai sắc lục, giữa xương sống có 8 đôi sườn quanh rìa nhiều yếm, khô, sạch thịt, không hôi, không vụn nát, nặng được trên 250g là tốt.
Thành phần hóa học: Có chất keratin, iod, sinh tố D.
Tính vị - quy kinh: Vị mặn, tính bình, Vào ba kinh can, tỳ, phế.
Tác dụng: Bổ âm, trừ nhiệt, trừ nóng âm ỉ trong xương, trụy thai.
Công dụng: Tích huyết sinh băng, trị ư nhọt đau tức; trĩ sang, sỏi sạn, trị kinh giản.
Liều dùng: Ngày dùng 12 - 16g.
Kiêng kỵ: Âm hư, dạ dày yếu, hay ỉa chảy, đàn bà có thai mà hay nôn mửa thì không nên dùng.
Cách bào chế:
Theo Trung y:
Lấy một phần rượu bỏ vào hai phần tro bếp ngâm rồi gạn lấy nước trong, bỏ miết giáp vào ngâm một đêm rồi nấu cho nhừ (Lý Thời Trân).
Ngâm nước, rửa sạch thịt da, phôi khô, dùng cát nóng sao vàng, tẩm giấm (10kg dược liệu dùng 3kg giấm), rửa qua, phơi khô.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Trước hết cần làm sạch màng và thịt bằng các cách sau đây:
Luộc sôi 1 - 2 giờ (có người cho luộc làm mất chất).
Ngâm nước phèn một đêm (1kg dược liệu dùng 20g phèn, đổ ngập nước, quấy cho tan) (cách này thường dùng tại Viện Đông y).
Ngâm nước vôi loãng (1kg dược liệu 20g vôi sống) 3 ngày, mỗi ngày thay nước 1 - 2 lần.
Sau khi ngâm, dùng bàn chải tre đánh sạch thịt màng tự nó sẽ rời ra từng mảng; rửa sạch, để ráo, tẩm nước gừng, để khô. Dùng cát nóng sao vàng, lại tâm với giấm, để khô, rửa qua, sấy nhẹ hoặc phơi khô, giã dập dùng vào thuốc thang.
Không nên đế cả cái mai mà nướng trực tiếp lên than hồng (như nhiều nơi vẫn làm) rồi nhúng vào chậu giấm (3 lần) vì như vậy bị cháy và kém phẩm chất, hao nhiều.
Bảo quản: để nơi khô ráo thỉnh thoảng đem phơi vì dễ bị sâu bọ ăn.