Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯỢC ĐIỂN T. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯỢC ĐIỂN T. Hiển thị tất cả bài đăng

TRƯ LINH-Polyporus-(Polyporus umbellatus (Pers.) Fries) họ Nấm lỗ (Polyporaceae)

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

TRƯ LINH

Polyporus

Hạch nấm phơi hay sấy khô của nấm Trư Linh (Polyporus umbellatus (Pers.) Fries) họ Nấm lỗ (Polyporaceae).

Mô tả

Dược liệu hình dải, gần hình cầu, hoặc khối dẹt, có khi phân nhánh, dài 5 - 25 cm, đường kính 2 - 6 cm. Mặt ngoài màu đen, xám đen hoặc nâu đen, nhăn nheo hoặc có mấu, bướu nhô lên. Thể nhẹ, chất cứng, mặt gãy màu trắng hoặc vàng nhạt, hơi có dạng hạt. Mùi nhẹ, vị nhạt.

Vi phẫu

Mặt cắt: Có các sợi nấm dày đặc, xen lẫn nhau. Lớp ngoài dày 27 - 54 mm, có các sợi nấm màu nâu, khó tách ra, các sợi nấm lớp trong không màu, ngoằn ngoèo, đường kính 2 - 10 mm; đôi khi có vách ngăn rõ, có các nhánh hoặc hạch phồng lên. Có nhiều tinh thể calci oxalat hình lăng trụ trong các sợi nấm, đa số có hình khối 8 mặt, hình nón kép tám mặt hoặc hình khối đa diện không đều, đường kính 3 - 60 mm, có khi tới  68 mm, đôi khi có những tinh thể hợp nhất lại.

Định tính

A. Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 10 ml dung dịch acid hydrocloric loãng (TT), đun sôi trong cách thuỷ khoảng 15 phút, khuấy đều, sẽ sinh ra chất nhớt.
B. Lấy một ít bột dược liệu, thêm một lượng vừa đủ dung dịch natri hydroxyd 20% (TT) khuấy đều sẽ có một thể vẩn, huyền phù.

Độ ẩm

Không quá 13% (Phụ lục 5.16, 1 g, 85oC, 4 giờ)

Tro toàn phần

Không quá 12% (Phụ lục 7.6).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa xuân thu. Lấy dược liệu về, loại bỏ đất cát, phơi khô.

Bào chế

Dược liệu đã loại tạp chất, ngâm tẩm với nước, rửa sạch, ủ mềm, thái lát dày, phơi khô.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng mát.

Tính vị, quy kinh

Cam, đạm, bình. Vào các kinh thận, bàng quang.

Công năng, chủ trị

Lợi thuỷ, thấm thấp. Chủ trị: Tiểu tiện không thông lợi, phù thũng, tiêu chảy, đái rắt, tiểu đục, đới hạ.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 6 - 12 g.

Kiêng kỵ

Bệnh nhân đau thận, phụ nữ có thai dùng phải cẩn thận.
Tỳ vị hư nhược mà không có thấp nhiệt thì kiêng dùng.

TRIẾT BỐI MẪU-Bulbus Fritillariae thunbergii-(Fritillaria thunbergii Miq.), họ Loa kèn trắng (Liliaceae)

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

TRIẾT BỐI MẪU

Bulbus Fritillariae thunbergii

Lá dự trữ đã phơi hay sấy khô của cây Triết bối mẫu (Fritillaria thunbergii Miq.), họ Loa kèn trắng (Liliaceae). Có 3 loại dược liệu Triết bối mẫu: Đại bối, Chu bối, Triết bối phiến.

Mô tả

Đại bối: Lá dự trữ bên ngoài của hành đặc hình bán nguyệt, cao 1 - 2 cm, đường kính 2 - 3,5 cm. Mặt ngoài  màu trắng đến vàng nhạt, phủ bột trắng, mặt trong màu trắng đến nâu nhạt. Chất cứng, giòn, dễ gẫy, mặt gẫy có màu trắng đến trắng ngà, nhiều tinh bột. Mùi nhẹ, vị hơi đắng.Chu bối: Thân hành hình cầu dẹt, cao 1 - 1,5 cm, đường kính 1 - 2,5 cm. Bên ngoài hơi trắng, hai vẩy ngoài dày, hình thận, dính vào nhau có chứa 2 - 3 vẩy nhỏ và có vết rõ của thân khô còn lại.Triết bối phiến: Những lát thái từ lá dự trữ ngoài vào trong của Triết bối mẫu có hình bầu dục hoặc hơi tròn, đường kính 1 - 2 cm, mặt cạnh có màu vàng nhạt, mặt bẻ có màu trắng hồng, nhiều tinh bột.

Soi bột

Màu trắng ngà. Soi kính hiển vi thấy: Nhiều hạt tinh bột đơn, hình trái xoan hoặc bầu dục, đường kính 6 - 56 mm, rốn dạng điểm hoặc hình khe ngắn, hình chữ V hoặc chữ U ở đầu nhỏ hơn, đa số có vân rõ, đôi khi thấy có hạt kép đôi. Tế bào biểu bì hình nhiều cạnh hoặc hình chữ nhật, vách hơi lồi, đôi khi trông rõ lỗ khí với 4 - 5 tế bào kèm. Tinh thể calci oxalat nhỏ, đa số dạng hạt, một số ít hình thoi, hình vuông hoặc hình que. Nhiều mạch xoắn, đường kính tới 18 mm.
Định tính
A. Nhỏ 2 - 3 giọt dung dịch iod (TT) lên mặt cắt ngang dược liệu sẽ có màu tía lam, viền trắng ở cạnh.B. Lấy 1 g bột dược liệu thô, thêm vào 20 ml ethanol 70% (TT), đun hồi lưu trong cách thuỷ 30 phút, lọc, bốc hơi dịch lọc đến cắn. Hoà tan cắn trong 5 ml dung dịch acid hydrocloric 1% (TT), lọc, cho  dịch lọc vào 2 ống nghiệm. Nhỏ vào ống nghiệm thứ nhất 3 giọt  thuốc thử Dragendorff (TT) sẽ có tủa màu da cam. Nhỏ vào ống nghiệm thứ hai 1-3 giọt acid silicotungstic (TT), sẽ có tủa bông trắng.C. Quan sát bột dược liệu dưới ánh sáng tử ngoại  ở bước sóng 365 nm, có huỳnh quang màu lục nhạt.
D. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 4.4).
Bản mỏng: Silicagel  có chứa  natri carboxymethyl celulose.
Dung môi khai triển: ethylacetat - methanol - amoniac đậm đặc (17: 2:1).
Dung dịch thử: Lấy 5 g bột dược liệu, cho thêm 2 ml dung dịch amoniac đậm đặc (TT) và 20 ml benzen (TT). Ngâm qua đêm, lọc, bốc hơi 8 ml dịch lọc đến khô. Hoà tan cắn trong 1ml cloroform (TT).
Dung dịch đối chiếu: Lấy 5 g bột Triết bối mẫu, tiến hành chiết như đối với dung dịch thử.
ch tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng  20 ml mỗi dung dịch chuẩn và dung dịch đối chiếu. Sau khi triển khai xong, lấy bản mỏng ra để khô ở nhiệt độ phòng rồi phun thuốc thử Dragendorff (TT). Sắc ký đồ của dung dịch thử phải cho các vết có cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 5 giờ).

Tạp chất

Không quá 0,5% (Phụ lục 9.4).

Tỷ lệ vụn nát

Qua rây có kích thước mắt ray 3,150 mm:  Không quá 5%  (Phụ lục 9.5).

Chế biến 

Thu hoạch vào đầu mùa hạ, khi cây héo, đào lấy dược liệu, rửa sạch, loại bỏ tạp chất, phân loại  theo kích thước. Loại to đem loại bỏ mầm chồi giữa gọi là Đại bối. Loại nhỏ không loại chồi giữa gọi là Chu bối. Cả hai loại  này, đều được trà sát để loại bỏ vỏ ngoài, rồi trộn với bột vỏ sò đã nung khô, để hút dịch nước củ chảy ra sau đó đem phơi hoặc sấy khô.Lấy triết bối mẫu (không kể to hay nhỏ), đem loại bỏ chồi giữa, thái lát dày khi còn tươi, rửa sạch, phơi khô, gọi là Triết bối phiến.

Bào chế 

Lấy Triết bối mẫu, loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ mềm, thái phiến, phơi khô hoặc đập thành vụn nhỏ.

Bảo quản

Để nơi khô, tránh mốc, mọt.

Tính vị, quy kinh

Khổ, hàn. Vào các kinh phế, tâm.

Công năng, chủ trị

Thanh nhiệt hoá đàm, thông uất khí, tán kết tụ. Chủ trị: Phong nhiệt, đàm nhiệt, ho phế ung, tràng nhạc, nhũ ung (viêm vú), nhọt độc.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 4,5 - 9 g, dạng thuốc bột, hoà bột vào nước sắc của thuốc thang để uống hoặc dùng dưới dạng  thuốc hoàn.

Kiêng kỵ

Không nên dùng chung với dược liệu loại Ô đầu.

TRẦM HƯƠNG (Gỗ) Lignum Aquilariae resinatum-(Trầm dó) (Aquilaria agallocha Roxb.)

TRẦM HƯƠNG (Gỗ)

Lignum Aquilariae resinatum

Gỗ có nhựa của cây Trầm hương (Trầm dó) (Aquilaria agallocha Roxb.) hay (Aquilaria crassna Pierre ex Lec.), hoặc của cây Bạch mộc hương (Aquilaria sinensis (Lour.) Gilg), họ Trầm (Thymelaeaceae).

Mô tả

Gỗ của cây Trầm dó: Dược liệu là những thanh hoặc mảnh, hình dạng không cố định, dài 10 - 20 cm, rộng 3 - 5 cm, có khi như thanh gỗ mục, rải rác có lỗ của sâu đục. Mặt ngoài lồi lõm, màu xám đất. Vết chẻ dọc màu nâu xám, thớ gỗ rõ. Chất rắn chắc, nặng, thả vào nước sẽ chìm hoặc nửa chìm nửa nổi. Đốt cháy có dầu chảy sùi ra, mùi thơm.
Gỗ của cây Bạch mộc hương: Dược liệu hình khối không đều, hình phiến hoặc hình mũ, có gỗ vụn, mặt ngoài lồi lõm, không phẳng, có vết dao chặt đẽo, có khi có lỗ hổng, có thể thấy nhựa màu nâu đen và bộ phận gỗ màu vàng nhạt, ở giữa có vân. Bề mặt xung quanh lỗ hổng  và những chỗ lõm xuống thường có vụn gỗ mục nát. Chất tương đối bền chắc, mặt bẻ gẫy như gai, phần lớn không chìm xuống nước. Thứ nặng chắc chứa nhiều dầu, có thể chìm xuống nước, mùi thơm sực nức, vị đắng.

Vi phẫu 

Gỗ của cây Trầm dó: Mạch gỗ rất to, thưa, đứng riêng lẻ hoặc dính liền 2 -3 mạch. Mô mềm gỗ tế bào nhỏ, xếp đều đặn, hoá gỗ nhiều. Tia ruột hẹp, gồm 1 -2 dãy tế bào. Sợi khó phân biệt với gỗ hoá mô cứng.
Gỗ của cây Bạch mộc hương: Tia gỗ có 1 - 2 hàng tế bào chứa đầy nhựa màu nâu. Mạch hình đa giác tròn, đường kính 42 - 128 mm, một số chứa nhựa màu nâu. Sợi gỗ hình đa giác, đường kính 20 - 45 mm, thành hơi dày và hoá gỗ. Libe ở giữa khoảng gỗ, dạng bầu dục dài, dẹt, hoặc dạng dây đai, thường giao nhau với tia gỗ, tế bào màng mỏng không hoá gỗ, bên trong chứa nhựa màu nâu;  rải rác có một ít sợi, một số tế bào mô mềm chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ.

Bột

Gỗ của cây Trầm dó: Màu nâu bẩn, mùi thơm. Soi kính hiển vi thấy: Tế bào mô mềm gỗ màng không dày lắm, có lỗ trao đổi. Mảnh sợi to nhỏ không đều, riêng lẻ hoặc từng đám. Mảnh mạch đồng tiền.

Định tính

Tiến hành vi thăng hoa cao trầm hương chiết xuất bằng ethanol sẽ có chất dạng dầu màu nâu vàng, hương thơm ngát. Nhỏ vào 1 giọt acid hydrocloric (TT) với một ít vanilin và 1 -2 giọt  ethanol (TT), sẽ dần dần  hiện ra màu đỏ anh đào, màu này sẽ thẫm lại sau khi để yên.

Độ ẩm

Không quá 14 % (Phụ lục 9.6).

Tạp chất

Phần gỗ mục và các  tạp chất khác: Không quá 4 % (Phụ lục 9.4).

Chất chiết được trong dược liệu bằng ethanol

Tiến hành theo phương pháp chiết nóng trong chuyên luận xác định chất chiết được trong dược liệu (Phụ lục 9.3). Dược liệu phải chứa không được ít hơn 15% chất chiết được bằng ethanol.

Chế biến 

Có thể thu hoạch Trầm hương quanh năm, chặt lấy gỗ có chứa nhựa cây, loại bỏ tạp chất và phần gốc không chứa nhựa, phơi âm can đến khô.

Bào chế 

Loại bỏ phần gỗ trắng khô, mục nát, chải rửa sạch, chẻ thành mảnh nhỏ, khi dùng giã vụn hoặc nghiền thành bột mịn, hoặc mài với nước, lấy bột phơi khô để dùng. Cũng có thể lấy Trầm hương đồ nóng cho mềm, thái lát mỏng cho vào thuốc sắc  hoặc nghiền nhỏ để dùng.

Bảo quản

Để nơi khô, mát, trong bao bì kín, tránh nóng.

Tính vị, quy kinh

Tân, khổ, vi ôn. Vào các kinh tỳ, vị, thận.

Công năng, chủ trị

Hành khí, chỉ thống, ôn trung ngừng nôn, thu nạp khí, bình xuyễn. Chủ trị: Ngực bụng trướng tức đau, vị hàn, nấc, thận hư, khí nghịch phát suyễn.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 1,5 - 4,5 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Dùng thuốc sắc nên cho vào sau. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Kiêng kỵ

Âm hư, hoả vượng không nên dùng.

THƯỜNG SƠN (Rễ) Radix Dichroae-(Dichroa febrifuga Lour.), họ Tú cầu (Hydrangeaceae)

THƯỜNG SƠN (Rễ)

Radix Dichroae

Rễ phơi hay sấy khô của cây Thường sơn  (Dichroa febrifuga Lour.), họ Tú cầu (Hydrangeaceae).

Mô tả

Rễ hình trụ, thường cong queo hoặc phân nhánh, dài 9 - 15 cm, đường kính 0,5 -2 cm. Mặt ngoài có màu vàng nâu, có sọc dọc nhỏ. Vỏ ngoài dễ bóc, chỗ bóc để lộ ra phần gỗ màu vàng nhạt. Chất cứng, khó bẻ gẫy, khi bẻ gẫy có bột bay ra. Mặt cắt ngang có màu trắng vàng, tia có màu trắng, xắp xếp theo hướng xuyên tâm. Không mùi, vị đắng.

Vi phẫu 

Lớp bần gồm vài hàng tế bào. Vỏ mỏng, có vài tế bào chứa khối nhựa hoặc tinh thể calci oxalat hình kim. Dải libe hẹp, có nhiều tinh thể calci oxalat hình kim. Tầng phát sinh libe - gỗ thành vòng lượn sóng không đều, gỗ chiếm phần chủ yếu (tất cả đều hoá gỗ). Tia gỗ rộng, hẹp khác nhau. Mạch hình nhiều cạnh, rải rác, đơn lẻ hay tập hợp lại, một số có chứa thể nút màu vàng. Tế bào mô mềm chứa hạt tinh bột.

Định tính

Lấy 2 g bột dược liệu, thêm 10 ml ethanol 70% (TT), đun hồi lưu trong cách thuỷ 15 phút, để nguội, lọc. Bốc hơi dịch lọc đến khô, cho thêm 2 ml dung dịch acid hydrocloric 1% (TT) vào cắn, khuấy và lọc. Nhỏ 2 giọt  thuốc thử  Dragendorff (TT) vào dịch lọc, sẽ có tủa màu đỏ nâu.    

Độ ẩm

Không quá 12% (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 5 giờ).

Chế biến 

Thu hoạch vào mùa thu, đào lấy rễ, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Bào chế 

Bỏ tạp chất, phân loại rễ to, nhỏ, ngâm nước, ủ mềm, thái lát mỏng phơi hoặc sấy khô.
Sao tửu Thường sơn (chế rượu): Rễ thái lát tẩm rượu cho ướt đều, ủ cho ngấm, sao nhỏ lửa đến khi rễ có màu vàng thẫm, lấy ra để nguội. 100 kg rễ Thường  sơn cần 10 lít rượu.

Bảo quản

Để nơi khô ráo, thoáng.

Tính vị, quy kinh

Khổ, tân, hàn, có độc. Vào các kinh phế, can, tâm.

Công năng, chủ trị

Triệt ngược, trừ đàm. Chủ trị: Sốt rét.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 5 - 9 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ý

Dược liệu có tác dụng phụ là gây nôn, không dùng quá liều, có thai phải dùng thận trọng.

THUỶ XƯƠNG BỒ-(Thân rễ)-Rhizoma-Acori calami-(Acorus calamus L. var. angustatus Bess), họ Ráy (Araceae)

THUỶ XƯƠNG BỒ (Thân rễ)

Rhizoma Acori calami

Thân rễ đã phơi khô được chế biến của cây Thuỷ xương bồ (Acorus calamus L. var. angustatus Bess), họ Ráy (Araceae).

Mô tả

Thân rễ hình trụ hơi dẹt, cong queo, có khi dài tới 1 m, phân nhánh ở phần đầu thân rễ, mỗi nhánh dài 5-8 cm. Bề dày thân rễ 0,5 - 2 cm. Mặt ngoài màu vàng nâu, mặt cắt ngang có lớp bần màu nâu, vòng nội bì rõ màu nâu nhạt nhiều chấm vàng (bó libe -gỗ) và lỗ khuyết nhỏ.

Vi phẫu

Vi phẫu cắt ngang có hình tròn hơi dẹt. Tỷ lệ giữa phần từ lớp bần đến vòng nội bì và từ nội bì vào trung tâm là 0,7: 1. Lớp bần có những tế bào hình chữ nhật màu hơi nâu, dễ bong ra. Phần mô mềm vỏ có nhiều khuyết, đường kính khuyết trung bình 102 mm, có nhiều bó sợi hình tròn, đường kính 102 mm. Nhiều tế bào chứa tinh dầu màu vàng nhạt. Nhiều hạt tinh bột đơn hoặc kép trong tế bào mô mềm. Sát vòng nội bì có một lớp bó libe - gỗ xếp thưa, mỗi bó đường kính trung bình 306 mm, ở giữa có các tế bào chứa các tinh thể calci oxalat bám sát ở bên ngoài các bó sợi. Vòng nội bì có một lớp tế bào hình chữ nhật.
Phần mô ruột: Sát vòng nội bì có một lớp bó libe-gỗ, kích thước tương tự nhau (306 mm) xếp đều đặn. Bên trong ruột cũng có các bó libe-gỗ sắp xếp không có quy luật.

Bột

Màu nâu nhạt, mùi thơm đặc trưng của Xương bồ. Soi kính hiển vi thấy: Nhiều hạt tinh bột đơn hoặc kép, đường kính 3-5 mm. Mảnh mô mềm gồm nhiều tế bào màng mỏng. Rải rác có sợi và một ít tinh thể calci oxalat hình nhiều cạnh. Tế bào chứa tinh dầu màu nâu nhạt. Mảnh bần gồm tế bào nhiều cạnh, màu nâu.

Độ ẩm

Không quá 12% (Phụ lục 9.6).

Tạp chất

Không quá 1% (Phụ lục 9.4).

Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 4.4).
Bản mỏng: Silicagel G đã hoạt hoá ở 1050C trong 1 giờ.
Dung môi khai triển: n-hexan- ethylacetat (85:15).
Dung dịch thử: Lấy phần tinh dầu sau khi định lượng (xem mục định lượng) hoà tan trong methanol (TT) thành dung dịch 5% (tt/tt).
Dung dịch đối chiếu: Lấy thân rễ Xương bồ, cất lấy tinh dầu,  hoà tan trong methanol để được dung dịch 5% (tt/tt).
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20 ml mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, để khô bản mỏng ngoài không khí, phun dung dịch  vanilin 2% trong methanol có acid sulfuric đặc.  Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.
(Ghi chú: Sắc ký cho 14 vết. Vết số 6 cho màu tím đậm, và diện tích lớn nhất, Rf = 0,44 tương ứng với hợp chất asaron).

Định lượng

Định lượng tinh dầu theo phương pháp "Định lượng tinh dầu trong dược liệu"  đối với tinh dầu nặng hơn nước (Phụ lục 9.2).
Dược liệu phải chứa ít nhất 2% tinh dầu.

Chế biến

Thu hái vào mùa xuân, thu. Đào lấy rễ già, rửa sạch, cho lên giàn và đốt lửa ở dưới để cháy hết các bẹ, rễ con và giảm thủy phần. Sau đó cắt thành từng đoạn dài 8 - 15 cm, cắt bỏ rễ con còn sót lại, phơi nắng hay sấy ở 50 - 60oC đến khô.

Bào chế

Lấy dược liệu khô, rửa sạch, ngâm qua, ủ mềm, bào hay thái lát, phơi khô hoặc sao khô.

Bảo quản

Để ở nơi khô, trong bao bì kín, tránh mốc, tránh ẩm, nóng.

Tính vị, quy kinh

Tân, ôn. Vào các kinh tâm, can, đởm.

Công năng, chủ trị

Khai khiếu, hóa đàm, giải độc, sát trùng, tán phong trừ thấp, khai vị. Chủ trị: Đàm nghịch, kinh giản, phong hàn tê thấp, viêm dạ dày mạn, chán ăn.
Dùng ngoài: Trị nhọt, lở ngứa, đắp nơi đau.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 3 - 8 g, dạng nước sắc hoặc hoàn tán.
Thường phối hợp với các vị thuốc khác.
Dùng ngoài: Lượng thích hợp.

Kiêng kỵ

Âm hư, hoạt tinh, ra nhiều mồ hôi không nên dùng.

THIÊN NAM TINH (Thân rễ)-Rhizoma Arisaematis-(Arisaema erubescens (Wall.) Schott.)

THIÊN NAM TINH (Thân rễ)

Rhizoma Arisaematis

 Thân rễ khô đã cạo vỏ ngoài của cây Thiên nam tinh (Arisaema erubescens (Wall.) Schott.), cây Dị diệp thiên nam tinh (Arisaema heterophyllum Bl.), hoặc cây Đông bắc Thiên nam tinh (Arisaema amurense Maxim.), họ Ráy (Araceae).

Mô tả

Thân rễ dạng củ hình cầu dẹt, dày 1 - 2 cm, đường kính 1,5 - 6,5cm. Mặt ngoài màu trắng hoặc nâu nhạt, tương đối nhẵn, bóng, một số củ lại nhăn nheo. Đỉnh còn vết lõm của gốc thân. Xung quanh có những chấm nhỏ là vết của rễ con. Có khi quanh vết lõm gốc thân có các chồi thân rễ nhỏ hình cầu dẹt. Chất cứng rắn, khó bẻ, mặt bẻ phẳng, màu trắng, có tinh bột, hơi có mùi cay nhẹ, vị cay tê.

Bột

Màu trắng, hạt tinh bột chủ yếu là hạt đơn, hình cầu hoặc hình trứng, đường kính 2 - 17 mm, rốn có dạng điểm, dạng kẽ nứt, có thể trông thấy lờ mờ đường vân tăng trưởng ở  các hạt lớn. Có ít hạt tinh bột kép do 2 - 12 hạt đơn hợp thành. Tinh thể calci oxalat hình kim dài 63 - 131 mm nằm rải rác hoặc thành bó trong tế bào chứa dịch nhày. Tinh thể calci oxalat hình lăng trụ có trong tế bào mô mềm, kèm theo những ống mạch đường kính  3 - 20 mm.

Độ ẩm

Không quá 14 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 5 giờ).

Tạp chất

Không quá 1 % (Phụ lục 9.4).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa thu, mùa đông, khi thân, lá khô héo, đào lấy thân rễ, loại bỏ rễ con, cạo vỏ ngoài, rửa sạch, phơi hay sấy khô.

Bào chế

Sinh thiên nam tinh: Loại bỏ tạp chất, rửa sạch làm khô.
Chế thiên nam tinh: Lấy Thiên nam tinh sạch, phân loại lớn, nhỏ, ngâm nước lạnh, mỗi ngày thay nước 2 - 3 lần. Số ngày ngâm căn cứ vào chất lượng dược liệu và cỡ củ to nhỏ. Ngâm đến khi nổi bọt trắng. Sau khi thay nước, cho thêm bạch phàn, cứ 100 kg thiên nam tinh cần 2 kg Bạch phàn. Sau khi ngâm 1 ngày lại thay nước, cho đến khi bổ ra, nhấm, lưỡi hơi có cảm giác tê thì lấy ra. Xếp đều củ vào nồi thành từng lớp cùng với các lát Sinh khương và Bạch phàn lót trong nồi, cho thêm nước (lượng thích hợp), đun sôi cho đến khi củ mềm (trong củ không còn lõi trắng). Nhặt bỏ gừng, phơi khô đến không dính tay (khô 4 hoặc 6 phần 10), thái lát mỏng, phơi hoặc sấy khô. Cứ 100 kg Thiên nam tinh cần 125 kg Sinh khương, 12,5 kg Bạch phàn.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng, tránh sâu, mọt.

Tính vị, quy kinh

Khổ, tân, ôn, có độc. Vào các kinh phế, can, tỳ.

Công năng, chủ trị

Táo thấp, hoá đờm, khu phong, ngừng co cứng, tán kết, tiêu thũng. Chủ trị: Ngoan đàm ho, phong tật chóng mặt, trúng phong đờm nghẽn, liệt mặt, bại liệt nửa người, động kinh, co giật, phá thương vong (uốn ván).
Dược liệu sống chỉ dùng ngoài trị ung thũng, rắn cắn, côn trùng cắn gây thương tổn.

Cách dùng, liều lượng

Thiên nam tinh chế: Ngày dùng 3 - 9 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.
Dùng ngoài: Tán bột, hoà với giấm hoặc rượu đắp nơi đau, lượng thích hợp.

Kiêng kỵ

Phụ nữ có thai dùng phải cẩn thận.

THẦN KHÚC-Massa medicata fermentata-Lục thần khúc

THẦN KHÚC

Massa medicata fermentata

Lục thần khúc

Thần khúc thường được chế biến từ một số vị thuốc đông y phối hợp với bột mỳ hoặc bột gạo, trộn đều, ủ kín cho lên mốc vàng rồi phơi khô thành bánh thuốc.

Công thức

Công thức Lục thần khúc thường có: Bột mỳ, bột Hạnh nhân, bột Xích tiểu đậu, nước ép cây Thanh hao, cây Thương nhĩ (ké), cây Dã liệu (nghể) tươi. Trộn đều, ủ kín cho lên mốc vàng, đem phơi khô. Thần khúc thường đóng thành bánh hoặc nắm thành từng thỏi, thời gian chế biến, sản xuất thần khúc tốt nhất vào mùa hè. Số vị thuốc chế thần khúc, lúc đầu chỉ có 6 vị, sau tăng dần lên tới 30 - 50 vị. 

Tính vị, quy kinh

Tân, cam, ôn. Vào các kinh tỳ, vị.

Công năng, chủ trị

Tiêu thực, hoà vị, hành khí, kiện tỳ, dưỡng vị, phát biểu, hoà lý. Chủ trị: Chữa ăn uống tích trệ, đầy trướng, nôn, ỉa chảy, đi lỵ phát nhiệt, cảm lạnh, cảm nắng. Ngoài ra còn làm lợi sữa

Cách dùng liều lượng

Ngày dùng 4 - 12 g, dạng thuốc sắc hay thuốc bột, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

THẠCH XƯƠNG BỒ LÁ TO-(Thân rễ)-Rhizoma Acori graminei macrospadici-(Acorus gramineus Soland. var. macrospadiceus Yamamoto Contr.), họ Ráy (Araceae)

THẠCH XƯƠNG BỒ LÁ TO (Thân rễ)

Rhizoma Acori graminei macrospadici

Thân rễ đã phơi khô của cây Thạch xương bồ lá to (Acorus gramineus Soland. var. macrospadiceus Yamamoto Contr.), họ Ráy (Araceae).

Mô tả

Thân rễ hình trụ dẹt, dài 20 - 35 cm, dầy 5 - 7 mm, đốt dài 7 - 8 mm, hoặc 1 cm về phía ngọn. Phía ngọn đôi khi phân 2 - 3 nhánh phụ, mỗi nhánh dài khoảng 5 cm, ở mỗi đốt có các rễ thưa và cứng. Khi khô vỏ thân rễ có màu nâu gỉ sắt. Thể chất cứng, vết bẻ có nhiều xơ. Thân rễ có mùi thơm đặc trưng của Xương bồ.

Vi phẫu

Thiết diện của thân rễ hình trái xoan. Tỷ lệ giữa phần từ lớp bần đến vòng nội bì và từ nội bì vào trung tâm là 2: 1.
Lớp bần gồm những tế bào màu hơi nâu. Phần mô mềm vỏ có nhiều bó sợi hình tròn, đường kính khoảng 102 mm. Nhiều bó sợi bên ngoài có tinh thể calci oxalat. Có nhiều tế bào chứa tinh dầu, kích thước khoảng 50 mm, Nhiều hạt tinh bột đơn hoặc kép. Sát vòng nội bì có một lớp bó libe gỗ xếp thưa. Mỗi bó có đường kính khoảng 336 mm. Libe ở hai đầu, gỗ ở giữa.
Vòng nội bì có một lớp tế bào hình chữ nhật. Phần mô ruột có nhiều bó libe gỗ. Gỗ ở ngoài, libe ở trong, có một vòng bó libe - gỗ thưa xếp sát vòng nội bì. Bên trong vòng nội bì có nhiều bó libe - gỗ xếp không có quy luật.

Soi bột

Bột hơi màu vàng, mùi thơm đặc trưng của Thạch xương bồ. Mảnh mô mềm gồm tế bào màng mỏng có nhiều hạt tinh bột đơn hoặc kép. Các tế bào chứa tinh dầu màu nâu nhạt. Nhiều đám sợi có tinh thể calci oxalat hình khối lăng trụ.

Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 4.4)
Bản mỏng: Silicagel G.
Hệ dung môi khai triển: n - hexan - ethyl acetat (85:15).
Dung dịch thử: Lấy phần tinh dầu sau khi định lượng (xem mục định lượng) hoà tan trong methanol (TT) thành dung dịch 5% (tt/tt).
Cách tiến hành: Chấm lên bản mỏng khoảng 20 ml dung dịch thử. Sau khi triển khai sắc ký, để khô bản mỏng ngoài không khí, phun dung dịch vanilin 2% trong methanol có acid sulfuric đặc (TT). Sắc ký đồ cho 15 vết. Vết số 7 cho màu tím đậm và diện tích lớn nhất và có giá trị Rf= 0,44 (tương ứng với hợp chất asaron).

Độ ẩm

Không quá 12% (Phụ lục 9.6)

Tạp chất

Không quá 1% (Phụ lục 9.4)

Định lượng

Tiến hành theo phương pháp định lượng tinh dầu trong dược liệu, đối với tinh dầu nặng hơn nước (Phụ lục 9.2). Hàm lượng tinh dầu không ít hơn 1,5%.

Chế biến

Thu hoạch vào mùa thu, đào lấy thân rễ, rửa sạch, loại bỏ rễ con, phơi khô.

Bào chế

Loại bỏ tạp chất, ngâm dược liệu trong nước cho mềm, cắt thành miếng, phơi khô.

Bảo quản

Để nơi khô, mát, tránh mốc mọt.

Tính vị, quy kinh

Tân, ôn. Vào các kinh tâm, can, tỳ.

Công năng, chủ trị

Thông khiếu, trục đờm, thêm trí nhớ, tán phong, khoan trung khử thấp, giải độc, sát trùng. Chủ trị: Bệnh phong điên giản, đởm tắc hôn mê, hay quên, mộng nhiều, phong hàn tê thấp, khí tắ, tai điếc, đi lỵ đau bụng không ăn được, sưng đau do sang chấn. Dùng ngoài, trị mụn nhọt, ghẻ lở chảy nước.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 2,5 - 5 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán, thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Kiêng kỵ

Âm hư, hoạt tinh, ra nhiều mồ hôi, không nên dùng.

THANH BÌ-Pericarpium Citri reticulatae viride-Citrus reticulata Blanco), họ Cam (Rutaceae)

THANH BÌ

Pericarpium Citri reticulatae viride

Vỏ quả non rụng hoặc vỏ quả chưa chín, phơi hay sấy khô của cây Quýt (Citrus reticulata Blanco), họ Cam (Rutaceae). Có 2 loại vỏ: Tứ hoa thanh bì và Cá thanh bì.

Mô tả

Tứ hoa thanh bì: Vỏ quả được bổ thành 4 miếng đến đáy gốc, 4 mảnh này hình thái không giống nhau, phần lớn cong vào phía trong, vỏ mỏng, hình bầu dục dài, chiều dài miếng 4-6 cm, dày 0,1-0,2 cm. Mặt ngoài màu lục xám hoặc màu lục đen, hơi ráp, có nhiều túi tiết, mặt trong màu trắng hoặc trắng vàng, ráp, có các gân trắng ngà hoặc nâu vàng nhạt. Chất hơi cứng, dễ bẻ gẫy, mặt cắt có 1-2 hàng túi tiết ở phần ngoài. Mùi thơm ngát, vị đắng, cay. Vỏ màu lục đen, mặt trong trắng nhiều tinh dầu là tốt.
Cá thanh bì: Gần hình cầu, đường kính 0,5-2 cm. Mặt ngoài lục xám hay lục đen, hơi ráp, có nhiều túi tiết nhỏ và chìm. Ở đỉnh quả có vòi nhụy hơi nhô lên, ở gốc quả có vết sẹo tròn của cuống quả. Chất cứng, mặt cắt màu trắng ngà hoặc màu nâu vàng nhạt, dày 1-2 mm, có 1-2 hàng túi tiết ở phần ngoài. Mùi thơm ngát, vị đắng cay.

Bột

Tứ hoa thanh bì: Bột màu lục xám hoặc nâu xám, nhiều tế bào mô mềm không đều nhau, thành hơi dày, một số dạng chuỗi hạt. Tế bào biểu bì vỏ quả hình đa giác hoặc hình gần vuông khi nhìn trên bề mặt, thành dày lồi lên. Tinh thể calci oxalat hình lăng trụ có trong tế bào mô mềm gần biểu bì, tế bào hình nhiều cạnh, hình thoi, hoặc vuông, đường kính 8-28 mm, dài 24-32 mm. Tinh thể hesperidin vàng nâu nhạt, hình bán cầu, tròn hoặc khối không đều. Mạch xoắn và mạch lưới nhỏ.
Cá thanh bì: Tế bào biểu bì của múi  cơm quả dài, hẹp, thành mỏng, một số hơi uốn lượn, có chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ kích thước tương tự như ở vỏ quả; cũng có tinh thể hesperidin.

Độ ẩm

Không qúa 12% (Phụ lục 9.6).

Định tính

A. Lấy 0,3 g bột dược liệu, thêm 10 ml methanol (TT), đun hồi lưu trên cách thuỷ 20 phút, lọc. Lấy 1 ml dịch lọc, thêm một ít bột magnesi (TT) và vài giọt acid hydrocloric (TT), màu đỏ anh đào sẽ hiện dần ra.
B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 4.4)
Bản mỏng: Silicagel G đã hoạt hoá ở 110 0C trong 30 phút.
Dung môi khai triển: Cloroform - methanol - acid acetic băng - butanol (13:0,4:0,1:0,1).
Dung dịch thử: Dùng 5 ml dịch lọc ở phản ứng A, cô trên cách thuỷ còn 1 ml.
Dung dịch đối chiếu: Dung dịch hesperidin bão hoà methanol. Nếu không có hesperidin, lấy 0,3 g bột Thanh bì rồi tiến hành chiết như dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 ml mỗi dung dịch thử và dung dịch đối chiếu. Triển khai sắc ký xong, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, phun dung dịch nhôm clorid 1% trong methanol (TT), quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365 nm. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải cho các vết có cùng màu và giá trị Rf với các vết trên sắc đồ của dung dịch đối chiếu.

Chế biến

Thu hoạch vào tháng 5-6, thu thập các quả quít non tự rơi rụng, rửa sạch, phơi khô (thường gọi là Cá thanh bì). Tháng 7-8 thu hái quả chưa chín rửa sạch, bổ dọc thành 4 mảnh vỏ dính nhau ở đáy quả, loại bỏ hoàn toàn ruột, phơi khô (thường gọi là Tứ hoa thanh bì).

Bào chế

Lấy thanh bì, loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ mềm, thái lát dày hoặc thành sợi, phơi khô.
Thố thanh bì (chế giấm): Trộn đều miếng hoặc sợi Thanh bì với giấm, cho vào nồi, sao nhỏ lửa đến có màu hơi vàng, lấy ra phơi khô. Cứ 100 kg Thanh bì dùng 15 lít giấm.

Bảo quản

Để nơi khô.

Tính vị, quy kinh

Khổ, tân, ôn. Vào các kinh can, đởm, vị.

Công năng, chủ trị

Sơ can, phá khí, tiêu tích, hoá trệ. Chủ trị: Ngực sườn đau trướng, sán khí, hạch vú, nhọt vú, thực tích đau bụng.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 6 - 9 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Kiêng kỵ

Người can huyết hư không có khí trệ thì kiêng dùng.

TAM LĂNG-Rhizoma Sparganii Sparganium stoloniferum Buch.- Ham.)

TAM LĂNG

Rhizoma Sparganii

Thân rễ phơi hay sấy khô của cây Hắc Tam lăng (Sparganium stoloniferum Buch.- Ham.), họ Hắc Tam lăng (Sparganiaceae).

Mô tả

Dược liệu hình nón, hơi dẹt, dài 2 - 6 cm, đường kính 2 - 4 cm. Mặt ngoài màu trắng ngà hoặc vàng xám, nhăn, sần sùi, có vết dao cắt và những đốm sợi, sẹo của rễ sợi nhỏ xếp theo vòng ngang. Chất rắn chắc, nặng. Không mùi, vị nhạt, nhấm hơi có cảm giác tê lưỡi.

Vi phẫu

Mô khí của vỏ gồm những tế bào mô mềm có nhánh, các đầu nhánh nối liền với nhau tạo thành những khoảng gian bào. Tế bào nội bì sắp xếp dày đặc. Tế bào mô mềm ở trụ tròn, thành hơi dày, chứa những hạt tinh bột, rải rác có những bó mạch đôi ở bên, mạch không bị hoá gỗ. Tế bào tiết rải rác trong vỏ và trụ chứa chất tiết màu đỏ nâu nhạt.

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 5 giờ).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa đông đến mùa xuân, đào lấy rễ, rửa sạch, cạo lớp vỏ ngoài, phơi khô.

Bào chế

Loại bỏ tạp chất, ngâm, ủ mềm, thái lát mỏng, phơi khô.
Thố Tam lăng (chế giấm): Lấy Tam lăng phiến, tẩm giấm, ủ mềm, sao đến khi màu biến thành thâm. Hoặc lấy Tam lăng sạch, luộc chín đến 5/10 đến 6/10, thêm giấm vào lại đun chín 8/10, ngừng cho nước (lúc này không nên còn nhiều nước), ngừng đun, đậy kín vung và ủ cho mềm. Ngâm xong, lấy ra phơi nắng cho vỏ ngoài ráo nước, thái thành phiến, phơi khô. Cứ 10 kg Tam lăng cần 1,5 lít giấm.

Bảo quản

Để nơi khô, tránh mọt.

Tính vị, quy kinh

Tân, khổ, bình. Vào các kinh can, tỳ.

Công năng, chủ trị

Phá huyết, hành khí, tiêu tích, chỉ thống. Chủ trị: Trưng hà bĩ khối, ngực bụng đầy, ứ huyết, kinh nguyệt bế tắc sau khi đẻ, đau bụng do thực tích.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 4,5 - 9 g, dạng thuốc sắc.

Kiêng kỵ

Phụ nữ có thai cấm dùng.

PHẤN TỲ GIẢI (Thân rễ)-Rhizoma Dioscoreae hypoglaucae

PHẤN TỲ GIẢI (Thân rễ)

Rhizoma Dioscoreae hypoglaucae

Thân rễ phơi khô của cây Phấn bối thự dự (khoai mài vai phấn) (Dioscorea hypoglauca Palibin), họ Củ nâu (Dioscoreaceae).

Mô tả

Dược liệu là phiến mỏng không đều, kích thước không đồng nhất, dày khoảng 0,5 mm. Vỏ ngoài màu đen hơi nâu hoặc màu nâu hơi xám. Mặt phiến màu trắng hơi vàng hoặc màu nâu hơi xám nhạt, có bó mạch rải rác. Chất xốp, hơi đàn hồi. Mùi nhẹ; vị hăng cay hơi đắng.

Vi phẫu

Mặt cắt ngang: Lớp bần gồm nhiều lớp tế bào. Vỏ hẹp, tế bào kéo dài ra theo đường tiếp tuyến, màng hơi dày, có lỗ rõ; tế bào nhầy rải rác, chứa tinh thể calci oxalat hình kim. Các bó mạch chồng chất và bó mạch bao quanh, rải rác trong trụ; các tế bào mô mềm thành hơi dày lên, có các lỗ, có chứa hạt tinh bột.

Soi bột

Màu trắng hơi vàng. Hạt tinh bột đơn hình tròn, hình trứng hoặc hình bầu dục dài, đường kính 5 - 32 mm, có khi tới 40 mm; rốn dạng điểm hay dạng khe, ít hạt kép, đa số là hạt kép đôi; nhiều tế bào mô cứng, màng hoá gỗ, có lỗ rõ, một số giống như tế bào đá hình nhiều cạnh, hình thoi hoặc hình gần chữ nhật, đường kính 40 - 80 mm, có khi tới 224 mm. Tinh thể calci oxalat hình kim dài 64 - 84 mm.

Định tính

Ngâm qua đêm 10 g bột dược liệu trong 100 ml nước rồi đun cách thuỷ ở 60oC, trong 10 phút. Lọc nóng. Cho vào ống nghiệm thứ nhất 2 ml dịch lọc, thêm 2 ml dung dịch natri hydroxyd (TT). Cho vào ống nghiệm thứ hai 2 ml dịch lọc, thêm 2 ml acid hydrocloric 5% (TT). Nút kín và lắc mạnh cả hai ống trong 1 phút, bọt trong ống dung dịch kiềm cao hơn bọt trong ống dung dịch acid.

Chế biến

Thu hoạch vào mùa thu, đông. Đào lấy thân rễ, loại bỏ các rễ con, rửa sạch, ngâm nước cho mềm đều, thái phiến, phơi hoặc sấy khô.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng, tránh ẩm mốc.

Tính vị, quy kinh

Khổ, bình. Vào các kinh thận, vị.

Công năng, chủ trị

Lợi thấp, trừ trọc, khu phong, trừ tê đau. Chủ trị: Cao lâm (chứng đái dưỡng trấp), bạch trọc, bạch đới quá nhiều, phong thấp tê đau, khớp xương đau khó cử động; thắt lưng, đầu gối đau.

Cách dùng, liếu lượng

Ngày dùng 9 - 15 g, dạng thuốc sắc.

TỲ GIẢI-Dioscorea septemloba

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

TỲ GIẢI
Rhizoma Dioscoreae

Thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây Tỳ giải (Dioscorea septemloba Thunb. hoặc Dioscorea futschauensis Uline ex R. Kunth), họ Củ nâu (Dioscoreaceae).

Mô tả
Phiến vát không đều, cạnh không đều, kích thước thay đổi, dày 2-5 mm. Mặt ngoài màu nâu hơi vàng hoặc đen hơi nâu, có rải rác vết cúa các rễ nhỏ, dạng hình nón nhô lên. Mặt cắt màu trắng hơi xám đến màu nâu hơi xám, các đốm màu nâu hơi vàng của các bó mạch rải rác. Chất xốp hơi có dạng bọt biển. Mùi nhẹ, không rõ rệt; vị hơi đắng.

Bột
Màu nâu hơi vàng nhạt, nhiều hạt tinh bột. Các hạt tinh bột đơn, hình trứng, hình bầu dục hoặc gần hình cầu, hình tam giác hoặc các loại hình bất định; một số hạt nhọn ở một đầu; một số có nhiều mắt hay mấu, đường kính 10 – 70 µm; rốn hạt là khe hình chữ V, hình điểm, đa số có vân không rõ. Tinh thể calci oxalat hình kim, xếp thành bó, dài 90 – 210 µm. các tế bào mô mềm hình bầu dục hoặc hình chữ nhật, thành hơi dày, có lỗ rõ rệt. Các tế bào bần màu vàng hơi nâu, hình nhiều cạnh, thành tế bào thẳng.

Định tính
Phương pháp sắc ký lớp mỏng.
Bản mỏng: Silica gel G .
Dung môi khai triển: Cloroform –  aceton (9 : 1).
Dung dịch thử: Lấy 2 g bột dược liệu, thêm 50 ml methanol (TT), đun hồi lưu trên cách thủy trong 1 giờ, lọc và bốc hơi dịch lọc đến cắn khô. Hòa cắn này vào 25 ml nước, rửa với 25 ml ether ethylic (TT) rồi bỏ dịch rửa ether này. Thêm 2 ml acid hydrocloric (TT) vào dung dịch nước, đun hồi lưu trên cách thủy trong 90 phút rồi để nguội, chuyển vào một bình lắng, chiết 2 lần bằng cách lắc với ether ethylic (TT), mỗi lần  25 ml. Gộp các dịch chiết ether, bốc hơi đến cắn khô. Hòa cắn trong 1 ml cloroform (TT) được dung dịch thử.
Dung dịch đối chiếu: Lấy  2 g bột Tỳ giải (mẫu chuẩn), tiến hành giống như phần chuẩn bị dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên cùng bản mỏng 10 µl các dung dịch trên. Sau khi khai triển xong, lấy bản mỏng ra, để khô tự nhiên ở nhiệt độ phòng, phun dung dịch acid phosphomolybdic (TT) rồi sấy ở 105 oC đến khi hiện rõ các vết. Trên sắc ký đồ, dung dịch thử phải có các vết tương ứng về màu sắc và giá trị Rf với các vết  của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm
Không quá 12% (1 g, 105 oC, 5 giờ)

Tro toàn phần
Không quá 6%

Tro không tan trong acid
Không quá 1%

Chất chiết được trong dược liệu
Không được ít hơn 15,0% tính theo dược liệu khô kiệt.
Tiến hành theo phương pháp chiết nóng. Dùng ethanol 96% (TT) làm dung môi.

Chế biến
Thu hoạch vào mùa thu, mùa đông. Đào lấy thân rễ, loại bỏ các rễ con, rửa sạch, thái phiến, phơi khô.

Bảo quản
Để nơi khô, tránh mốc.

Tính vị, quy kinh
Khổ, bình. Vào các kinh can thận, vị, bàng quang.

Công năng, chủ trị
Phân thanh trừ trọc, khu phong trừ thấp. Chủ trị: cao lâm (đái đục), bạch đới quá nhiều; sang độc do thấp nhiệt, đau lưng đầu gối.

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 9 -15 g, dạng thuốc sắc, phối hợp trong các bài thuốc.

Kiêng kỵ
Không dùng cho người âm hư hoả vượng, đau lưng do thận hư.

TỲ BÀ (Lá)-Nhót tây, Nhót Nhật bản-Eriobotrya japonica

TỲ BÀ (Lá)
Folium Eriobotryae
Nhót tây, Nhót Nhật bản

Lá phơi hoặc sấy khô của cây Tỳ bà (Eriobotrya japonica (Thunb.) Lindl.), họ Hoa hồng (Rosaceae).
Mô tả
Lá hình thuôn hay hình trứng dài, dài 12 – 30 cm, rộng 4 – 9 cm, chóp lá nhọn, gốc lá hình nêm, mép lá có răng cưa thưa hoặc nguyên về phía gốc lá. Mặt trên lá màu lục xám, màu vàng nâu hoặc màu đỏ nâu, tương đối nhẵn. Mặt dưới lá màu nhạt hơn, có nhiều lông nhung màu vàng, mọc dày. Gân lá hình lông chim, gân giữa lồi lên ở mặt dưới, gân bên có 15 – 20 đôi. Cuống lá rất ngắn, phủ lông mao màu vàng nâu. Lá dày, chất cứng, giòn, dễ bẻ gãy; không mùi, vị hơi đắng.

Vi phẫu
Tế bào biểu bì trên hình chữ nhật, bên ngoài là lớp cutin dày. Tế bào biểu bì dưới mang nhiều lông che chở đơn bào, thường bị cong, phần nhiều có hình chữ V gần gân giữa lá, lỗ khí nhìn thấy rõ. Mô giậu có 3 – 4 hàng tế bào, mô khuyết thưa, chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ, đôi khi cụm lại thành từng đám. Bó mạch của gân giữa gần như một vòng tròn. Sợi xếp thành vòng tròn không liên tục, vách hóa gỗ, bao quanh là các tế bào mô mềm có chứa các tinh thể calci oxalat hình lăng trụ hợp thành sợi tinh thể. Các tế bào chứa chất nhày và các tinh thể calci oxalat hình lăng trụ rải rác trong mô mềm.

Định tính
Phương pháp sắc ký lớp mỏng
Bản mỏng: Silica gel G 60F254
Dung môi khai triển: Cloroform - ethyl acetat (5 : 5)
Dung dịch thử: Lấy khoảng 2g bột dược liệu, tẩm ướt dược liệu bằng dung dịch ammoniac 10% (TT), khuấy đều, để yên 30 phút. Thêm 20 ml ethyl acetat (TT), đun hồi lưu trên cách thủy trong 10 phút, để nguội, lọc, để bay hơi dịch lọc còn khoảng 2 ml làm dung dịch thử.
Dung dịch đối chiếu: Lấy khoảng 2 g bột Tỳ bà (mẫu chuẩn), chiết như mẫu thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 μl dung dịch thử và dung dịch đối chiếu. Sau khi khai   triển xong, lấy bản mỏng ra để khô ở nhiệt độ phòng. Đem phun dung dịch vanillin 1% trong acid sulfuric (TT). Sấy bản mỏng ở 110 oC cho đến khi xuất hiện vết. Sắc ký đồ của dung dịch thử phải cho các vết có cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm
Không quá 13% (1 g, 80 oC, 3 giờ).

Tạp chất
Không quá 1%.

Tro toàn phần
Không quá 7%.

Tỷ lệ vụn nát
Qua rây có kích thước mắt rây 3,150 mm: Không quá 5%.

Chất chiết được trong dược liệu
Không dưới 10,0%, tính theo dược liệu khô kiệt.
Tiến hành theo phương pháp chiết nóng. Dùng nước làm dung môi.

Chế biến
Thu hái lá quanh năm, phơi gần khô, bó thành những bó nhỏ và phơi khô.

Bào chế
Tỳ bà diệp: Loại bỏ lông nhung, phun nước cho mềm, thái sợi và phơi khô.
Mật Tỳ bà diệp (chế mật): Mật ong hoà loãng bằng nước sôi, trộn đều Mật ong với Tỳ bà diệp thái sợi, ủ cho mật thấm đều, cho vào chảo sao nhỏ lửa đến khi sờ không dính tay, lấy ra và để nguội. Dùng 2 kg Mật ong cho 10 kg Tỳ bà diệp.

Bảo quản
Nơi khô, mát.

Tính vị, qui kinh
Khổ, vi hàn. Quy vào kinh phế, vị.

Công năng, chủ trị
Thanh phế nhiệt và vị nhiệt, chỉ khái, chỉ ẩu. Chủ trị: Ho và  suyễn do phế nhiệt, sốt và khát do vị nhiệt.

Cách dùng, liều lượng
Ngày 6 –  9 g, phối hợp trong các bài thuốc.

Kiêng kỵ
Nôn do hư hàn, ho do phong hàn không nên dùng.

TỤC ĐOẠN (Rễ)-Rễ kế-Dipsacus japonicus

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

TỤC ĐOẠN (Rễ)
Radix Dipsaci
Rễ kế

Rễ đã phơi hay sấy khô của cây Tục đoạn (Dipsacus japonicus Miq.) và các loài Dipsacus khác, họ Tục đoạn (Dipsacaceae).

Mô tả
Rễ hình trụ, hơi cong queo, đầu trên to, đầu dưới thuôn nhỏ dần, dài 8 - 20 cm, rộng 0,4 - 1 cm. Mặt ngoài màu nâu nhạt đến nâu xám, có nhiều nếp nhăn và rãnh dọc, có nhiều lỗ bì nằm ngang và những đoạn rễ con còn sót lại. Dễ bẻ gãy, mặt bẻ lởm chởm. Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng, tầng sinh libe-gỗ màu nâu, bó libe-gỗ màu nâu nhạt, sắp xếp thành tia toả ra.

Vi phẫu
Lớp bần cấu tạo bởi nhiều hàng tế bào, có màng hoá bần. Mô mềm vỏ gồm những tế bào nhỏ, có thành mỏng nhăn nheo, rải rác có nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Libe cấp hai cấu tạo bởi những tế bào nhỏ, xếp đều đặn thành một vòng tròn. Tầng sinh libe-gỗ. Gỗ cấp 2 cấu tạo bởi những mạch gỗ to, có thành dày, xếp nối tiếp thành từng dãy rời nhau trong mô mềm gỗ. Mô mềm gỗ gồm những tế bào không hoá gỗ. Mô mềm tuỷ gồm những tế bào có thành dày hoá mô cứng.

Bột
Màu nâu nhạt, mùi thơm, vị đắng sau chát. Soi kính hiển vi thấy: Nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai, đường kính 38 - 50 mm, rải rác ở ngoài hay ở trong tế bào mô mềm hình chữ nhật có thành mỏng. Mảnh bần màu vàng nâu. Nhiều mảnh mạch mạng, mạch chấm, đường kính 3 - 40 mm.

Định tính
A. Dưới ánh sáng tử ngoại, bột Tục đoạn có màu nâu đen.

B. Cho khoảng 2 g bột dược liệu vào một bình nón nút mài dung tích 100 ml, thêm 4 ml amoniac đậm đặc (TT), lắc đều, đậy kín và để yên trong 1 giờ. Thêm 30 ml cloroform (TT), lắc siêu âm trong 30 phút. Lọc lấy dịch chiết cloroform, làm khan bằng natri sulfat khan (TT), lọc và bốc hơi trên cách thủy tới khô. Hòa tan cắn trong 5ml dung dịch acid sulfuric 10% (TT).
Dùng dịch chiết này để làm các phản ứng sau:
Lấy 1 ml dịch chiết, thêm 2 giọt thuốc thử Mayer (TT) sẽ xuất hiện tủa trắng.
Lấy 1 ml dịch chiết, thêm 2 giọt thuốc thử Bouchardat (TT) sẽ xuất hiện tủa nâu.
Lấy 1 ml dịch chiết, thêm 2 giọt thuốc thử Dragendorff (TT) sẽ xuất hiện tủa đỏ cam.

C. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Cyclohexan - ethylacetat - aceton (7 : 3 : 0,5).
Dung dịch thử: 1,0 g dược liệu đã thái nhỏ, thêm 20 ml hỗp hợp ethanol - cloroform (1: 2), đun sôi trên cách thuỷ khoảng 2 phút, để nguội, lọc. Bốc hơi dịch lọc đến còn lại 2 ml.
Dung dịch đối chiếu: Lấy khoảng 1,0 g Tục đoạn (mẫu  chuẩn) đã thái nhỏ, chiết như dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 ml mỗi dung dịch thử và dung dịch đối chiếu. Sau khi triển khai xong, để khô bản mỏng ở nhiệt độ phòng, phun dung dịch vanilin 1% (TT) trong hỗn hợp đồng thể tích  acid sulfuric (TT)ethanol (TT), sấy bản mỏng ở 120 0C cho đến khi các vết hiện rõ. Sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết có cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm
Không quá 10%. Dùng 10 g dược liệu cắt nhỏ.

Tạp chất
Dược liệu còn sót gốc thân: Không quá 5%.

Tro toàn phần
Không quá 10%.

Chất chiết được trong dược liệu
Dược liệu phải chứa không ít hơn 45,0%  tính theo dược liệu khô kiệt.
Tiến hành theo phương pháp chiết nóng. Dùng  nước làm dung môi.

Định lượng
Tiến hành bằng phương pháp sắc ký lỏng
Pha động: Acetonitril – nước (30 : 70), điều chỉnh tỷ lệ nếu cần thiết.
Dung dịch thử: Cân chính xác khoảng 0,5 g bột dược liệu vào bình nón nút mài, thêm chính xác 25 ml methanol (TT), đậy nút bình và cân xác định khối lượng bình. Lắc siêu âm bình trong 30 phút, để nguội và cân lại khối lượng bình, bổ sung lượng dung môi methanol (TT) thiếu hụt, lắc đều và lọc. Hút chính xác 5 ml dịch lọc vào bình định mức 50 ml, thêm pha động vừa đủ đến vạch, lắc đều.
Dung dịch đối chiếu: Cân chính xác một lượng asperosaponin VI chuẩn, hòa tan trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ khoảng 1,5 mg/ml. Hút chính xác 1 ml dung dịch trên cho vào bình định mức 10 ml, thêm pha động vừa đủ đến vạch, lắc đều.
Điều kiện sắc ký:
Cột thép không gỉ (25 cm x 4,6 mm), được nhồi pha tĩnh C dùng cho sắc ký (5 mm).
Detector quang phổ hấp thụ tử ngoại khả kiến ở bước sóng 212 nm.
Tốc độ dòng: 1,0 – 2,0 ml/phút.
Thể tích tiêm: 20 ml.
Cách tiến hành:
Tiêm dung dịch chuẩn, tính toán số đĩa lý thuyết của cột. Số đĩa lý thuyết của cột tính trên pic chuẩn asperosaponin VI phải không được dưới 3000.
Tiêm lần lượt dung dịch đối chiếu và dung dịch thử. Căn cứ vào diện tích pic thu được từ dung dịch thử, dung dịch chuẩn và hàm lượng C47H46O18 của asperosaponin VI chuẩn, tính hàm lượng asperosaponin VI (C47H46O18) trong dược liệu.
Dược liệu phải chứa không dưới 2,0% asperosaponin VI (C47H46O18) tính theo dược liệu khô kiệt.

Chế  biến
Thu hoạch vào mùa thu, đào lấy rễ già, rửa sạch, bỏ gốc thân và rễ tua, phơi hoặc sấy đến khô ở 50 – 60 oC. Đối với xuyên tục đoạn (D. asperoides C. Y cheng at TM. Ai) thu hoạch vào mùa thu, đào lấy rễ loại bỏ các rễ tua và rễ con. Sấy cho đến se, xếp đống cho ra mồ hôi cho đến khi xuất hiện màu xanh lục ở lõi, sấy khô.

Bào chế
Tục đoạn thái lát: Tục đoạn rửa sạch, ủ mềm, thái thành lát mỏng và phơi hoặc sấy khô.
Tục đoạn chế rượu: Dùng 1 lít rượu cho 10 kg Tục đoạn đã rửa và thái lát. Phun đều rượu vào Tục đoạn và ủ cho thấm đều rượu trong 30 phút – 1giờ. Cho Tục đoạn vào chảo và duy trì nhiệt độ vừa phải sao đến khi có màu hơi đen.
Diêm Tục đoạn (chế muối: Dùng 0.2 kg muối cho 10 kg Tục đoạn đã rửa sạch và thái lát. Hoà tan muối vào khoảng 0,5 lít nước. Phun vào Tục đoạn và ủ cho thấm nước muối vào lõi khoảng 30 phút – 1 giờ. Sao ở nhiệt độ vừa phải đến khô.

Bảo quản
Nơi khô mát, tránh mốc mọt.

Tính vị, quy kinh
Khổ, cam, tân, vị ôn. Quy vào kinh can, thận.

Công năng, chủ trị
Bổ can thận, cường cân cốt, liền xương, an thai. Chủ trị: Thắt lưng và đầu gối đau yếu, di tinh, động thai, rong kinh, băng huyêt, đới hạ, sang chấn, gãy xương, đứt gân.
Tửu Tục đoạn thường dùng cho người phong thấp, sang chấn.
Diêm Tục đoạn thường dùng cho người đau yếu thắt lưng và đầu gối.

Cách dùng, liều lượng
Ngày 9 – 15 g, phối hợp trong các bài thuốc.

Kiêng kỵ
Không dùng cho người âm hư hoả vượng.