CỎ GỪNG-cỏ ống-Panicum repens-Cây thuốc chữa phong thấp nhức mỏi

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

CỎ GỪNG


Tên khác: Cỏ ống, Cỏ cựa gà.
Tên khoa học:  Panicum repens L.; thuộc họ Lúa (Poaceae).
Tên đồng nghĩa: Ischaemum importunum Lour.
Mô tả: Cỏ sống lâu năm vì thân rễ ngầm trắng vàng, đường kính 1-3mm, có vảy, đầu nhọn (cựa gà) mang những bó rễ con. Thân cây mọc thẳng đứng, thường nhẵn. Lá xanh mốc ở trên, xanh đậm ở dưới, không lông, trừ rìa lông ở bẹ và gốc lá, mép có lông dày, chùy hoa ở ngọn, các bông nhỏ xanh rồi trắng, cao 3mm.
Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Panici Repentis).
Phân bố sinh thái: Loài cây liên nhiệt đới, mọc hoang rất phổ biến ở ven bờ ruộng và nơi khô ven đường.
Thu hái: Thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa xuân, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô trong râm.
Tính vị, tác dụng: Cỏ ống có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, không độc, có tác dụng hành huyết, lương huyết, lợi tiểu, tiêu thũng, giải độc, sát trùng đường tiết niệu.
Công dụng: Thường dùng trị: 1. Phong thấp nhức mỏi, bại sụi 2. Ðàn bà huyết nhiệt, kinh nguyệt không đều, bạch đới; 3. Viêm thận và bàng quang; 4. Trẻ em kinh phong, sốt cao, tiểu ít hoặc bí đái, ban sởi; 5 Giải độc ăn uống; 6. Phát ban da, đơn độc, rắn cắn.
Liều dùng: Ngày dùng 10-20g sắc uống, thường đun sôi 10 phút rồi hãm trong 1/2 giờ.
Bài thuốc: Chữa rắn cắn, chó cắn, dùng Củ cỏ ống, Củ sả, Củ bồ bồ, Vỏ gáo vàng, Phèn phi, trái Chanh giấy. Cân lượng đồng đều, bao nhiêu cũng được. Lúc gấp hiệp chung, quết nhừ, vắt lấy nước uống, xác đắp chỗ đau. Lúc hoãn, tán ra bột, vò viên bằng hạt tiêu, mỗi lần uống 5-10 viên (kinh nghiệm ở An Giang).

CỎ GẤU LÔNG-Cỏ gấu rỗng, Cỏ bát-Cyperus pilosus-Cây thức ăn gia súc

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

CỎ GẤU LÔNG


Tên khác: Cói lông, Lác lông, Cỏ gấu rỗng, Cỏ bát.
Tên khoa học: Cyperus pilosus Vahl; thuộc họ Cói (Cyperaceae).
Mô tả: Thân cao tới 80cm, có 3 cạnh, ngó mảnh, dài. Lá có phiến dài bằng 2/3 thân, rộng 5-7cm. Cụm hoa kép, có bao chung đài; tia đài 1-10cm, mang bông chét đo đỏ hay vàng nâu, vẩy không màu; nhị 3. Quả bế đen, có 3 cạnh.
Bộ phận dùng:Thân rễ (Rhizoma Cyperi Pilosi).
Phân bố sinh thái:Loài của Ấn Ðộ, Mianma, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ðài Loan, Thái Lan, Sri Lanca, Malaysia, Indonesia, Philippin, Asutralia. Cây mọc dựa rạch đến 700 khá phổ biến ở nước ta, từ Lào Cai qua Thừa Thiên-Huế, Gia Lai, Kontum, Ðắc Lắc, Lâm Ðồng đến thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phần hoá học:Củ (Thân rễ) có tinh dầu.
Công dụng: Cây thức ăn gia súc. Thân cây dùng để lấy sợi làm giấy. Củ làm thuốc cùng công dụng như Cỏ gấu.

CỎ GẤU DÀI-Cyperus longus-cây thuốc kích thích tiêu hoá và điều kinh

CỎ GẤU DÀI


Tên khác: Cỏ cú.
Tên khoa học: Cyperus longus L.; thuộc họ Cói (Cyperaceae).
Mô tả: Cây thảo có thân rễ khá dài, thân khá to, có 3 cạnh gần như nhọn ở đỉnh, dày nhiều ở gốc. Cụm hoa có 3-12 bông mọc đứng - trải ra, dài 5-15mm, với 3-5 lá bắc không bằng nhau, vượt quá cụm hoa. Quả bế nhỏ, có 3 góc với góc nhọn, khi chín màu đen đen, với vòi nhuỵ ngắn hơn quả bế và các đầu nhụy hình dải.
Bộ phận dùng:Thân rễ có những chỗ phình dài, màu nâu đen đen, đo đỏ ở trong (Rhizoma Cyperi Longi).
Phân bố sinh thái:Là cây nhập trồng ở miền Nam nước ta.
Tính vị, tác dụng:Thân rễ có vị chát, se và thơm, giống như mùi Hoa tím, được xem như là lợi tiểu, giúp tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng và điều kinh. Hạt gây say.
Công dụng: Ở Tây Ban Nha, người ta dùng làm thuốc kích thích, lợi tiêu hoá và điều kinh. Ở đảo Djerba rễ cây nghiền ra ăn ít một dùng trị các bệnh về tim.

CỎ GẤU BIỂN-Hương phụ biển, Hải dương phụ-Cyperus stoloniferus-cây thuốc chữa bệnh phụ nữ

CỎ GẤU BIỂN


Tên khác: Cỏ cú biển, Cú chồi, Cói củ, Hương phụ biển, Hải dương phụ.
Tên khoa học: Cyperus stoloniferus Retz.; thuộc họ Cói (Cyperaceae).
Tên đồng nghĩa: Cyperus litoralis R. Br.; Cyperus bulbosus sensu E. Camus p.p., non Vahl; Cyperus stoloniferus sensu Phamh. non Vahl
Mô tả: Cỏ lưu niên, có thân rễ mảnh, có vẩy và phình lên ở gốc thành củ đen đen, thân cao 15-30cm, có 3 cạnh lá rộng 2-3mm. Cụm hoa có 2-3 lá bắc dài; tia ngắn; bông chét nâu, dài 6-12mm, vẩy dài 2-2,6mm, không mũi. Quả bế đen, hình trái xoan.
Bộ phận dùng:Thân rễ (củ) to hơn củ gấu, ít nếp nhăn dọc, mặt cắt ngang màu nâu hồng (Rhizoma Cyperi Stoloniferi).
Phân bố sinh thái:Loài của các nước châu Á, Australia, Châu Phi. Cây thường mọc tập trung trên các vùng cát ven biển hoặc bãi cát cửa sông dọc theo bờ biển nước ta từ Móng Cái đến Hà Tiên; có nhiều ở Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Ðà Nẵng, Bình định, Phú Yên và Bình Thuận. Có nơi chúng mọc thành các quần thể lớn gần như thuần loại. Người ta thu hái củ vào mùa xuân hay thu, vun củ lại thành đống để đốt cho cháy lá và rễ con rồi lấy củ đem phơi hay sấy khô. Trước khi sử dụng cần phải chế biến. Thường dùng loại tứ chế (tẩm muối, đồng tiện, giấm, rượu) khi dùng để riêng từng phần hoặc trộn lẫn 4 phần với nhau tùy theo cách chữa bệnh.
Thành phần hoá học:Có 0,37% tinh dầu, mà thành phần gồm 32% cyperen, β-selinen, 49% cyperol, cyperon, cyperolon, patchoulenon, cyperotundon. Còn có alkaloid.
Tính vị, tác dụng:Cũng như Cỏ gấu, Cỏ gấu biển cũng có vị cay, hơi đắng, tính bình, có tác dụng điều kinh, lý khí, thư can, chỉ thống. Ở Ấn Ðộ, nó được xem như lợi tiểu, kích thích tim. Người ta đã nghiên cứu tác dụng ức chế trực tiếp co bóp của tử cung, đồng thời làm giảm trương lực của tử cung, tác dụng giảm đau (do hợp chất α-cyperen), tác dụng làm ra mồ hôi, lợi tiểu và làm se.

Công dụng: Việt Nam thường dùng phổ biến củ loài này để chữa các bệnh như vị Hương phụ, lại có tác dụng rõ rệt hơn.

CỎ GẤU ĂN-Cyperus esculentus-cây thuốc chữa bệnh viêm dạ dày, chữa chứng khó tiêu và ỉa chảy

CỎ GẤU ĂN


Tên khoa học: Cyperus esculentus L.; thuộc họ Cói (Cyperaceae).
Mô tả: Cỏ cao 10-50cm, có nhiều rễ dạng sợi, tận cùng là những củ hình trứng. Thân mọc thẳng, có ba cạnh nhẵn. Lá dài hơn hay gần bằng thân, phẳng, mép nhám, bẹ cao. Cụm hoa tán đơn hay tán kép có 7-10 tia không đều mà những cái dài phân nhánh ở ngọn, mang một bao chung có 4-6 lá dài hơn cụm hoa; trên mỗi tia có 11-14 bông chét hình ngọn giáo hay hình dải hẹp, có 10-18 hoa; vẩy bầu dục gần như thuôn, có lườn, với 7-9 gân, màu nâu vàng vàng, với gân giữa lục. Quả bế thuôn dài, màu đen, có 3 cạnh không đều, có vòi nhụy ngắn hơn quả bế, với 3 đầu nhụy rời.
Bộ phận dùng: Củ hình trứng, to bằng hạt dẻ, màu vàng, nâu nhạt, có những miền có vòng rõ. Người ta thường dùng củ làm bột (Semen Cyperi Esculenti).
Phân bố sinh thái:Cây mọc hoang, cũng được trồng ở tất cả các nước Nam châu Âu (Tây Ban Nha, Italia, Arập) ở phương Ðông và ở Bắc Phi châu. Ở Ấn Ðộ, cây mọc nhiều ở vùng đồng bằng sông Hằng. Ta nhập trồng ở miền trung du đến độ cao 1500m ở một số tỉnh miền Bắc để lấy củ ăn. Trồng dễ dàng bằng các túm cây mang củ cách nhau 25-30cm, về mọi phía, sau khi đã nhúng vào nước cho đủ ẩm.
Thành phần hoá học:Củ chứa 49,98% carbon hydrat, 21,84% chất béo và 6,5% chất có protid; còn có 20-28% dầu có mùi dễ chịu.
Tính vị, tác dụng:Củ dịu và ngọt giống hạt dẻ và dùng làm thức ăn ngon. Do có tỷ lệ dầu cao nên chất bột chế từ củ là một loại thức ăn cho nhiều năng lượng. Củ có tác dụng kích dục và kích thích.
Công dụng: Ở Ai Cập và Nam Italia, người ta đã chiết được một loại dầu ăn tốt để thay thế dầu ô liu. Nó có mùi dễ chịu, có vị của hồ đào, có màu vàng kim tới nâu. Ở Tây Ban Nha, người ta dùng củ làm sữa hạnh nhân, một thức uống rất ngon gọi là Orchata. Ở Angiêri, người ta dùng bột củ chế thuốc trị bệnh viêm dạ dày, chữa chứng khó tiêu và ỉa chảy.                           

CỎ GẤU-Hương phụ-Cyperus rotundus-cây thuốc chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh

CỎ GẤU


Tên khác: Cỏ cú, Củ gấu, Hương phụ.
Tên khoa học: Cyperus rotundus L.; thuộc họ Cói (Cyperaceae).
Tên đồng nghĩa: Cyperus bulbosus auct. Vahl
Mô tả: Cỏ sống dai, cao 20-30cm. Thân rễ phình lên thành củ, màu nâu thẫm hay nâu đen, có nhiều đốt và có lông; thịt màu nâu nhạt. Lá hẹp, dài, có bẹ. Hoa nhỏ mọc thành tán xoè tỏa ra hình đăng ten ở ngọn thân. Quả ba cạnh, màu xám. 
Bộ phận dùng: Thân rễ (RhizomaCyperi), thường gọi là Hương phụ.
Phân bố sinh thái:Loài liên nhiệt đới, mọc hoang quanh làng, đường đi khắp nơi. Có thể đào thân rễ quanh năm, bỏ rễ con, phơi khô. Ðể nguyên hoặc chế với giấm, nước tiểu trẻ em, muối, rượu thành Hương phụ tứ chế.
Thành phần hoá học:Trong tinh dầu củ gấu có 32% cyperen, β-selinen, 49% cyperol; còn có α-cyperol, cyperolen, patchoulenon, cyperotundon. Củ gấu còn chứa dầu béo chứa glycerol và các acid linoleic, linolenic, oleic, myristic, stearic, chất không xà phòng hóa 22,8%.
Tính vị, tác dụng:Hương phụ có vị cay, hơi đắng, ngọt, tính bình, có tác dụng hành khiếu, khai uất, thông kinh, tiêu sưng giảm đau. Vị hương phụ sao tẩm khác nhau có tác dụng khác nhau và cách chữa bệnh khác nhau.
Hương phụ dùng sống có tác dụng giải cảm. Ở Ấn Ðộ, người ta cho là nó có tác dụng lợi tiểu, điều kinh, trị giun, làm ra mồ hôi, làm se và kích thích.
Công dụng: Ðược dùng chữa kinh nguyệt không đều, khi thấy kinh đau bụng, viêm tử cung mạn tính, các bệnh phụ nữ mà trước và sau khi sinh đẻ, chữa đau dạ dày ợ hơi và nước chua, giúp ăn uống mau tiêu, chữa nôn mửa, đau bụng đi lỵ và ỉa chảy. Còn dùng trị đòn ngã tổn thương. Ở Ấn Ðộ người ta dùng hương phụ để chữa rối loạn của dạ dày và kích thích của ruột.
Cách dùng, liều dùng:Dùng dưới dạng thuốc sắc, bột, cao, hoặc rượu thuốc. Mỗi ngày 6-12g, dùng riêng hoặc phối hợp với Ích mẫu, Ngải cứu. Tùy theo thể trạng của bệnh mà dùng tươi, sao đen hay tứ chế.
- Dùng sống khi chữa bệnh ở hông ngực và giải cảm
- Sao đen thì cầm máu, dùng trong trường hợp rong kinh. Tẩm nước muối sao cho bớt ráo, dùng chữa bệnh về huyết - Tẩm nước tiểu trẻ em sao để giáng hỏa khí có chứng bốc nóng - Tẩm giấm sao để tiêu tích tụ, chữa huyết ứ, u báng.
- Tẩm rượu sao để tiêu đờm, chữa khí trệ, đờm nước ứ đọng. Hương phụ tứ chế dùng chữa chung các bệnh của phụ nữ, hàn hay nhiệt đều thích hợp cả.
Bài thuốc:
1. Ðau dạ dày: dùng Hương phụ 30g, Riềng 15g, tán thành bột mịn. Dùng 3g với nước ấm, hai lần trong ngày.
2. Bài thuốc điều kinh chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, khí huyết kém: Hương phụ 20g Ích mẫu 15g, Ngải diệp 10g, Nhân trần 15g, Ðỗ 500ml nước sắc còn 150ml nước, uống ngày một thang (ở An Giang).
3. Ðiều kinh(Thuốc Hương Ngải): Hương phụ 3g, Ích mẫu 3g, Ngải cứu 3g, Bạch đồng nữ 3g, sắc với nước; chia 3 lần uống trong ngày. Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10 ngày trước ngày dự đoán có kinh.

CỎ GẠO-Cỏ bình rượu, Cương mao đốm-Sclerachne punctata-Cây làm cỏ chăn nuôi gia suc

CỎ GẠO


Tên khác: Cỏ bình rượu, Cương mao đốm.
Tên khoa học: Sclerachne punctata R.Br.; thuộc họ Lúa (Poaceae).
Mô tả: Cỏ mảnh, nằm rồi đứng cao 70cm, mắt có lông. Lá hình dải - ngọn giáo, nhọn, dài 15-20cm, rộng 6-10mm, gần như không lông, mép nguyên. Bông 2-3, dài 1-1,5cm, đực ở trên, cái ở dưới, có cuống khá ngắn, phình ở đoạn trên. Các bông cái có một mày dưới phát triển, dài 8-9mm, hóa sụn ở gốc, thắt ở giữa, đầu hẹp, chẻ hai. Quả thóc bao bởi màng dày, nhẵn, kéo dài và trăng trắng. Ra hoa tháng 7-12.
Bộ phận dùng: Hạt (Semen Sclerachnis).
Phân bố sinh thái:Cây mọc rất phổ biến ở các bãi cỏ trống trên sườn núi đá và các tỉnh Tuyên Quang, Hà Tây, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình và vùng đồng bằng. Còn phân bố ở Trung Quốc, Indonesia, Ấn Ðộ.

Công dụng: Cây làm cỏ chăn nuôi hoặc thu hoạch hạt làm thức ăn khi đói kém. Người ta giã cho tróc vỏ và rang, dùng chế loại bỏng vừng với mật đường. Người ta gọi là vừng vì hạt của nó tương tự như vừng và cũng dùng chế cùng một loại bỏng như nhau.