Hiển thị các bài đăng có nhãn ALCALOID. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ALCALOID. Hiển thị tất cả bài đăng

CHÈ-Camellia sinensis-Thea chinensis

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2012

CHÈ

 

Tên khoa học của cây chè: Camellia sinensis(L.) D. Kuntze. (Thea chinensis Seem) họ Chè – Theaceae.

Đặc điểm thực vật

Chè là một cây gỗ, mọc hoang và không xén có thể cao tới 20m, cây có thân to tới một người ôm không xuể. Đôi khi mọc thành rừng trên núi đá cao. Nhưng trong khi trồng người ta thường cắt xén cho tiện hái nên cây chỉ cao 1,5 – 2m. Cây có nhiều cành ngay từ gốc. Lá mọc so le, không rụng. Hoa to và trắng, có mùi thơm, mọc ở kẽ lá, nhiều nhị. Quả là một nang, thường có 3 ngăn. Quả mở bằng lối cắt ngăn, hạt không có phôi nhũ, lá mầm lớn, có chứa dầu.

Cây chè
 Cây chè

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc đã biết dùng chè từ 2500 năm trước công nguyên, sau tới Ấn Độ và nhiều nước châu Á khác. Hiện nay cây chè được trồng ở nhiều nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Xrilanca…
Tại nước ta, chè được trồng ở nhiều tỉnh: Thái nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Hòa Bình, Quảng Nam, Lâm Đồng…
Chè dùng làm thuốc thường hái vào mùa xuân. Lấy búp lá non, vò rồi sao cho khô giống như cách chế chè hương pha nước uống của nhân dân, cho nên có thể dùng chè hương (hay chè xanh) làm thuốc.

Bộ phận dùng

Lá và nụ hoa

Vi phẫu lá

Biểu bì trên không mang lỗ khí và thường không có lông, tế bào nhỏ, nhiều cạnh không đều. Biểu bì dưới nang lông và lỗ khí. Lông đơn tế bào, dài, thành dày, đầu nhọn. Mô giậu có hai hàng tế bào. Tromg mô mềm có rất nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai, có thể cứng thành dầy. Gân giữa có những thể cứng, nhiều tình thể calci oxalat, bó libe gỗ có một vòng sợi trụ bì bao bọc.

Thành phần hóa học

Người ta thường dùng búp chè (tôm + 3 lá) để sản xuất chè xanh và chè đen. Thành phần hóa học của chè phụ thuộc vào giống, tuổi chè, điều kiện đất đai, địa hình, kỹ thuật canh tác và thu hoạch … Trong búp chè gồm:
- Nước: 75 – 82%
- Tanin: Là hỗn hợp catechin (30 – 35%). Theo kết quả nghiên cứu chè ở nước ta: Ở tôm có 36,75%, lá thứ nhất có 37,77%, lá thứ hai: 34,74%, lá thứ ba: 30,77%, cuộng: 25,56% tanin.
- Alcaloid: Cafein là alcaloid chính (2,5 – 4,5%. Trong lá thứ nhất: 3,39% lá thứ hai: 4,20%, lá thứ ba: 3,40% lá thứ tư: 2,10%, cuộng chè: 0,36%. Ngoài ra còn có lượng rất nhỏ theophyllin (0,02 – 0,04%), theobromin (0,05%) adenin và xanthin.
- Protenin và acid amin: Protein thường kết hợp với tanin. Trong chè người ta đã tìm thấy có 17 acid amin. Các acid amin này kết hợp với đường và tanin tạo ra aldehyd có mùi thơm của chè đen và làm cho chè xanh có dư vị tốt.
- Glucid và pectin.
- Flavonoid: Camferol, quexitrin, mirxetin…
- Dầu thơm: 0, 007% - 0,009% trong lá tươi.
- Vitamin A, B1, B2, PP và nhiều nhất là vitamin C.
- Ngoài ra còn có men (amilase, glucoxidase, protease, perotease, peroxidase và poly-phenoloxidase…) và các muối vô cơ.
Trong nụ chè có cafein (2 – 2,5%), nước (10%), muối vô cơ và các men…

cafein

Công dụng

Chè được dùng pha nước uống, làm kích thích thần kinh trung ương, lợi tiểu, cầm ỉa chảy nhẹ, chữa lỵ. Dùng riêng hoặc kết hợp với một số vị khác. Gần đây các nhà khoa học Nhật Bản cho biết chè có tác dụng chống được phóng xạ Stronti (Sr)90.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

LẠC TIÊN-Passiflora foetida, Passiflora incarnata, Passiflora edulis

LẠC TIÊN


Tên khoa học:

Có nhiều loại lạc tiên như: Passiflora foetida L. (=P. hispida DC.); Passiflora incarnata L.; Passiflora edulis Sims.
Thuộc họ Lạc tiên – Passifloraceae.

Tên khác:

Cây lạc tiên còn gọi là: Hồng tiên, dây nhãn lồng, lồng đèn.

Đặc điểm thực vật và phân bố:

1. Passiflora foetida

Cây mọc leo, thân mềm mang nhiều lông thưa và mềm. Lá mọc cách có nhiều lông dính. Phiến lá có ba thùy, thùy giữa lớn hơn thùy hai bên, mép có răng cưa nhỏ. Cuống lá không có tuyến mật. Có lá kèm nhỏ. Tua cuốn và hoa mọc ở kẽ lá. Hoa mọc riêng lẻ, to, đều, lưỡng tính. Có tổng bao gồm 3 lá bắc dời nhau chia thành những sợi nhỏ như sợi tóc về sau tồn tại ở gốc quả. Ở gốc tràng có hai vòng phần phụ hình sợi mầu tím, 5 nhị. Đài hợp, 5 răng, 5 cánh, bầu thượng, nhẵn, một ô, dính noãn bên mang 3 vòi, nhị và nhụy đặt ở trên một cuống nhị nhụy. Quả mọng, hình trứng, khi chín có mầu vàng, nhiều hạt và có áo hạt, thơm, ăn được.

2. Passiflora incarnata L.

Cũng là cây mọc leo không có lông, (cây non có ít lông) thân cây có vân dọc, mầu lục xám. La mọc cách, không có lông hoặc hơi có lông. Lá xẻ thành 3 thùy hình bầu dục nhọn. Cuống lá có 2 tuyến mật. Hoa mọc riêng lẻ, to, có 3 lá bắc hình bướm, một đài hoa hình chậu, có 5 lá đài mầu xanh lục và tràng có 5 cánh hoa sen kẽ nhau, tràng mầu tím hoặc đỏ, có tràng phụ cấu tạo bởi những dải nhỏ xếp thành nhiều hàng. Quả hình trứng, khi chín có mầu vàng, ăn được.

3. Passiflora edulis Sims.

Dây leo thân hình trụ, có vách dọc. Lá mọc so le, chia 3 thùy, mép kía răng cưa, gốc lá có 2 tuyến nhỏ. Phiến lá nhẵn bóng. Lá kèm hình sợi, tua cuốn mọc ở kẽ lá. Hoa mầu trắng mọc đơn độc ở kẽ lá, có vòng tua phần phụ loăn xoăn mầu tím và trắng. Quả hình trứng, dài khoảng 6 cm. Khi chín mầu da cam hay tím, ăn được.
Cây Passiflora foetida L. mọc hoang khắp nơi ở nước ta, nhất là các tỉnh Hòa Bình, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Cây Passiflora incarnata L. có nguồn gốc Nam Mỹ, được trồng ở nhiều nước Nam Mỹ và miền nam châu Âu. Cây Passiflora edulis Sims. Có nhiều ở Trung Quốc.

Bộ phận dùng và chế biến

- Quả chín dùng để ăn và làm nước giải khát.
- Phần trên mặt đất của cây (Herba Passiflorae)
Thu hái quanh năm, hái về phơi hay sấy khô. Có thể nấu cao hay pha cồn thuốc (1/5) với cồn 600.

Thành phần hóa học

Trong Passiflora incarnata L. có tới 0,09% alcaloid toàn phần (tính theo harman) gồm harman, harmin, harmol và harmalol, harmalin.

harman, harmin, harmol và harmalol, harmalin
Ở lá và hoa có 1,5 – 2,1%, ở cây có 0,2 – 0,85% flavonoid, trong đó có saponarin, saponaretin và vitexin.
saponarin, saponaretin và vitexin
Ngoài ra, còn có dẫn chất coumarin, saponin, các acid amin, các chất đường…

Tác dụng và công dụng

Lutomsky cho rằng các alcaloid có nhân harman có tác dụng an thần gây ngủ. Hoàng Tích Huyền và cộng sự thử tác dụng của dung dịch alcaloid toàn phần dịch chiết từ cây lạc tiên được dùng làm thuốc ở Việt Nam cho thấy chúng có tác dụng ngăn cản hoạt động do cafein và kéo dài thời gian gây ngủ do hexobacbital trên chuột.
Lạc tiên được dùng làm thuốc an thần chữa bệnh mất ngủ, suy nhược thần kinh, co giật.
Dùng dưới dạng cao hay siro và thường phối hợp với các vị thuốc khác như lá vông, tâm sen, lá dâu, long nhãn…

BÁCH BỘ-Stemona tuberosa Lour., Họ Bách Bộ -Stemonaceae

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

BÁCH BỘ

Tên khoa học của cây bách bộ: Stemona tuberosa Lour., Họ Bách Bộ -Stemonaceae
Tên khác: Dây Ba Mươi, Đẹt Ác, Bẳn Sam, Síp (Thái), Chầu Chàng (H’mông), Robat Tơhai, Hiungui (Giarai), Sam Sip lạc (Tày).

Đặc điểm thực vật

Cây: Dây leo, sống nhiều năm, có thân mảnh, nhẵn, dài đến 6-8m, ở gốc có nhiều rễ củ, nhiều nạc mọc thành chùm, 10-20 hoặc 30 củ (Củ ba mươi), có khi tới gần một trăm củ, dài 15-20cm, rộng 1,5-2cm.
Lá mọc đối hay so le, giống lá Củ nâu, phiến lá hình tim,có khi thuôn dài nhưng đặc biệt có hệ gồm 10-12 gân ngang  nhỏ dày song song với các gân chính hình cung chạy dọc từ cuống lá đến ngọn lá.
Hoa mọc ở kẽ lá, gồm 1-2 hoa to ,cuống dài 2-4cm, mặt ngoài màu vàng lục, mặt trong màu đỏ tiá, có mùi thối; 4 nhị dài 4-5cm, chỉ nhị ngắn. Bao hoa gồm 4 phận, 4 nhụy giống nhau. Bầu hình nón, quả nặng có 4 hạt, ra hoa vào mùa hè  
Quả nang chứa nhiều hạt.

Phân bố

Cây mọc hoang nhiều ở vùng rừng núi nước ta: Hòa Bình, Phú Tho, Bắc Giang,Thanh Hóa ....
Ngoài ra còn mọc ở Ấn độ, Trung Quốc, Nhật Bản,Austraylia, Malaysia... Ở Trung Quốc vị thuốc Bách bộ còn được khai thác từ các loài S. japonica Miq., S.sessilifolia (Miq.) Franch. et Savat

Thu hái, chế biến

Mùa thu đông, người ta đào củ về rửa sạch để nguyên củ hoặc bổ đôi đem phơi hay sấy khô.

Bộ phận dùng

Rễ củ đã chế biến khô của cây Bách bộ (Radix Stemonae).
Củ thường cong queo, bổ đôi hay để nguyên, dài 5cm trở lên, rộng trên 0,5cm đầu trên hơi phình to, đầu dưới thuôn nhỏ. Mặt ngoài màu vàng nâu, có nhiều nếp nhăn. Mặt cắt ngang mô mềm vỏ dày, trụ giữa cứng. Vị đắng, hơi ngọt.

Vi phẫu

Mặt cắt rễ củ tròn. Từ ngoài vào trong có: Lớp bần cấu tạo bởi những tế bào thành dày hoá gỗ. Mô mềm vỏ các tế bào to, nhỏ không đều, thành mỏng, xếp lộn xộn, rải rác có sợi hình đa giác, tròn và những tinh thể calci oxalat cầu gai nhỏ.Nội bì cấu tạo bởi một lớp tế bào hình chữ nhật xếp đều đặn. Vỏ trụ là một lớp tế bào hình chữ nhật xếp xen kẽ với các tế bào nội bì. Libe các tế bào nhỏ tập hợp thành các bó xếp sát vỏ trụ, xen kẽ với những bó gỗ. Các bó gỗ cấu tạo bởi những mạch gỗ to, nhỏ, xếp tuần tự thành hình tam giác đầu nhọn quay ra ngoài sát với vỏ trụ, ở phía trong gỗ liền nhau thành vòng tròn. Mô mềm ruột các tế bào thành mỏng, to, nhỏ không đều, kích thước nhỏ hơn tế bào mô mềm vỏ, xếp lộn xộn. Trong mô mềm ruột rải rác có các mạch gỗ lớn.

Bột dược liệu

Bột màu xám không mùi, vị đắng, nhìn dưới kính hiển vi thấy: Mảnh bần màu vàng gồm các tế bào hình nhiều cạnh, thành dày. Mảnh mô mềm thành tế bào mỏng có khi chứa hạt tinh bột. Hạt tinh bột kích thước khoảng 0,02-0,03mm có rốn hạt và vân khá rõ, riêng lẻ hay tập trung thành đám. Mảnh mạch thường là mảnh mạch chấm, mạch vạch. Sợi dài, có thành hơi dày, khoang rộng.
Thành phần hoá học
Trong rễ củ Bách bộ (Stemona tuberosa) mọc ở Việt Nam có nhiều alcaloid khác nhau (0,50-0,60%), trong đó alcaloid chính là tuberostemonin LG, còn có 8 vết hiện màu với thuốc thử Dragendorff trên sắc ký lớp mỏng nhưng chưa phân lập được để xác định cấu trúc hóa học.
Ngoài ra trong rễ củ còn có glucid (2,3%), lipid (0,84%), protid (9,25%) và acid hữu cơ (acid citric, malic, oxalat…).
Một số tác giả Nhật Bản và Trung Quốc đã xác định trong rễ của loài Stemonatuberosa Lour. có các alcaloid: tuberostemonin (C22H23O4N), neotuberostemonin, oxotuberostemonin (C22H31O5N), stenin (C17H22O2N), stemotinin (C18H25O5N), isostemotinin (C18H25O5N), tuberostemoninol (C22H34O6N), bisdehydro-neotuberostemonin.

tuberostemonin
bisdehydro-neotuberostemonin

Tác dụng và công dụng

- Dịch chiết rễ bách bộ, alcaloid toàn phần và tuberostemonin LG đều có biểu hiện không độc ở liều thí nghiệm (165g rễ, 750mg alcaloid toàn phần, 1875mg tuberostemonin LG/1kg thể trọng chuột nhắt trắng).
- Dịch chiết rễ bách bộ, alcaloid toàn phần và tuberostemonin LG đều có tác dụng giảm ho, long đờm rõ rệt.
- Dịch chiết rễ bách bộ 2/1 làm giảm hoạt động của giun đũa lợn, dung dịch tuberostemonin LG 0,15% làm liệt hoàn toàn và chết giun đũa lợn sau 3 giờ.
- Tuberostemonin LG có tác dụng ức chế một số vi khuẩn như Bacillus subtilis, Bacillus pumilus, Bacillus cereus, Staphylococcus aureus, Klebsiella.
Bách bộ được dùng làm thuốc trị ho, ngày uống 6 – 20g dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu thành cao. Thường dùng phối hợp với một số vị thuốc khác.
Trị giun đũa: Ngày uống 7 – 10g dưới dạng thuốc sắc, uống 5 ngày liền vào buổi sáng lúc đói, sau uống thuốc tẩy.
Trị giun kim: Bách bộ tươi 40g (hoặc 20g bách bộ khô) đun với 200ml nước, cô còn lại 30ml thụt giữ 20 phút. Điều trị liền trong 10 – 12 ngày.
Ngoài ra, bách bộ còn được dùng để trừ chấy, rận, bọ chó.. cho súc vật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

Ô ĐẦU-Ô đầu Việt Nam - Aconitum fortunei Hemsl. Âu ô đầu: Acotinum napenllus L., Ô đầu Trung quốc Acotinum chinensis Paxt. và Acotinum carmichaeli Debx.

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Ô ĐẦU

Có nhiều loại ô đầu: Ô đầu Việt Nam - Aconitum fortunei Hemsl. Âu ô đầu: Acotinum napenllus L., Ô đầu Trung quốc Acotinum chinensis Paxt. và Acotinum carmichaeli Debx., thuộc họ Hoàng liên - Ranunculaceae.

Đặc điểm thực vật

Cây ô đầu thuộc loại cỏ, mọc hàng năm, cao chừng 0,6 – 1m, rễ phát triển thành củ có hình nón, thân mọc thẳng đứng có ít cành. Lá mọc so le hình dáng và kích thước của lá có khác nhau chút ít tùy theo loài.
- Âu ô đầu lá xẻ chân vịt, gần như lá ngải cứu, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn.
- Ô đầu Trung Quốc có phiến lá rộng 5 – 12 cm, xẻ thành 3 thùy, 2 thùy  2 bên lại xẻ làm 2, thùy giữa xẻ làm 3 thùy con, mép các thùy đều có khía răng cưa nhọn.
Hoa lưỡng tính, không đều, hoa có màu xanh lơ thẫm hay tím mọc thành chùm ở ngọn thân. Có 5 lá đài, trong đó có một cái khum thành hình mũ: Quả có 5 đại mỏng.

Phân bố

Âu ô đầu mọc hoang và trồng ở châu Âu.
Ô đầu Trung Quốc mọc hoang và trồng ở Trung Quốc (Tứ Xuyên, Quý châu, Vân Nam, Thiểm Tây, Cam Túc).
Ô đầu việt nam mọc hoang và trồng ở các vùng núi như Hà Giang, Lào Cai (Sa pa).

Trồng hái

Ô đầu được trồng bằng hạt hoặc các củ con.
Ô đầu được trồng nhiều ở Trung Quốc, người ta trồng ở vùng khí hậu lạnh ẩm, đất hơi cao, dễ thoát nước, cây ưa đất mùn, đất cát. Vào khoảng tháng 11 hàng năm người ta thu hoạch lấy củ to làm thuốc, củ con dùng để trồng. Có nơi trồng vào tháng 3, tháng 4 năm sau (vùng Bắc Kinh), có nơi trồng vào mùa đông (ở tứ Xuyên).
Người ta thường thu hoạch khi cây trồng được 1-2 năm, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, phơi hay sấy khô. Nếu cần thu hạt thì đến cuối năm thu hạt xong tiếp tục chăm sóc để thu củ vào mùa ra hoa năm sau.
Ở nước ta thu hái vào tháng 9-10 khi cây đang ra hoa. Trồng vào tháng 1,2.

Chế biến

Tùy theo cách chế mà có các vị khác nhau.
Diêm phụ: chọn rễ nhánh to, rửa sạch bỏ vào vại, thêm chlorid Mg, muối ăn và nước (cứ 100kg phụ tử dung 40kg Mg chloride, 30kg muối ăn, 60 lít nước), ngâm 10 ngày. Lấy ra, phơi khô lại rồi cho vào, cứ thế ngày phơi đêm ngâm nước bao giờ cũng xâm xấp trên củ. Thỉnh thoảng thêm Mg chloride, muối ăn, nước dể đảm bảo nồng độ ban đầu. Cuối cùng vớt ra, phơi nắng để muối thấm đến củ và mặt ngoài thấy kết tinh trắng là được. Trước khi dùng, thái lát mỏng, rửa nước đến hết cay tê, rồi phơi hay sấy khô.
Hắc phụ: Chọn rễ nhánh trung bình, rửa sạch, cho vào vại, thêm Mg chlorid, nước, ngâm vài ngày (100kg phụ tử dùng 40 kg Mg chlorid, 20 lít nước). Sau khi đun sôi 2-3 phút, lấy ra rửa sạch, thái từng miếng mỏng. Lại ngâm Mg chlorid và nước, cuối cùng thêm đường đỏ và dầu hạt cải, rồi sao tẩm cho đến khi có màu nước chè đặc. Sau đó, rửa nước đến hết vị cay, rồi phơi hoặc sấy khô.
Bạch phụ: Chọn rễ nhỏ, rửa sạch cho vào vại ngâm với Mg chlorid nước, trong vài ngày. Sau đó đun tới chín giữa củ, loại bỏ vỏ rồi thái mỏng, rửa cho hết tê cay, hấp chín, phơi khô, rồi phơi đến hết khô.

Bộ phận dùng

- Củ mẹ (ô đầu)
- Củ con (phụ tử)
Rễ cử ô đầu Việt Nam (Aconitum fortune Hems) hình con quay dài 3 - 5cm, đường kính 1-1,2cm. Phía trên cử ô đầu có vết tích cửa thân cây. Mặt ngoài màu nâu hay nâu đen, có nhiêu nếp nhăn dọc va vết tích cửa rễ con và củ con. Thể chất cưng chắc và dai khó bẻ, thường giống xốp ở giữa cử vết cắn màu nâu xám  nhạt, vị nhạt sau hơi chát và hơi tê lưỡi.
Phụ tử có hình con quay dài 3,5-5cm, phía trên to đường kính 1,5-2,5cm có vết nối với củ mẹ, không có vết tích của thân cây, phía dươi thuôn nhỏ dần. Mặt ngoài màu nâu đen, có nhiều nếp nhăn dọc, vòng quanh có một số rễ nhánh lồi lên như cái bưới.
Thể chất cứng chắc, khó bẻ. Vết cắt có màu nâu xám. Vị nhạt, sau hơi chát và hơi tê lưỡi.
Vi phẫu
Cắt ngang phần chóp củ thấy có: Lớp bần màu nâu. Mô mềm vỏ gồm 3 - 4 hàng tế bào thành mỏng, hình nhiều cạnh, dẹt, nằm ngang. Nội bì gồm 1 hàng tế bào rõ. Trụ bì gồm 2 - 3 hàng tế bào xếp đều đặn, sát với nội bì. Trong mô mềm rải rác có nhiều đám mạch rây và cả hạt tinh bột. Libe khá phát triển và bị các tia ruột cắt ra thành từng dãy xuyên tâm. Tầng sinh libe - gỗ gồm 1 - 2 hàng tế bào nhỏ. Gỗ cấp 2 xếp thành những hình chữ V. Tia ruột rộng và mô mềm ruột phát triển.
Bột
Mảnh bần màu nâu, thành dày. Mảnh mô mềm gồm tế bào hình nhiều cạnh, thành mỏng, trong chứa các hạt tinh bột. Các hạt tinh bột nhỏ, hình đĩa, hình chuông hay hình đa giác, đường kính 2 - 25 mm, đứng riêng lẻ hay kép đôi, kép ba. Mảnh mạch mạng, mạch vạch. Tế bào mô cứng thành dày. Rải rác có tinh thể calci oxalat hình kim hay hình khối. Sợi dài.

Thành phần hóa học

Hoạt chất trong ô đầu, phụ tử là alcaloid. Hàm lượng alcaloid thay đổi tùy theo loài và thời kỳ thu hái.
    - Âu ô đầu:0,2-3% alcaloid toàn phần. Trong đó có aconitin chiếm tới 85-90%, ngoài ra còn có benzoyl- aconin, aconin, napellin, neopellin, magnoflorin, hypaconitin và có vết spartein, ephedrine.
- Ô đầu Trung Quốc (Aconitum carmichaeli) có 0,32-0,77% alkaloid toàn phần. Trong đó có hypaconitin, aconintin, mesaconitin, jesaconitin, atisin, kobisin, ignavin, songorin, higennamin, corynein, yokonosid.
   - Ô đầu Việt Nam (Acouitum fortune Hems) đối với cây trông ở sapa ( Lào Cai), alcaloid toàn phần ở củ mẹ: 0,36-0,80%, củ con: 0,78-1,17%. Cây trồng ở Hà Giang, có alcaloid toàn phần ở củ con là 0,36%. Trong đó ô đầu Việt Nam có aconitin, hypaconitin và còn ít nhất là 8 vết hiện màu với thuốc thử Dragendorff trên sắc ký lơp mỏng nhưng chưa phân lập đươc đẻ xác định cấu trúc hóa học.

aconintin
corynein
Aconitin dễ bị thủy phân thành acid acetic và benzoylaconitin. Độ độc của benzoylaconitin chỉ bằng 1/400 – 1/500 aconitin. Thủy phân tiếp benzoylaconitin sẽ giải phóng ra một phân tử acid benzoic và chuyển thành aconin. Độ độc của aconin giảm đi chỉ còn khoảng 1/10 benzoylaconitin/
Aconitin là chất độc nhất và có tác dụng sinh học mạnh nhất, hàm lượng giao động khoảng 13 – 90% alcaloid toàn phần. Bị thủy phân, dễ dàng biến đổi aconitin thành những chất ít độc hơn khiến người ta phải quan tâm đến việc chế biến và thời gian bảo quản cũng như định lượng riêng aconitin trong chế phẩm.
Ngoài alcaloid trong ô đầu và phụ tử còn có acid hữu cơ (acid aconitic, citric, malic …), tinh bột, chất đường, muối vô cơ.

Kiểm nghiệm

1. Định tính
- Lấy khoảng 1 g bột dược liệu , thấm ẩm bằng amoniac đặc, để yên 10 phút, chiết với 10 ml chloroform, lọc, bốc hơi dịch lọc tới khô,hòa tan cắn với acid H2SO4 loãng rồi chia vào 3 ống nghiệm :
   + ống 1: nhỏ 2 giọt thuốc thử  Mayer sẽ xuất hiện tủa trắng.
   + ống 2: nhỏ 2 giọt thuốc thử Burchardat sẽ xuất hiện tủa nâu.
   +ống 3: nhỏ 2 giọt thuốc thử Dragendorff sẽ xuất hiện tủa đỏ cam.
- Lấy khoảng 2 g bột dược liệu cho vào bình nón có nút mài , thấm ẩm bằng ammoniac đặc. sau 10 phút them 20 ml ether lắc đều, nút kín và để yên trong 30 phút, thỉnh thoảng lắc. Gạn lớp ether, làm khan bằng Na2SO4khan ,lọc và bốc hơi cách  thủy tới khô. Hòa tan cắn với 5 ml H2SO4 loãng, đun cách thủy trong 20 phút sẽ xuất hiện màu đỏ với huỳnh quang xanh.
-  Sắc ký lớp mỏng: dùng chất hấp phụ là silicagen G, hệ dung môi khai triển là: chloroform – methanol – ammoniac đặc [ 50 : 9 : 1], phun hiện màu bằng thuốc thử Dragendorff.
Trên sắc ký đồ dịch chiết cảu củ mẹ và củ con ít nhất có 9 vết , trong đó có vết có Rf và màu sắc giống vết aconitin chuẩn và hypaconitin chuẩn.
2. Định lượng:
Cân chính xác khoảng 6 g bột dược liệu cho vào bình nón có nút mài dung tích 150 ml. thêm 70 ml ether và amoniac đặc, lắc mạnh trong 30 phút. Thêm 2,5 ml nước cất, lắc mạnh và để yên cho tách thành 2 lớp. Gạn lấy lớp ether và lọc qua bông. Lấy một lượng chính xác dịch  chiết ether (tương ứng với 4g bột dược liệu) cho vào bình nón có dung tích 150 ml. Làm bốc hơi đến khô. Thêm 5ml ether, lại làm bốc hơi trên cách thủy đến khô. Tiếp tục làm như vậy với 5 ml ether nữa. Hòa tan cắn trong 5 ml ethanol 960, lắc nhẹ trên cách thủy sôi 5 phút. Thêm 30 ml nước cất vừa mới đun sôi để nguội. Cho thêm 8 giọt dung dịch đỏ methyl và một giọt xanh methylen 0.15% trong ethanol, rồi chuẩn độ bằng dung dịch HCl 0,01N đến khi chuyển sang màu tím tro.
1 ml HCl 0,01N tương ứng 6.46 mg alkaloid toàn phần tính theo aconitin.
Hàm lượng phần trăm alkaloid trong dươc liệu :
X% =0,0646 . n . 100 / P
P: khối lượng dược liệu khô kiệt , tương ứng với 4 g dược liệu đem định lượng.
n: số ml dung dịch HCl 0,01N đã dùng.
Theo quy định của Dược điên Việt Nam III trong củ mẹ phải chứa ít nhất 0,3%, củ con chứa ít nhất 0,6% alcaloid toàn phần tính theo aconitin.
Dược điển quốc tế định lương riêng aconitin  theo nguyên tắc: xà phòng hóa để giải phống acid acetic và benzoic. Sau đó tách benzoic ra bằng cách lắc với hỗn hợp ether – ether dầu hỏa. Định lượng acid benzoic rồi suy ủa lượng aconitin (trong đó cũng có một lượng nhỏ benzoyl aconitin không đáng kể) Dược điển quốc tế quy định phải chiếm 30 % alcaloid toàn phần.
3. Thử độc tính cấp
Điều chế theo phương pháp ngấm kiệt một cồn thuốc theo tỷ lệ (1/10) trong cồn 900. Pha loãng cồn đó với nước theo tỷ lệ 1/5. Tiêm dưới da cho 10 con chuột nhắt trắng, cân nặng mỗi con 20±1g đã nhịn đói 4 giờ trước khi tiêm một liều cồn thuốc, sao cho có thể giết chết 50% số chuột trong 24 giờ. Độ độc của 1ml cồn thuốc (1/10) phải tương đương với 0,15mg aconitin chuẩn, hay liều LD50 cho mỗi kg cơ thể chuột phải xấp xỉ 2,4ml cồn thuốc (1/10)

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng đối với tim

Aconitinrất độc đối với tim, chủ yếu tác dụng trực tiếp lên tế bào cơ tim, thúc đẩy màng tế bào khử cực hóa, tăng nhanh nhịp đập, rút ngắn giai đọan trơ. Trên cơ thể động vật bị ngộ độc aconitin, còn có sự tham gia của thần kinh thực vật. Ngộ độc aconitin biểu hiện trên điện tâm đồ là đầu tien làm giảm nhịp tim, sau đó dẫn truyền nhị thất bị phong bế, xuất hiện ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất, rung thất, cuối cùng tim ngừng đập. Người ta cho rằng cơ chế tác dụng của ngộ độc là do tính hưng phấn của cơ tim tăng cao. Do đó hiện nay, aconitin là thuốc công cụ để gây mô hình loạn nhịp tim thực nghiệm, phục vụ cho công tác nghiên cứu các thuốc chống loạn nhịp tim, aconitin không có giá trị sử dụng trong điều trị trên lâm sàng.
Aconitin không có tác dụng cường tim, trái lại rất độc với tim nhu đã đề cập. Xong có người cho rằng sản phẩm thủy phân của aconitin là chất aconin lại có tác dụng cường tim mà độc tính lại thấp chỉ bằng 1/2000- 1/4000 độc tính của aconitin. Gần đây người ta đã chứng minh dịch thủy phân của aconitin thí nghiệp trên tim cô lập chuột lang và ếch có tác dụng cường tim yếu, không đáng kể. Các tác giả Nhật Bản cho rằng hoạt chất cường tim có trong phụ tử là higenamin. Trên chó gây mê higenamin với liều 1-4µg/kg làm tăng nhịp tim và tăng tuần hoàn mạch vành, do đó các nhà nghiên cứu đều cho rằng higenamin là một chất chủ vận đối với hệ β-adrenergic chứ không phải là một thành phần có tác dụng cường tim thực thụ của phụ tử

2. Tác dụng đối với huyết áp

Aconitin có tác dụng làm hạ huyết áp. Tác dụng này bị Atropin đối kháng. Bài cấp cứu hồi dương thang gồm: phụ tử, long não, nhân sâm, xả hương có tác dụng nâng cao huyết áp đã bị tụt thấp còn bài quế phụ thang trên chuột cống trắng có tác dụng gây cao huyết áp thực nghiệm lại có tác dụng hạ huyết áp.
Ngoài ra trong phụ tử còn có các thành phần ester có tác dụng tăng cường chuyển hóa các lipid no và cholesterol, giảm hiện tượng lipid bám vào thành mạch, giảm lượng cholesterol, lipid trong máu dùng điều trị xơ vữa động mạch thực nghiệm trên thỏ có kết quả.
3. Tác dụng giảm đau
 Alcaloid trong ô đầu có tác dụng làm giảm đau trên chuột nhắt trắng. Tác dụng giảm đau có tính chât thuộc trung ương, liên quan mật thiết với những đáp ứng của hệ thống các chất catecholamin trung ương, đặc biệt với hệ thống adrenergic mà không thông qua trung gian là các thụ thể opiate nên levallorphan không làm ảnh hưởng đến tác dụng giảm đau của mesaconitin. Ngoài ra aconitin còn có tác dụng ức chế dẫn truyền các xung thần kinh làm cho dây thần kinh tê liệt mất khả nang dẫn truyền.

4. Tác dụng với hệ thần kinh.

Đối với các tận cùng của dây thần kinh cảm giác trong da và niêm mạc, aconitin ở giai đoạn đầu có tác dụng kích thích gây ngứa, có cảm giác nỏng bỏng, sau đó mất cảm giác tê dại. Aconitin còn có tác dụng ức chế trung khu hô hấp, tăng cường tiết nước bọt hạ thân nhiệt ở động vật bình thường cũng như động vật gây sốt.

5. Tác dụng chống viêm.

Alcaloid ô đầu có tác dụng ưc chế hiện tượng tăng thẩm thấu của thành mạch do tiêm xoang bụng acid acetic gây nên đồng thời ức chế phù bàn chân chuột cống trắng do tiêm carageenin, phòng ngừa viêm. Nước sắc phụ tử có tác dụng chống viêm khớp cổ chân chuột do formaldehyd gây nên.

6. Tác dụng khác.

Alcaloid ô đầu có tác dụng đối kháng với co thắt hồi tràng chuột lang cô lập do histamine và acetylcholine gây nên, thúc đẩy qua trình sinh tổng hợp RNA polymerase.
Độc tính: Ô đầu rất độc độc tính thay dổi theo loài, địa điểm cây sinh trưởng, thời gian thu hái, cách bào chế, thời gian đun nấu. Trong quá trình bào chế hàm lượng alcaloid giảm tới 81,3% nên phụ tử ít độc hơn. Phụ tử chế từ cây mọc ở các vùng khác nhau có độ độc chênh lệnh nhau 8 lần. Aconitin và các Alcaloid khác cũng rất độc. Triệu chứng ngộ độc biểu hiện ở: lưỡi tê, chảy nước bọt, nôn mửa, đi ngoài, đau đầu, chóng mặt, môi và chân tay tím tái, mạch chậm yếu, hô hấp khó khăn…

Công dụng và liều dùng

Ô đầu, phụ tử chưa chế biến: Chủ yếu dùng ngoài để xoa bóp khi nhức, mỏi tay chân, đau khớp, bong gân. Dùng dưới dạng cồn aconit 10% của bột (1g cồn thuốc này  = 57 giọt), hoặc nhân dân thường thái mỏng ngâm rượu để dùng.
Có thể dùng trong để giảm đau các bệnh đau do dây thần kinh sinh ba, giảm viêm trong cá bệnh viêm thanh quản, phế quản, họng và dùng chữa ho. Ngày dùng 0,2 – 1 g (tức 10 giọt – 57 giọt) cồn 10%; trẻ em: 1-2 giọt cho mỗi tuổi trong 24 giờ.
Vì aconitin dễ bị thủy phân nên hàng năm phải thay cồn aconit 1 lần.
Ô đầu, phụ tử là thuốc độc bảng A nên dùng trong phải hết sức thận trọng. Phụ tử chế, hắc phụ: Y học dân tộc cổ truyền coi là một vị thuốc hồi dương, khử phong hàn, dùng chữa một số triệu chứng nguy cấp: Trụy tim mạch, ra nhiều mồ hôi, chân tay lạnh giá. Ngày dùng 4-12 g dạng thuốc sắc, có khi còn dùng liều cao hơn. Thường phối hợp với nhân sâm, can khương tùy theo kinh nghiệm của thầy thuốc.
Phụ tử chế được dùng trong bài thuốc “Bát vị hoàn”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

CÀ LÁ XẺ-Solanum laciniatum Ait., thuộc họ Cà - Solanaceae.

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

CÀ LÁ XẺ

Tên khoa học của cây cà lá xẻ: Solanum laciniatum Ait., thuộc họ Cà - Solanaceae.
Cây cà lá xẻ còn gọi là cà Úc.

Đặc điểm thực vật

Cây thuộc thảo, sống nhiều năm, cây cao tới 2 – 2,5 m, thân mọc đứng, phần gốc hóa gỗ.Thân thiết diện tròn, khi cây cao 40 – 60 cm thì phân cành, thân cây bắt đầu ra là màu xanh đậm và chuyển sang màu đen khi có phát triển, cuối cùng tạo thành vỏ thô màu nâu.
Lá đơn, mọc so le, có hình dạng và kích thước rất khác nhau. Lá ở phía dưới dài tới 35 cm, có cuống, thường xẻ lông chim lẻ. Lá phía trên ngắn dần và bị xẻ ba, còn lá ở ngọn thì nhỏ, nguyên hình mũi mác. Lá nhẵn, mặt trên xanh xẫm, mặt dưới nhạt hơn, gân hình lông chim nổi rõ ở mặt dưới, mặt trên gân giữa màu lục.
Hoa to họp thành chùm ở nách lá. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5, màu tím. Đài có 5 răng màu xanh, tràng hình bánh xe có 5 gân màu chính màu vàng nhạt dính nhau phía dưới thành ống ngắn, hẹp và màu lục, phía trên loe rộng và màu tím. Nhị 5, rời, dài bằng nhau, đính ở đáy ống tràng và xếp xen kẽ với cánh hoa; chỉ nhị vàng nhạt, nhẵn; bao phấn thuôn, vàng sậm, xếp chụm vào nhau thành một ống thẳng đứng bao quanh vòi nhụy, 2 ô, hướng trong; hạt phấn rời, màu vàng nhạt, hình bầu dục; bầu trên, hai ô màu xanh, vòi màu tím và 2 núm tách đôi.
 Quả kiểu cà, mọng, đơn lẻ, hình trứng dài 2 - 3 cm, vỏ láng bóng màu vàng khi chín, lá đài đồng trưởng trên quả, dày. Hạt nhiều, nhỏ, hình thận có màu nâu.
Toàn cây độc, nhưng thịt quả chín có thể ăn được.
Mùa hoa quả tháng 7 – 10.

Phân bố

Cà lá xẻ có nguồn gốc ở châu Úc và Tân Tây Lan. Cây thích hợp với khí hậu cận nhiệt đới. Nhiều nước đã di thực và trồng như Trung Quốc, Xri lanca. Nước ta cũng đã di thực được cây này nhưng chưa phát triển trồng nhiều.

Bộ phận dùng

Phần trên mặt đất phơi hay sấy khô (Herba Solani lanciniati)

Thành phần hóa học

Toàn cây chứa hai loại glycoalcaloid (khung stroid) gần giống nhau là Solasonin và Solamargin, khi thủy phân cho cùng một aglycon là solasodin.

Solamargin
solasodin
Solasonin
Solasonin thường bao gồm α, β và γ – solasonin: α – solasonin có hàm lượng cao nhất, còn β và γ – solasonin là glycoside cấp hai do α – solasonin thủy phân tạo ra, cũng có thể tồn tại kèm theo với α – solasonin trong cây.
Hàm lượng glycoalcaloid thay đổi tùy theo bộ phận của cây.
Ví dụ : Đối với cây trồng của viện Vilar (Nga) cho kết quả (tính theo dược liệu khô) : 2,48 – 3,87%; thân (phần dưới và phần ở giữa): 0,26 – 0,32%; rễ 0,81%, quả xanh 6,61%.
Tuy hàm lượng glycoalcaloid trong quả xanh cao nhưng chỉ chiếm 3,7% khối lượng cuả cây, còn lá thì chiếm tới 50%.
Tỉ lệ Solasodin 1,2 – 1,6% ở lá.
Ngoài các glycoalcaloid từ bộ phận trên mặt đất của cây, các tác giả Nga còn tách được khoảng 0,20% diosgenin
Định lượng Solasodin trong môi trường khan:
Quá trình định lượng có thể chia làm 3 giai đoạn:
Cân chính xác 1g bột dược liệu cho vào cốc có mỏ, thấm ẩm bằng 4ml acid acetic 2%, để trong 30 phút rồi cho vào bình chiết và chiết bằng dung dịch acid acetic 2% cho đủ 25 ml.
-            Lấy 5 ml dịch chiết trên cho vào 1 bình cầu dung thích 20 ml
-            Thêm vào đó 1 ml HCl 5N
-            Lắp ống sinh hàn ngược và thủy phân trong 1 giờ trên nồi cách thủy sôi
-            Sau khi nguội, kiềm hóa dịch thủy phân bằng NaOH 25% tới pH 9,5 rồi lại đặt lên nồi cách thủy sôi trong 10 phút
-            Sau đó lấy ra, để nguội và cho vào tủ lạnh trong 1 giờ
-            Lọc lấy tủa vào giấy lọc không gấp nếp
-            Đem sấy tủa ở 700C cho tới khô
-            Gấp và cho giấy lọc có tủa vào bình Soxhlet rồi chiết bằng 20 ml chloroform khan trong 1 giờ.

3. Định lượng.

Dịch chiết solasodin sau khi để nguội thêm 2 giọt dimethyl vàng rồi định lượng bằng dung dịch paratoluen sulfonic 0,005N cho tới khi có màu hồng nhạt.
1 ml dung dịch paratoluen sulfonic 0,005N tương ứng với 2,069 mg solasodin.

% Solasodin= n. K.2,069.25.100/b.5
 
n: số ml paratuluen sulfonic 0,005N đã dùng
                       K: hệ số điều chỉnh
                       b: số gam dược liệu khô kiệt

Công dụng

-Cà lá xẻ được dùng để chiết xuất lấy solasodin
-Từ solasodin bán tổng hợp ra thuốc steroid
-Liên Xô cũ đã bán tổng hợp ra progesterone và cortison từ solasodin lầ đầu năm 1957
-Tổng hợp ra presnisolon, presnison.. có tác dụng chống viêm dùng trong các bệnh dị ứng (hen phế quản, tự miễn, chữa thấp khớp
-Ngoài ra có diosgenin cũng được dùng bán tổng hợp ra thuốc có bản chất steroid.
-Trái cây chín được dùng như thức ăn của thổ dân ở Tasmania và người Maori ở New Zealand - nhưng lưu ý rằng khi chưa chín trái cây có độc.
Ghi chú:Năm 1963 nước ta cũng đã di thực cây Solanum aviculare Forst, nhưng không phát triển
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

MỰC HOA TRẮNG-Holarrhena antidysenterica Wall., họ Trúc đào-Apocynaceae.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012


MỰC HOA TRẮNG

 

Tên khoa học của cây mực hoa trắng: Holarrhena antidysenterica Wall., họ Trúc đào-Apocynaceae.
Tên khác: Mộc hoa trắng, thừng mực lá to, sừng trâu, míc lông, mộc vài (Tày), xi chào (K’ho), hồ liên.
Đặc điểm thực vật
Cây gỗ cao chừng 3 – 12 m. Cành non nhẵn hoặc mang lông màu nâu đỏ, trên mặt có nhiều khổng bì trắng, rõ. Lá mọc đối gần như không cuống, nguyên hình bầu dục đầu tù hoặc nhọn, gốc tròn hay nhọn, dài 12 – 15 cm, rộng 4 – 8 cm, mặt lá bóng, màu xanh lục nhạt. Hoa màu trắng, mọc thành ngù xim ở kẽ lá hoặc ở đầu cành. Quả đại, mọc từng đôi thành cung trông như sừng trâu. Mỗi đại màu nâu có vân dọc, dài 15 – 30cm, rộng 0,2 – 0,25cm, màu nâu nhạt, đáy tròn, đầu hơi hẹp, lõm một mặt, trên mặt có đường mặt có đường màu trắng nhạt, chùm lông của hạt màu hơi hung hung dài 2 – 4,5cm. Toàn cây có nhựa mủ.
Phân bố
Cây mọc hoang phổ biến ở các tỉnh miền núi và trung du như Bắc Giang, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hòa Bình, Gia Lai, Kon Tum, Sông Bé, Tây Ninh, Đồng Nai… nhưng có nhiều nhất ở Đắc Lắc và Nghệ An.
Cây còn mọc ở Ấn Độ, Myanma, Thái Lan, Malaixia.
Bộ phận dùng
- Vỏ thân cây đã cạo bỏ lớp bần phơi hay sấy khô, thu hái vào mùa khô.
- Hạt.
Vi phẫu vỏ thân
Lớp bần. Tầng sinh bần. Lục bì. Mô mềm vỏ mỏng màu nâu đỏ thẫm. Lớp libe cấp 2 rất dày, trong đó có xen kẽ nhiều đám tế bào mô cứng, xếp thành nhiều tầng và có các ống nhựa mũ. Bên cạnh mỗi đám sợi có tinh thể calci oxalat hình khối. Tia ruột gồm một đến hai lớp tế bào chạy dài theo hướng xuyên tâm ,màng mỏng. Tầng sinh libe-gỗ.
Bột vỏ thân
Tế bào mô cứng rời hay xếp thành từng đám, có màu vàng nhạt, hình nhiều cạnh, màng hơi dày, khoang rộng có ống trao đổi rõ dài từ 60 đến 80 μm, rộng 40 đến 50 μm. Mảnh mô mềm gồm những tế bào hình đa giác, màng mỏng. Tinh thể calci oxalat hình khối chữ nhật, dài khoảng 40 μm, rộng khoảng 30 μm. Mảnh bần màu nâu nhạt gồm những tế bào nhiều cạnh, thành dày, khoang hẹp. Hạt tinh bột có rốn rõ.
Thành phần hóa học.
Vỏ thân chứa 9,5% gôm, 6,2 % chất nhựa, 1,14% tanin và nhiều alcaloid. Hàm lượng alcaloid thay đổi tùy theo sự phát triển của cây, cao nhất vào lúc cây 8-12 tuổi .
Hàm lượng alcaloid toàn phần: 0,22-4,2% trong vỏ. Cho tới nay đã tìm thấy 45 alcaloid, trong đó có conessin là alcaloid chính và nhiều alcaloid phụ khác như:  conessin (C23H28N2), isoconessimin (C23H38N2), conarimin (C21H34N2), conimin (C22H36N2), conamin (C22H36N2), holarimin (C21H34N2O), holarenin (C24H38ON2), conkurchin (C21H32N2), conessidin (C22H34N2)… Các chất khác : Gôm, nhựa, tanin, triterpen alcol, lupeol và sitosterol.

conessin
Chất Conessin có tinh thể hình lăng trụ (kết tinh trong aceton), điểm chảy: 1250C, [α]D = -1,90 (trong CHCl3) và + 21,6o(trong C2H5OH)
Gần đây nhóm tác giả người Pháp cùng Khương Hữu Quý đã phân lập được từ vỏ 3 cardenolid : nor-mitiphyllin, holarosin A và B.
Kiểm nghiệm
1 Định tính.
-   Lấy 1g bột dược liệu, thấm ẩm với amoniac đậm đặc, thêm 10 ml chloroform thỉnh thoảng lắc và sau 2 giờ lọc. Cho dịch lọc vào bình gạn, lắc với 3ml dung dịch HCl 1N. Để yên, gạn lấy nước lớp dịch chiết acid, chia đều vào 3 ống nghiệm.
+ Ống 1: Nhỏ một giọt thuốc thử Dragendorff sẽ có tủa đỏ gạch.
+ Ống 2: Nhỏ một giọt thuốc thử Mayer sẽ có tủa vàng nhạt.
+ Ống 3: Nhỏ một giọt thuốc thử Bouchardat sẽ có tủa nâu.
-   Lấy 1g bột dược liệu lắc với 5ml methanol, lọc vào một chén sứ rồi cho vào đó 1ml HCl đậm đặc, cô cạn, thêm 5-6 giọt H2SO4 đặc sẽ xuất hiện màu tím, thêm vài giọt nước cất thì màu tím bền hơn.
-   Lấy 5 gam bột dược liệu, thấm ẩm bằng 5 ml amoniac đậm đặc, thêm 30ml chloroform, lắc 15 phút, lọc. Cho dịch chiết chloroform vào bình gạn, thêm 10ml H2SO42 %, lắc và gạn lấy dịch chiết acid, kiềm hóa bằng amoniac đậm đặc cho đến pH = 9 trong bình gạn. Thêm 15 ml chloroform, lắc. Gạn lấy lớp chloroform vào một chén sứ và làm khan bằng Na2SO4 khan, cho bốc hơi tới khô. Chiết cắn bằng ether dầu hỏa 2 lần, mỗi lần 5 ml. Bốc hơi ether dầu hỏa trong chén sứ, thêm 10 giọt thuốc thử Erdmann sẽ xuất hiện màu vàng chuyển sang màu xanh lục.
2 Định lượng :
 Cân chính xác khoảng 5 g bột dược liệu, thấm ẩm bằng 5 ml dung dịch NaOH 1N. Để yên 1 giờ, sau trải ra và để chỗ thoáng cho khô rồi cho vào bình soxhlet chiết bằng hỗn hợp dung môi ethanol- chloroform [1: 3] cho đến hết alcaloid (khoảng 3 giờ). Lắc dịch chiết này với dung dịch HCl 2N 5 lần (2 lần đầu mỗi lần 20ml, 3 lần sau mỗi lần 10ml). Tập trung các dịch chiết acid và kiềm hóa từ từ bằng amoniac đậm đặc cho đến pH =9. Chiết lại bằng cách lắc 5 lần 20, 20, 10, 10 và 10 ml chloroform. Trước khi chiết lần cuối cùng thêm 1ml dung dịch NaOH 2N. Lấy 10 ml nước cất cho vào bình gạn, rửa lần lượt từng dịch chiết chloroform một, rửa như vậy 2 lần. Tập trung các dịch chiết chloroform, thêm chính xác 20ml dung dịch H2SO40,1 N và lắc kỹ 5 phút. Gạn dịch acid vào bình nón, rửa dịch chloroform 2 lần, mỗi lần với 10 ml nước cất và gộp nước rửa vào dịch acid trong bình nón. Thêm 3 giọt chỉ thị hỗn hợp và chuẩn độ acid thừa bằng dung dịch NaOH 0,1 N cho tới khi dung dịch chuyển sang màu xanh nhạt.
Song song tiến hành kiểm tra mẫu trắng: Lấy chính xác 20ml dung dịch H2SO4 0,1 N, thêm 20ml nước và 3 giọt dung dịch chỉ thị hỗn hợp, chuẩn độ bằng dung dịch NaOH 0,1N.
1ml dung dịch H2SO40,1N tương ứng với 0,017829 g alcaloid toàn phần tính theo conessin.
Hàm lượng phần trăm alcaloid toàn phần (X%) của dược liệu tính theo công thức

X% =  (n-n’).1,782/P
           n’: số ml dung dịch NaOH 0,1 N dùng cho mẫu trắng .
           n : số ml dung dịch NaOH 0,1 N dùng cho mẫu thử.
           P : khối lượng dược liệu tính bằng g (đã trừ độ ẩm).
Dược điển Việt Nam II quy định dược liệu phải chứa ít nhất 1,0% alcaloid toàn phần tính theo conessin và tính theo dược liệu khô kiệt.
Đối với conessin có thể định lượng bằng phương pháp so màu, theo nguyên tắc: Chiết lấy riêng conessin từ dược liệu rồi cho tác dụng với một lượng dư acid silicovonframic để tạo tủa silicovonframat alcaloid. Tách tủa ra, cho titan (III) clorid tác dụng với thuốc thử dư tạo ra dung dịch có màu xanh, đo cường độ màu, tính ra lượng thuốc thử đã kết hợp với alcaloid, rồi suy ra lượng alcaloid.
Cũng có thể định lượng conessin trong dược liệu bằng phương pháp HPLC.
Ghi chú :
1.   Thuốc thử Erdman: Cho 10 giọt acid nitric đậm đặc (TT) vào 100ml nước cất, thêm 20ml H2SO4 đậm đặc (TT).
2.   Chỉ thị hỗn hợp: Trộn 13ml dung dịch xanh methylen (0,15g trong 100 ml ethanol) với dung dịch đỏ methyl (0,04 g đỏ methyl hòa tan với 70ml ethanol và 25ml nước ) cho vừa đủ 100ml.
Tác dụng và cộng dụng
Conessin là hoạt chất chính của cây mức hoa trắng. Conessin ít độc, với liều cao gây liệt trung tâm hô hấp. Nếu tiêm, nó có tác dụng gây tê tại chỗ nhưng lại kèm theo hiện tượng hoại thư do đó không dùng gây tê được. Entamoeba histolityca bị liệt bởi emetin ở nồng độ 1/200000, bởi conessin ở nồng độ 1/280000. Conessin bài tiết một phần qua đường ruột, một phần qua đường tiểu tiện. Conessin còn kích thích co bóp ruột và tử cung. Nó gây hạ huyết áp và làm tim đập chậm bằng đường tiêm tĩnh mạch súc vật thí nghiệm.
Trên lâm sàng, người ta dùng conessin hydroclorid hay hydrobromid chữa lỵ amip, hiệu lực như emetin nhưng ít độc và tiện dùng hơn emetin. Nó có tác dụng cả đối với kén và amip, hiệu lực như emetin nhưng ít độc và tiện dùng hơn emetin. Nó có tác dụng cả đối với kén và amip, còn emetin chỉ có tác dụng đối với amip. Hiện tượng không chịu thuốc rất ít hoặc không đáng kể.
Mực hoa trắng được dùng điều trị amip và ỉa chảy dưới dạng cao lỏng, bột, cồn thuốc, nước sắc vỏ thân hay hạt. Liều dùng: 10g vỏ thân phơi khô hoặc 3 – 6g hạt trong ngày, cao lỏng uống 1 -3 g, cồn hạt (1/5) uống 2 – 6 g/ngày.
Vỏ thân được dùng làm nguyên liệu chiết xuất alcaloid.
Viên Holanin do Viện dược liệu sản xuất là hỗn hợp nhiều alcaloid chiết từ vỏ cây mức hoa trắng (có 30% conessin dùng chữa lỵ).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.