Hiển thị các bài đăng có nhãn COUMARIN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn COUMARIN. Hiển thị tất cả bài đăng

MÙ U-Calophyllum inophyllum L., họ Măng cụt -Guttiferae(=Clusiaceae)

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

MÙ U
Semen calophylli
            Dược liệu là hạt cây mù u -Calophyllum inophyllum L., họ Măng cụt -Guttiferae(=Clusiaceae)
Đặc điểm thực vật
            Cây gỗ to cao 10-20m, đường kính 30-40cm .Vỏ cây tiết một chất nhựa màu vàng xanh. Lá thuôn dài, phía cuống thắt lại, đầu lá hơi tù, dài 15-17cm, mọc đối. Mặt lá láng bóng, có nhiều gân phụ khít nhau và gần như thẳng góc với gân giữa. Hoa lưỡng tính, mẫu 4, cánh hoa trắng, nhiều nhị vàng, thơm. Quả hạch hình cầu, đường kính 2-3cm, một hạt, lá mầm lớn chứa nhiều dầu. Khi chích vào thân ta được nhựa màu vàng. Cây mọc ở Bến Tre, Hậu giang, Tiền giang.
Thành phần hóa học
            Dầu của hạt cho một phân đoạn không tan trong cồn gồm các glycerid và một phân đoạn tan trong cồn. Phân đoạn này có tinh dầu, nhựa, calophyllolid, inophyllolid, calaustralin, acid calophyllic, acid calophynic, trong đó quan trọng nhất là calopphyllolid. các chất trên đều là dẫn chất 4-phenylcoumarin.
Tác dụng và công dụng
            Tác dụng chống viêm của calophyllolid đã được R.C. Sanexa và cộng sự chứng minh (Planta medica 1982 vol 44 tr, 246-248).Liều có tác dụng chống viêm bằng đường uống đối với chuột là 140mg/kg thể trọng.
            Calophyllolid cũng có tác dụng chống đông máu giống như dicoumarol.
            Dầu mù u tinh chế đã được bào chế thành các chế phẫm dùng ngoài có tác dụng làm chóng lành sẹo, chóng lên da non, chữa phỏng do lửa, nước sôi, acid hoặc bôi để chữa hủi.
            Nhựa cây dùng làm thuốc chữa bệnh ngoài da.
www.duoclieu.org 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

SÀI ĐẤT-Wedelia calendulacea Less.

SÀI ĐẤT
Herba Wedeliae
            Dược liệu là bộ phận trên mặt đất của cây sài đất -Wedelia calendulacea Less., họ Cúc -Asteraceae.
Đặc điểm thực vật
            Sài đất là một loài cỏ sống dai, mọc bò. Thân lan tới đâu thì mọc rễ ở đấy, có thể cao hơn 50cm. Thân và lá có lông ráp. Lá gần như không cuống, mọc đối, hình bầu dục thon, hai đầu hơi nhọn, có lông cứng cả 2 mặt. Mép có răng cưa to và nông. Lá tươi vò có mùi như trám và để lại màu xanh đen ở tay, lá có thể ăn như rau húng nên nhân dân có nơi gọi là húng trám. Cụm hoa hình đầu màu vàng, có cuống dài 5-10cm mọc ở kẽ lá hay ngọn cành. Cây sài đất trước đây mọc hoang, hiện nay được trồng tại nhiều nơi ,trồng bằng những mẩu thân, rất dễ sống. Đừng nhầm lẫn với cây lá lưỡi -Lippia nodiflora L., họ Cỏ roi ngựa - Verbenaceae và cây sài lan -Tridax procumbens L. họ Cúc - Asteraceae
Thành phần hóa học
            Cây chứa 1 ít tinh dầu, nhiều muối vô cơ, có vị mặn (độ tro toàn phần đến 20%) Một dẫn chất thuộc nhóm coumestan là wedelolacton đã được biết .

Vi phẫu:
Lá: biểu bì trên và dưới có lông che chở đa bào chứa nang thạch, biểu bì dưới có nhiều lỗ khí. Sát biễu bì, trong phần gân giữa có hai đám mô dày góc. Một bó liber gỗ to nằm giữa.
Bột: màu lục xám, vị hơi mặn. Lông che chở đa bào, chứa nang thạch, đầu nhọn, gốc phình, bề mặt sần sùi, xung quanh gốc có các tế bào biểu bì xếp thành hình hoa thị. Các mảnh biểu bì có thành ngoằn ngoèo mang lông che chở và lỗ khí. Các mảnh mạch chấm. Các đặc điểm của hoa như mảnh cánh hoa, hạt phấn ... hầu như rất ít gặp trên dược liệu thu mua.
Định tính (theo Dược điển VN)
            Cắt nhỏ 5g dược liệu cho vào bình, thêm 50ml cồn, lắc đều. Để qua đêm, lọc. Cô cách thủy dịch lọc còn 5-6ml (dung dịch A).
            1ml dung dịch A thêm 3 giọt HCl đậm đặc và một ít bột kẽm. Đun sôi. Dung dịch từ màu xanh sẽ chuyển sang màu đỏ da cam.
            1ml dung dịch A thêm 1-2 ml dung dịch natri carbonat 10%, thêm 3-4ml nước. Đun sôi, để nguội rồi thêm 3 giọt thuốc thử Diazo sẽ xuất hiện màu đỏ thắm. Đem dung dịch kiềm hóa bằng 1 giọt natri hydroxyd 10%, dung dịch chuyển sang vàng.
            Có thể dựa vào sự hòa tan khác nhau khi mở vòng và đóng vòng lacton (xem phần đại cương).
Tác dụng và công dụng
            Invitro thấy tác dụng kháng khuẩn của sài đất thấp nhưng thực tế trên lâm sàng thấy có tác dụng chữa khỏi những bệnh viêm nhiễm .
            Wedelolacton có tác dụng estrogen.
            Cây không có độc tính.
            Sài đất dùng để chữa những bệnh viêm nhiễm như viêm tuyến sữa, viêm bàng quang, viêm tai mũi họng, mụn nhọt, lở loét , phòng và chữa rôm sẫy.
            Dùng tươi: 100g rửa sạch, giã hoặc xay (bằng máy xay hoa quả ), ép lấy nước uống, bã dùng đắp nơi sưng đau, có nơi còn dùng nấu canh ăn để chữa bệnh.
            Có thể chế thành sirô một mình sài đất hoặc phối hợp với kim ngân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

QUẢ AMMI VISNAGA-Fructus Ammi Visnagae

QUẢ AMMI VISNAGA
Fructus Ammi Visnagae
            Dược liệu là quả của cây Ammivisnaga (L.) Lam., họ Hoa tán -Apiaceae.
            Cây này không có ở nước ta. Cây mọc ở vùng Địa trung hải, chủ yếu ở Ai cập, Algeri, Maroc.
            Quả chứa một ít tinh dầu và đặc biệt có 2 nhóm hoạt chất:
            1) Furanochromon chủ yếu là khelin và 1số chất khác .
            2)Dihydropyranocoumarin,đáng chú ý là visnadin có trong hỗn hợp gọi là “Visnagan”.
Tác dụng và công dụng
            Mặc dù là 2 thành phần khác nhóm cấu trúc nhưng khelin và visnadin có tác dụng chống co thắt rất tốt. Khelin và “ Visnagan” đã được chiết xuất sử dụng làm thuốc chữa hen, ho, đau thắt vùng ngực, thường phối hợp với papaverin hoặc với các thuốc kháng histamin.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

SÀ SÀNG-giần sàng - Selinum monnieri L. (= Cnidium monnieri Cusson.)

SÀ SÀNG
Fructus Selini
            Dược liệu là quả cây sà sàng hay còn gọi là giần sàng - Selinum monnieri L. (= Cnidium monnieri Cusson.), họ Hoa tán - Apiaceae
Đặc điểm thực vật
            Loại cỏ sống hàng năm cao 0,40-1m. Thân mềm màu xanh, có các rãnh dọc. Lá hai lần xẻ lông chim, chiều rộng của mỗi thùy 1-1,5mm, cuống lá dài 4-8cm. Bẹ lá ngắn.
            Hoa mọc thành tán kép. Vì cụm hoa nhìn từ trên xuống giống cái giần, cái sàng gạo nên còn có tên là cây giần sàng. Bao chung có ít lá bắc. Hoa nhỏ màu trắng. Quả đóng nhẵn màu vàng xẫm dài 2-5mm, rộng 1-5mm. Mỗi phân quả có 5 cạnh lồi rõ. Cây có ở nước ta, mọc dại ở các bãi hoang. Thu hái vào tháng 6-8, cắt cả cây phơi, đập lấy quả, loại tạp chất và phơi lại cho thật khô.
Thành phần hóa học
            Hàm lượng tinh dầu trong quả trên 1%. Thành phần của tinh dầu chủ yếu là l.pinen, l.camphen, bornylisovalerianat. Thành phần coumarin chủ yếu là osthol (I) ngoài ra còn có các chất sau:
            Columbianetin(=dihydroorozelol)(II) 0,035%; columbianadin (III) 0,20%; 0-acetyl columbianetin 0.021% (IV); O-isovaleryl columbianetin 0,010 % (V) ; O-iso butryl columbianetin (= cinidiadin) 0,004% (VI); archangellicin 0.0012 % (VII)
            Edultin 0,073%(VIII); 4/-isobutryloxy-0-acetyl columbianetin 0.081% (IX); isopimpinellin 0,026% (X) ; bergapten 0,097% (công thức xem phần đại cương).
(II)  R= H
(III) R=  COC(CH3)=CH(CH3)
(IV) R= COCH3
(V)  R= COCH2CH(CH3)2
(VI) R= COCH(CH3)2


(VII)  R = R1= COC(CH3)=CH(CH3)
(VIII) R= COC(CH3)=CH(CH3), R1= COCH3
(IX)    R= COCH(CH3)2, R1= COCH3

Công dụng
            Y học cổ truyền dùng làm thuốc chữa trị khí hư, viêm loét âm đạo, nam giới bị liệt dương, di tinh, mộng tinh, hoạt tinh, tai ướt ngứa, lòi dom ,đau khớp, phong thấp, nhiễm trùng ngoài da. Sà sàng đã được ghi vào dược điển Việt nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

TIỀN HỒ-Peucedanum decursivum Maxim.

TIỀN HỒ
Radix Peucedani
            Dược liệu là rễ phơi khô của cây tiền hồ Peucedanum decursivum Maxim. hoặc Peucedanum praeruptorum Dunn. , họ Hoa tán - Apiaceae.
Đặc điểm thực vật
            Cây thuộc thảo mọc thẳng đứng có thể cao đến 1,5m, thân có các rãnh dọc. Lá xẻ 2 lần lông chim, phiến lá dài 14-30cm có bẹ lá phồng và rộng. Lá càng lên phía trên càng nhỏ và cuống ngắn lại. Cụm hoa tán kép. Loài P.decursivum hoa màu tím loài P. praeruptorum hoa màu trắng quả hình bầu dục cụt hai đầu, dài 5-7mm, rộng 3-5mm chia làm 2 phân quả .
Địa lý và thu hái
            Có ở Trung quốc ở nhiều tỉnh nhưng tiền hồ ở Hàng châu coi là tốt nhất. Ở nước ta phát hiện thấy có ở Đồng đăng (Lạng sơn).
            Đào lấy rễ già vào thu đông, cắt bỏ gốc thân, rửa sạch, phơi hoặc sấy nhẹ cho khô .
Thành phần hóa học.
            + Tiền hồ hoa tím, thành phần hóa học có:
-  Tinh dầu
-  Các dẫn chất chất coumarin:
·      Nodakenin là một furanocoumarin, glycosid này khi thuỷ phân sẽ cho nodakenetin.
·      Ba dẫn chất khác thuộc nhóm dihydro 6:7 pyranocoumarin: decursin, decursidin, 3' isovaleroyl 4'-O-angeloyl 3',4'-dihydroxanthyletin; ngoài ra còn có umbelliferon.
+ Tiền hồ hoa trắng, thành phần hoá học có:
- Tinh dầu
- Các dẫn chất coumarin:
            Nodakenin
            Bốn dẫn chất A,B,C,D thuộc nhóm dihydro 7:8 pyranocoumarin

Định tính:
            Dương tính với các phản ứng mở -đóng vòng lacton đã trình bày trong phần đại cương.
            Thử theo dược điển Trung quốc: cho 5g bột dược liệu vào bình thêm 30ml ethanol, đun có ống sinh hàn đứng trong 10 phút, lọc. Lấy 2ml đem bốc hơi đến khô, thêm 1ml acid acetic băng để hòa tan cặn, sau đó thêm 5 giọt acetyl chlorid và vài hạt tinh thể kẽm chlorid rồi đun nóng trên nồi cách thủy trong 1-2 phút, có màu đỏ xuất hiện.
Tác dụng và công dụng :
            Thí nghiệm cho mèo uống nuớc sắc tiền hồ thấy tăng tiết dịch đường hô hấp và có tác dụng kéo dài.Tiền hồ có tác dụng làm giãn mạch vành.
            Tiền hồ dùng chữa khó thở,viêm đường hô hấp ho có nhiều đờm .
            Liều dùng 9-15g, dùng dưới dạng thuốc sắc chia làm 2-3 lần trong ngày .

Ghi chú:
            Trong một số loài khác như: P.morisonii Bess. P.ruthenicum L. thì thành phần có peucedanin. Ở Liên Xô cũ, người ta đã đưa vào lâm sàng thuốc viên mỗi viên chứa 0,005g peucedanin và thuốc bôi 0,5% để phối hợp làm tăng tác dụng trị ung thư của thuốc thiophosphatid. Cũng từ rễ tiền hồ này còn được chế biệt dược “Orangelin“ để làm thuốc chống co thắt các cơ trơn: ống dẫn mật, dạ dày, tá tràng...
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

BẠCH CHỈ-Angelica dahurica (Fisch. ex Hoffm.) Benth.et Hook.f.

BẠCH CHỈ
Radix Angelicae dahuricae
            Dược liệu là rễ phơi khô của cây bạch chỉ. Có hai thứ :
Angelicadahurica (Fisch. ex Hoffm.) Benth.et Hook.f.
Angelica dahurica (Fisch.ex Hoffm.) Benth.et Hook.f. var . formosana (Boiss) Shan et Yuan, họ Hoa tán -Apiaceae.
Đặc điểm thực vật.
            Cây thuộc thảo, thân rỗng, mặt ngoài màu tím hồng, phần dưới của thân nhẵn, phần trên chỗ gần cụm hoa thì có lông ngắn. Nếu để cây phát triển thì có thể cao đến 2m. Lá ở gốc to, có bẹ ôm lấy thân, phiến 2-3 lần xẻ lông chim, thùy hình trứng, mép có răng cưa. Cụm hoa tán kép.
Trồng trọt.
            Chúng ta đã di nhập trồng có kết quả ở một số tỉnh miền Bắc. Cây mọc tốt ở đồng bằng lẫn miền núi. Hạt giống thu hoạch ở cây mọc 2 năm; giữ cây giống ở vùng có khí hậu mát như Tam Đảo. Gieo hạt vào tháng 10,11. Bạch chỉ là cây ăn rễ sâu, cần cày sâu, bừa kỹ. Đánh luống, gieo hốc, mỗi hốc 10-15 hạt, tưới nước vì bạch chỉ thích ẩm. Khi cây cao 20-30 cm thì tỉa bớt còn vài ba cây ở mỗi hốc. Cần làm cỏ bón phân khi lá chưa phủ hết mặt luống. Nếu có bệnh đốm đen (trên lá có đốm đen) thì hái lá đốt đi hoặc phun dung dịch Bordeaux. Nếu có sâu bọ nhiều thì dùng thuốc trừ sâu để phun.
Chế biến.
            Rễ củ thu hoạch vào tháng 7-8. Thu hoạch khi trời khô ráo, lúc đào tránh sây sát vỏ hoặc làm gãy. Sau khi rửa sạch thì để ráo nước, cho vào lò xông sinh 1 ngày đêm rồi đem phơi hoặc sấy. Khi khô, xông sinh 1 lần nữa. Dược liệu hình củ cà rốt, đầu trên to dưới nhỏ dần, dài trung bình 10-15cm, đường kính có thể đến 3cm hoặc hơn. Dược liệu thịt trắng, ít xơ, mùi thơm, vị đắng là loại tốt. Khi dùng thì rửa sạch, ủ cho mềm, thái lát.
Vi phẫu: vi phẫu cắt ngang rễ có các đặc điểm: mô mềm vỏ có khuyết, nhiều ống tiết nằm chủ yếu trong phần liber.
Bột: Màu trắng ngà, thơm, vị hơi cay. Soi dưới kính hiễn vi thấy: các mảnh mô mềm chứa tinh bột, nhiều hạt tinh bột được giải phóng ra ngoài tế bào, hạt tinh bột hình chuông, hình cầu có rốn hạt hình vạch, có nhiều hạt kép; các mảnh mạch; các mảnh bần gồm tế bào đa giác, màu vàng, thanh dày .
Thành phần hóa học
Ngoài tinh dầu, trong rể củ có các dẫn chất coumarin sau đã được biết:

R=
R1=

Byak-angelicin

OCH3  

Byak-angelicol

OCH3  

Oxypeucedanin

H


Imperatorin

H

Isoimperatorin

H

Phellopterin

OCH3  
Xanthotoxin
H
OCH3

Anhydrobyakangelicin

OCH3

Neobyakangelicol

OCH3  
            Trong số các dẫn chất coumarin nói trên, Byak-angelicin chiếm 0,2% và Byak-angelicol 0,2%.

Định tính:
            Cho 0,5g bột dược liệu vào ống nghiệm thêm 3ml ether, lắc 5 phút, để yên 20 phút. Lấy 1ml dịch ether, thêm 2-3 dung dịch hydroxylamin hydrochlorid 7% trong methanol và 2-3 giọt potassium hydroxid 20% trong methanol. Lắc kỹ, đun nhẹ trên nồi cách thủy, làm nguội rồi điều chỉnh pH đến 3-4 với acid hydrochloric rồi thêm 1-2 giọt dung dịch sắt ba chlorid trong ethanol, sẽ thấy màu đỏ tím xuất hiện. Ngoài ra có thể tiến hành thêm các phản ứng khác như đã trình bày trong phần đại cương.
Tác dụng và công dụng:
            Bạch chỉ có tác dụng làm hạ sốt, giảm đau. Liều nhỏ làm tăng huyết áp, mạch chậm, hơi thở kéo dài, liều cao có thể gây co giật, tê liệt toàn thân khi thí nghiệm trên súc vật. Bạch chỉ có tác dụng làm giãn động mạch vành .Tác dụng kháng khuẩn đối với một số vi khuẩn: Escherichia coli, Shigella dysenteriae và Salmonella typhi.
            Trong đông y dùng để chữa cảm sốt, nhức đầu, đặc biệt vùng trán, ngạt mũi do bị lạnh. Chữa đau nhức răng, bị thương tích viêm tấy. Chữa khí hư ở phụ nữ.
            Ngày dùng: 5-10g.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

MẦN TƯỚI-Eupatorium staechadosmum

MẦN TƯỚI
Herba Eupatorii staechadosmi
            Dược liệu là bộ phận trên mặt đất phơi khô hoặc tươi của cây mần tưới (còn gọi là mần tưới trắng ) -Eupatorium staechadosmum Hance, họ Cúc -Asteraceae.
Đặc điểm thực vật
            Cây thuộc thảo, cao trung bình 50 cm có thể đến 1m. Thân, cành nhẵn, phân nhiều nhánh. Lá mọc đối thuôn dài khoảng 10 cm rộng 2cm, đầu nhọn, có khía răng thưa, vò lá có mùi thơm đặc biệt. Hoa đầu hợp thành ngù, mỗi đầu gồm 5 hoa trắng hay hơi hồng, rất thơm. Cây được trồng rải rác trong một số vườn ở nông thôn các tỉnh miền Bắc.
Thành phần hóa học
- Các dẫn chất coumarin: coumarin chính danh (= benzo a pyron) và ayapin
- Các chất khác ở dạng lỏng: 2-hydroxy-4 methyl acetophenon(I) , 8,10, epoxy-9-acetoxy-thymol-angelat(II), 9-isobutyryloxy-8,10-dihydroxy thymol(III), 9-ange-loyloxy-8,10-dihydroxy-thymol(IV)
Công dụng
            Cây được dùng trong dân gian để làm thuốc xông phối hợp với các lá cây khác để giải cảm. Dùng khi bị chấn thương, mụn nhọt, lở ngứa ngoài da.Trong y học cổ truyền còn dùng để chữa bế kinh, kinh nguyệt không đều, phụ nữ sinh đẻ đau bụng do ứ huyết, phù.
            Ngày dùng 6-12g. Cây mần tưới trắng đã được ghi vào dược điển Việt Nam.
www.duoclieu.org

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

BA DÓT-Eupatorium ayapana Vent

BA DÓT
Herba Eupatorii ayapanae
            Dược liệu là bộ phận trên mặt đất phơi khô hoặc tươi của cây ba dót hoặc bả dột có nơi gọi là mần tươi tía - Eupatorium ayapana Vent., họ cúc-Asteraceae.
Đặc điểm thực vật.
            Cây thuộc thảo cao 30-50 cm. Thân tròn, đường kính 2-3mm. Đốt thân dài  4-5cm. Thân có màu tím nhạt. Lá mọc đối, phiến lá nguyên, mép hơi gợn sóng. Phiến lá gần cuống kéo thót lại. Lá dài 5-10 cm, rộng 1,5-2cm có 3 gân nổi rõ. Cuống lá ngắn, vò lá có múi thơm hắc. Hoa dạng đầu hợp thành ngù, hoa trắng hay phớt hồng.
Thành phần hóa học.
            Bộ phận trên mặt đất chứa các chất coumarin: ayapanin hay có tên khác là herniarin, chất thứ hai là ayapin. Trong tinh dầu có một số thành phần đã được xác định: thymolquinol dimethyether là thành phần chính, ngoài ra còn có methylthymyl ether và thymoquinon.
Tác dụng và công dụng
            Trên thực nghiệm ba dót có tác dụng làm hạ huyết áp và làm dãn mạch, chứng minh được kinh nghiệm trong dân gian dùng dược liệu trên để điều trị cao huyết áp. Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc. Nhân dân còn dùng lá ba dót để chống mọt khi bảo quản cau khô.
www.duoclieu.org
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

TÁC DỤNG VÀ CÔNG DỤNG CỦA COUMARIN

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

VII.TÁC DỤNG VÀ CÔNG DỤNG.
            Tác dụng đáng chú ý của các dẫn chất coumarin là chống co thắt, làm giãn nở động mạch vành mà cơ chế tác dụng tương tự như papaverin. Hàng loạt các chất coumarin tự nhiên cũng như tổng hợp đã được thí nghiệm. Người ta nhận thấy rằng đối với coumarin nhóm 1 nếu OH ở C-7 đuợc acyl hóa thì tác dụng chống co thắt tăng, gốc acyl có 2 đơnvị isopren (ví dụ geranyloxy) thì tác dụng tốt nhất. Đối với nhóm psoralen, nếu nhóm hydroxy,methoxy hay isopentenyloxy ở vị trí C-5 hay C-8 thì tăng tác dụng. Đối với nhóm angelicin, nếu có methoxy ở C-5 hay C-5 và C-6 cũng tăng tác dụng. Những dẫn chất acyldihydrofuranocoumarin và acyldihydropyranocoumarin thì tác dụng chống co thắt rất tốt, nhóm acyl ở đây tốt nhất là có 5 carbon nếu kéo dài mạch carbon thì tác dụng bị hạ thấp .
            Một số dược liệu được ứng dụng để khai thác tác dụng nêu trên như: rễ một loại Tiền hồ -Peucedanum morisonii Bess, hạt cà rốt - Daucus sativus, Ammi visnaga(L.) Lam .
            Tác dụng chống đông máu của coumarin cũng được biết từ lâu. Nhưng chú ý rằng tính chất này chỉ có đối với các chất có nhóm thế OH ở vị trí 4 và có sự sắp xếp kép của phân tử, ví dụ chất dicoumarol lần đầu tiên được phát hiện khi chất này sinh ra trong khi ủ đống các cây thuộc chi Melilotus và khi súc vật ăn thì bị bệnh chảy máu do làm giảm sự tổng hợp prothrombin. Hiện nay dicoumarol được chế tạo bằng con đường tổng hợp.
            Tác dụng như vitamin P (làm bền và bảo vệ thành mạch), ví dụ bergapten , aesculin, fraxin.
            Tác dụng chữa bệnh bạch biến hay bệnh lang trắng và bệnh vẩy nến. Tính chất này chỉ có ở những dẫn chất furanocoumarin như psoralen, angelicin, xanthotoxin, imperatorin.
            Tác dụng kháng khuẩn*. Nhiều dẫn chất coumarin có tác dụng kháng khuẩn, đặc biệt chất novobiocin là một chất kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng có trong nấm Streptomyces niveus.
            Một số có tác dụng chống viêm, ví dụ calophyllolid có trong cây mù u - Calophyllum inophyllum có tác dụng chống viêm bằng 1/3 oxyphenbutazon còn các chất calanolid là các dẫn chất coumarin có trong cây mù u - Calophyllum lanigerum thì gần đây được phát hiện thấy có tác dụng ức chế HIV.
            Ta cũng cần chú ý rằng các chất aflatoxin là những coumarin độc có trong mốc Aspergillus flavus có thể gây ung thư .


* Xem chương 5 - Dược liệu  chứa những chất  kháng khuẩn  thực vật bậc cao. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

SỰ PHÂN BỐ COUMARIN TRONG TỰ NHIÊN

VII. SỰ PHÂN BỐ TRONG TỰ NHIÊN.
            Coumarin có mặt trong nhiều họ thực vật .Dưới đây ghi một số họ cùng với một số chi.
Apocynaceae (Nerium)
Apiaceae (Angelica, Coriandrum, Daucus, Ferula, Pimpinella, Peucedanum,                                  Selinum...)
Araliaceae (Eleutherococcus)
Asteraceae (Artemisia, Eupatorium, Helianthus)
Euphorbiaceae (Euphorbia)
Fabaceae ( Melilotus, Glycyrrhiza)
Lamiaceae (Mentha, Salvia)
Loganiaceae (Gelsemium)
Malvaceae (Althea)
Oleaceae (Fraxinus)
Orchidaceae (Dendrobium)
Rosaceae (Crataegus, Prunus)
Rubiaceae (Randia)
Papaveraceae(Papaver)
Poaceae (Hordeum, Triticum, Zea)
Polypodiaceae (Polypodium)
Rutaceae (Citrus, Murraya, Ruta)
Saxifragaceae (Dichroa, Hydrangea)
Scrophulariaceae (Digitalis)
Solanaceae (Atropa, Capsicum, Datura, Lycium, Nicotiana, Scopolia, Solanum)
Thymelaceae (Daphne)
Tiliaceae (Tilia)
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

CHIẾT XUẤT COUMARIN


VI.CHIẾT XUẤT.
            Spath dựa vào sự đóng mở vòng lacton để chiết xuất một số coumarin. Trước hết là chiết coumarin bằng ether dầu hoặc bằng một dung môi hữu cơ khác. Tiếp theo, lắc dung môi hữu cơ với dung dịch natri hydroxyd. Tách riêng lớp kiềm rồi lại acid hóa, sau đó lại chiết lại với dung môi hữu cơ, bốc hơi dung môi rồi tinh chế.
            Đối với các dẫn chất coumarin có nhiều nhóm OH hoặc đối với coumarin glycosid thì chúng khó hòa tan trong dung môi hữu cơ, hơn nữa các phenolcoumarin rất dễ bị oxy hóa bởi không khí trong môi trường kiềm, các acyl coumarin cũng dễ bị cắt nhóm acyl trong môi trường kiềm nên phương pháp Spath cũng bị hạn chế. Trong trường hợp này nên chiết bằng các dung môi kém phân cực rồi tăng dần độ phân cực. Bốc hơi từng dung môi, kiểm tra sự có mặt của coumarin rồi tách riêng biệt từng dẫn chất coumarin bằng sắc ký cột. Dùng chất hấp phụ là silicagel, dung môi đẩy là CHCl3 + 2% aceton, hỗn hợp aceton -CH3COOH - H2O (90:10:1) hoặc dùng polyamid đẩy bằng MeOH với các độ cồn khác nhau .
            Để tinh chế có thể dùng phương pháp thăng hoa chân không.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH COUMARIN

V. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH COUMARIN :
1.Định tính.
            Các dẫn chất coumarin có nhóm OH phenol tự do sẽ cho màu xanh với thuốc thử FeCl3 .
            Dựa vào phản ứng ghép đôi với muối diazoni: cho vào ống nghiệm 1-2ml dịch coumarin trong cồn, thêm 3ml dung dịch NaCO3 2%. Đun cách thủy rồi để nguội, thêm vào dung dịch vài giọt thuốc thử diazo. Có thể dùng thuốc thử diazo của paranitroanilin hoặc của acid sulfanilic. Màu bền và màu thay đổi tùy theo cấu trúc từ vàng, cam , đỏ cam, hồng, đỏ .
            Vi thăng hoa để coumarin bám trên lam kính rồi cho tác dụng với 1 giọt dung dịch I + KI, soi kính hiển vi sẽ thấy có tạo thành tinh thể iodo coumarin màu nâu sẫm hoặc tím .
            Dựa vào độ tan khác nhau khi mở vòng và đóng vòng lacton: cho vào 2 ống nghiệm mỗi ống 1-2ml dịch chiết cồn từ dược liệu. Ống thứ 1 cho thêm 0,5 ml NaOH 10% rồi đun cách thủy cả 2 ống (ống có coumarin thường có màu vàng xuất hiện). Để nguội, thêm vào mỗi ống 4ml nước cất, nếu ống thứ 1 trong hơn ống thứ 2 nhưng sau đó acid hóa mà đục hoặc có kết tủa như ống thứ 2 thì sơ bộ xác định có coumarin.
            Dựa vào huỳnh quang tăng lên ở môi trường kiềm khi soi dưới ánh đèn tử ngoại. Nguyên nhân sau khi mở vòng lacton bằng kiềm thì coumarin tạo thành dẫn chất hydroxycinnamic ở dạng cis (acid coumarinic). Chất này dưới tác dụng của tia tử ngoại thì chuyển thành dạng trans (acid coumaric ) có huỳnh quang sáng hơn.
            Cách làm: nhỏ một giọt dung dịch có coumarin lên giấy thấm, nhỏ tiếp lên đó 1 giọt NaOH 5%, sấy nhẹ. Che ½ vết với đồng xu rồi chiếu tia tử ngoại trong vài phút sau đó cất đồng xu đi, sẽ thấy nửa hình tròn không che thì sáng hơn nửa vòng tròn bị che. Nếu tiếp tục chiếu thì độ sáng của ½ bị che sẽ sáng dần lên.
            Chuyển coumarin thành dẫn chất hydroxamic bằng cách cho tác dụng với hydroxylamin và kiềm, sau đó cho tác dụng tiếp với muối sắt III, sẽ tạo phức có màu.
            Cách làm: cho vài giọt dung dịch coumarin trong ether vào ống nghiệm, thêm 1 giọt dung dịch bão hòa hydroxylamin hydrochlorid trong cồn và một giọt KOH bão hòa trong cồn. Hỗn hợp được đun trên ngọn lửa nhỏ cho đến khi phản ứng bắt đầu, sẽ thấy có bọt nhỏ. Sau khi nguội, acid hóa hỗn hợp với HCl 0,5N rồi thêm 1 giọt FeCl3 1%, sẽ có màu tím đỏ .
2.Sắc ký.
            Để xác định các coumarin, thuận tiện nhất là tiến hành S.K.L.M.
·      Dịch chiết để chấm sắc ký: dịch chiết methanol
·      Chất hấp phụ:      L.M1 = Silicagel G.
L.M2 = Silicagel G trộn với 3 phần formamid-nước (1:2).Các bản kính đã tráng được làm khô 18 giờ ở nhiệt độ thường .
·      Dung môi khai triển :
D.M1 = Toluen-ethylformat-formic acid (50:40:10)
D.M2 = Benzen- aceton (9:1)
D.M3 = Benzen -ethylacetat (9:1)
D.M4 = Dibutyl ether
·      Hiện màu bằng cách phun dung dịch iod - kali iodid ( 0,2g iod và 0,4g KI trong 100ml nước ) hoặc soi dưới ánh đèn tử ngoại (365 nm)
Bảng phân tích S.K.L.M các coumarin (theo M. Luckner)


Các chất coumarin
hRf
Hiện màu

LM1/D.M1
LM1/D.M2
LM1/D.M3
LM2/D.M4


Aesculetin
46
0
0

lục xỉn
nâu
Nordalbergin
58
2
0

xanh oliu
nâu nhạt
Umbelliferon
59
27
9

xanh sáng
lục nhạt
Marmezin
56
18
3

vàng sáng
da cam đậm
Dalbergin
64
40
15

lục xám nhạt
lục nhạt
Xanthotoxol
63
22
6

lục xỉn
xanh đậm
Psoralen
69
75
47

xanh xám nhạt
tím-đỏ, gạch
Bergapten
68
75
42
31
xanh nhạt-lục
tím
Xanthotoxin
65
71
39
15
xanh nhạt-lục
đỏ gạch
Isopimpinelin
67
70
36
20
nâu nhạt
tím đậm
O-methyldalbergin
69
68
28

xanh da trời
vàng yến
Coumarin
71
78
53
22
vàng lục*
-
Herniarin
70
74
42

tím
xanh
Imperatorin
73
79
49
63
vàng nhạt-lục
vàng cam
Osthol
78
82
60

tím sáng
da cam đậm
Sphondin


17

xanh

Angelicin



63
vàng-lục*

Isobergapten



46
vàng nhạt

Pimpinellin



47
vàng

Phellopterin



70
nâu

* Huỳnh quang sau khi phun dung dịch KOH trong ethanol
            Những thuốc thử khác cũng đã được sử dụng để phát hiện coumarin trong sắc ký như KOH trong methanol, thuốc thử diazo, thuốc thử chlorosulphonic acid.
3. Quang phổ.
            Phổ tử ngoại của coumarin nhóm 1 thường có một băng rộng hấp thụ trong vùng 320-340 nm với log e trong khoảng 4,0. Băng hấp thu này gây ra là do hiệu ứng liên hiệp của nhóm carbonyl vòng lacton với nhân benzen và một băng hấp thu hẹp trong vùng 250-260 nm có cường độ hấp thu thấp hơn một chút. Sau đây là một số ví dụ :
Aesculin                                   
Coumarin -7-OCH3                  
Coumarin 5,7-dimethoxy             
Coumarin 5,7-dihydroxy              
Daphnetin                                   
Osthenol                                      
Scopoletin                                    
Skimmin                                      
227 (4,2) 251s(3,7) 298(3,8) 338(4,1)
243 (3,3) 253(3,3) 323(4,1)
220s(4,1) 250(3,8) 260(3,8) 330(4,2)
263 (3,9) 329(4,1)
258 (3,8) 335(4,1)
250s(3,6) 260(3,69) 330(4,19)
229 (4,2) 254(3,7) 299( 3,7) 346(4,1)
237s (3,5) 253s(3,3) 300s(4,0) 319(4,1)

Dung môi đo: EtOH
            Phổ tử ngoại của các furanocoumarin thường xuất hiện 1 băng rộng có hấp thu trong vùng 300 -310 nm, một băng hẹp trong vùng 250-270, còn có thể có 1 băng hẹp nữa ở vùng 220. Cường độ hấp thu các đỉnh cao dần về phía sóng ngắn. Sau đây là một số ví dụ:
Pimpenellin                   257 (4,3) 305 (4,0) 365s(3,1)
Angelicin                      253 (4,3) 300 (3,9) 330(3,6)
Psoralen                       245 (4,3) 250 (4,3) 290(4,0)
Dung môi đo:Dioxan

4. Định lượng:
- Dựa vào phương pháp oxy hóa bằng KMnO4 0,1N sau khi cất kéo bằng hơi nước ở áp suất giảm .
- Ưng dụng phương pháp đo màu sau khi làm các phản ứng màu ,ví dụ phản ứng kết hợp với các muối diazoni.
- Dựa vào phổ U.V hoặc phổ huỳnh quang (sau khi tách các vết bằng S.K.L.M)
- Dựa vào sắc ký lỏng cao áp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật