Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯỢC ĐIỂN X. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯỢC ĐIỂN X. Hiển thị tất cả bài đăng

XUYÊN BỐI MẪU-(Thân hành)-Bulbus Fritillariae-(Fritillaria cirrhosa D. Don)

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

XUYÊN BỐI MẪU (Thân hành)

Bulbus Fritillariae

Thân hành đã phơi hay sấy khô của cây Xuyên bối mẫu (Fritillaria cirrhosa  D. Don), Ám tử bối mẫu (Fritillaria unibracteata Hsiao et K.C.Hsia), Cam túc bối mẫu (Fritillaria przewalskii Maxim.), hoặc Thoa sa bối mẫu (Fritillaria delavayi Franch.), họ Loa kèn trắng (Liliaceae).
Tuỳ theo đặc tính khác nhau của các loại Bối mẫu người ta chia ra 3 loại dược liệu: Tùng bối, Thanh bối, Lỗ bối tương ứng với 3 loài dược liệu ở trên.

Mô tả.

Tùng bối: Hình nón hoặc hình cầu, cao 0,3 - 0,8 cm, đường kính 0,3 - 0,9cm. Mặt ngoài màu trắng ngà, 2 vẩy ngoài kích thước rất khác nhau. Vẩy ngoài lớn hơn bao lấy vẩy trong, phần vẩy không bị bao bọc có hình trăng lưỡi liềm, phần này có tên là "hoài trung bảo nguyệt" (ôm trăng trong tay). Đỉnh thân hành kín, chồi hình cầu hơi thon, có 1 - 2 vẩy nhỏ; đỉnh tù hoặc hơi nhọn, gốc bằng, hơi lõm, ở giữa có chấm tròn màu nâu xám, thỉnh thoảng thấy vết tích rễ sợi. Chất cứng, giòn, vết bẻ trắng, có chất bột. Vị hơi đắng.
Thanh bối: Tròn dẹt, cao 0,4 - 1,4 cm, đường kính 0,4 - 1,6 cm. Có 2 vẩy ngoài đồng dạng, bọc lấy nhau. Đỉnh mở ra có chồi và 2 - 3 vẩy nhỏ bên trong, có vết tích của thân hình trụ, mảnh khảnh.
Lỗ bối: Hình nón dài, cao 0,7 - 2,5 cm, đường kính 0,5 - 2,5 cm. Mặt ngoài màu trắng ngà, hoặc vàng nâu, hơi lốm đốm nâu, 2 vẩy ngoài đồng dạng. Đỉnh mở ra và hơi thon, gốc hơi nhọn hoặc tương đối tù.

Soi bột

Bột màu trắng ngà. Soi kính hiển vi thấy:
Tùng bối và Thanh bối: Nhiều hạt tinh bột hình trứng rộng, hình cầu dài hoặc bất định hình, có một số hơi phân nhánh, đường kính 5 - 64  mm. Rốn hạt tinh bột hình khe  ngắn hay điểm, hoặc hình chữ V hay chữ U, có vân mờ. Tế bào biểu bì hình chữ nhật, thành lượn sóng nhất là ở bề mặt, đôi khi thấy lỗ khí tròn hay tròn dẹt, tế bào không đều. Mạch xoắn, đường kính 5 - 26  mm.
Lỗ bối: Hạt tinh bột hình trứng to, hình vỏ sò, hình thận hay hình bầu dục, đường kính tới 60 mm, rốn hình chữ V, hình sao hoặc hình điểm, thấy rõ vân. Mạch xoắn và mạch lưới, đường kính 64 mm.

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 5 giờ).

Tạp chất

Không quá 0,5% (Phụ lục 9.4).

Tỷ lệ vụn nát

Qua rây có kích thước mắt rây là 3,150 mm: Không quá 5% (Phụ lục 9.5).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa hè, thu, đào lấy thân hành, loại bỏ rễ con, vỏ thô, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp.

Bảo quản

Để nơi khô, đựng trong thùng hoặc lọ kín, tránh mốc mọt.

Tính vị, quy kinh

Khổ, cam, vi hàn. Vào các kinh phế, tâm.

Công năng, chủ trị

Thanh nhiệt, nhuận phế, hoá đờm, chỉ khái. Chủ trị: Ho ráo do phế nhiệt, ho khan ít đờm, ho đờm có máu, ho do mệt mỏi (lao).

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 3 - 9 g, dạng thuốc sắc  hoặc dùng bột, hoà với nước thuốc thang đã sắc, uống mỗi lần 1 -2 g.

Kiêng kỵ

Không dùng phối hợp với dược liệu loại  Ô đầu, Phụ tử.

XẠ HƯƠNG-Moschus

XẠ HƯƠNG

Moschus

Chất tiết ra trong túi thơm đã khô của các loài Hươu xạ đực trưởng thành: Lâm xạ (Moschus berezovski Flerov), Mã xạ (Moschus sifanicus Przewalski), Nguyên xạ (Moschus moschiferus Linnaeus), họ Hươu (Moschidae).
Về mặt dược liệu, chia ra 2 loại:  Túi nguyên vẹn xạ hương (Mao xác xạ hương) và hạt, bột xạ hương (Xạ hương nhân).

Mô tả

Mao xác xạ hương: Túi hình tròn dẹt hay bầu dục, đường kính 3 - 7 cm, dày 2 - 4 cm. Da ở miệng túi màu nâu, hơi phẳng có lông nhỏ, mịn, màu nâu xám hoặc màu trắng mọc dày sít nhau vòng quanh từ 2 phía một cái lỗ nhỏ nằm ở trung tâm. Dưới lông là lớp da mỏng trong có các tuyến và sản phẩm tiết ra là xạ hương. Túi xạ nặng khoảng 15 - 45 g, có khi nặng tới 60 g, 60% là chất xạ hương. Mặt kia, có màng da màu nâu hơi pha màu tía, không có lông, hơi có vết nhăn, sợi cơ có tính đàn hồi. Dùng kéo cắt ra thấy lớp màng da giữa có màu nâu, hoặc nâu xám, trong suốt, lớp màng da trong cùng màu nâu, bên trong có chứa hạt hay bột xạ hương (xạ hương nhân) có lẫn một ít biểu mô bong ra (ngân bì). Chất tương đối mềm, mùi thơm đặc biệt.
Xạ hương nhân của Hươu xạ hoang dã: Chất mềm, có dầu, nhuận, xốp. Dạng hạt bên trong gọi là "Dương môn tử", hình cầu, không đều, đường kính 3 mm. Mặt ngoài màu đen tím, sáng bóng, dầu nhuận, hơi có vân. Mặt bẻ có màu nâu thẫm hay nâu vàng. Dạng bột thường có màu nâu hoặc nâu vàng, có lẫn ít biểu mô bong ra và lông nhỏ.
Xạ hương nhân của Hươu xạ nuôi: Hạt hình dải ngắn hoặc hình khối không đều. Mặt ngoài không phẳng, đen tím hay nâu thẫm, có dầu hơi sáng bóng, có lẫn một ít lông và biểu mô bong ra, hương thơm ngát khác thường. Vị hơi cay, hơi đắng pha mặn.

Định tính

A. Dùng kim đặc chế có rãnh máng gọi là " tào châm" cắm vào miệng lỗ túi mao xác xạ hương, quay kim một vòng, lấy xạ hương nhân ra để quan sát kiểm nghiệm ngay:  Xạ hương nhân nở dần lên trong máng tiêm, phồng lên trên mặt máng, gọi là "mao tào".  Xạ hương nhân nhuận dầu, mặt xốp, không có góc nhọn, hương thơm ngát, không lẫn vật lạ như sợi lông và không có mùi  khác thường.
B. Lấy một ít bột Xạ hương nhân, để trong lòng bàn tay, cho thêm nước cho mềm, vê thành khối rồi ấn nhẹ ngón tay  lên trên, xạ hương tan không dính ngón tay, không bám vào tay  hay kết lại thành khối.
C. Lấy một ít bột Xạ hương nhân, cho vào chén nung, đốt. Lúc đầu hạt nứt ra sau chảy và phồng lên tựa hạt châu, mùi thơm ngát toả ra, không khét như mùi thịt và lông cháy, không bốc lửa, hoặc không xuất hiện đốm lửa. Sau khi nung xong, cắn còn lại màu trắng hoặc màu trắng xám.
D. Bột Xạ hương nhân có màu nâu hoặc nâu vàng, soi kinh hiển vi thấy:  Nhiều hạt vô định hình  tập hợp thành khối trong suốt hoặc trong mờ, màu vàng nhạt hay nâu nhạt. Trong khối có tinh thể không đều, hình 8 cạnh hay hình trụ vuông, nằm rải rác hay tụ lại, có giọt dầu tròn, đôi khi thấy có sợi lông nhỏ và biểu mô bong ra.
E. Thả bột Xạ hương nhân vào nước sôi, bột tan ngay, mùi thơm toả mạnh, nước có màu hơi vàng, không có cặn.
F. Lấy 0,1 g Xạ hương nhân, thêm 10 ml ethanol loãng (3 phần ethanol (TT) với 5 phần nước), đun hồi lưu trong cách thuỷ 15 phút, lọc. Lấy 3 ml dịch lọc cho vào cốc cao 3 cm, đường kính 3 cm, trên miệng cốc treo một băng giấy lọc 20 mm x 300 mm, nhúng một đầu giấy lọc vào dịch lọc, để trong 1 giờ. Lấy giấy lọc ra, để khô ở nhiệt độ phòng, đem quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365 nm, thấy phần trên của giấy lọc có huỳnh quang vàng sáng, phần giữa có huỳnh quang màu lơ tím, đôi khi cả 2 phần trên và giữa của giấy lọc đều có huỳnh quang màu vàng sáng đến vàng lục (xạ hương nhân của con Nguyên xạ).

Tạp chất

Xạ hương nhân: Không có lông hoặc có ít hoặc lẫn rất ít lông của mao xác xạ hương. Soi kính hiển vi: Không được lẫn tạp chất và biểu mô động vật khác hoặc thực vật.
Chất màu
Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại  ở bước sóng 365 nm không được có dải huỳnh quang  nâu đỏ và tối hoặc các dải huỳnh quang sáng bóng khác.

Độ ẩm

Lấy 0,3 g dược liệu, làm khô 24 giờ trong bình hút ẩm bằng phospho pentoxyd (có hút chân không), độ ẩm không được quá 35%.
Tro toàn phần 
Không được quá 6,5% (Phụ lục 7.6). Dùng 0,2 g Xạ hương nhân. 

Chế biến 

Xạ hương của hươu xạ hoang dã thường thu hoạch vào mùa đông và mùa xuân. Sau khi săn được hươu xạ, cắt lấy túi thơm, phơi âm can gọi là Mao xác xạ hương. Mổ túi thơm, trừ bỏ da bìu được Xạ hương nhân.
Xạ hương của hươu xạ nuôi: Lấy Xạ hương trực tiếp từ trong túi thơm ra phơi âm can hoặc để trong dụng cụ làm khô thích hợp đến khô được Xạ hương nhân.

Bảo quản

Để nơi khô, mát, trong bao bì  kín, tránh ánh sáng, tránh sâu mọt.

Tính vị, quy kinh

Tân, ôn. Vào các kinh tâm, tỳ.

Công năng, chủ trị

Khai khiếu, tỉnh thần, hoạt huyết, thông kinh, tiêu thũng, chỉ thống. Chủ trị: Nhiệt bệnh, tinh thần hôn ám, trúng phong, đàm quyết  khí uất bạo quyết, trúng ác hôn mê (chân tay lạnh ngắt, mê man đột ngột), kinh nguyệt bế tắc, hòn cục, khó đẻ, tử thai, thượng vị đau dữ dội, ung thũng, tràng nhạc, họng sưng đau, sưng đau do sang chấn, đau tê bại liệt.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 0,03 - 0,1 g, dạng  hoàn tán. Có khi dùng bôi ngoài da với lượng thích hợp

Kiêng kỵ

Phụ nữ có thai không được dùng.

XUYÊN KHUNG (Thân rễ)-Ligusticum chuanxiong

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

XUYÊN KHUNG (Thân rễ)

Rhizoma Ligustici wallichii


Thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây Xuyên khung (Ligusticum chuanxiong  Hort.), Họ Hoa tán (Apiaceae).

Mô tả
Thân rễ (quen gọi là củ) có hình khối méo mó, nhiều dạng, đường kính 2-5 cm, có nhiều u không đều nổi lên. Bề ngoài màu nâu đất, có nếp nhăn, xù xì, có vết tích của rễ con còn sót lại. Phía đỉnh có vết thân cây cắt đi, hình tròn, lõm xuống. Chất cứng, khó bẻ gãy. Mặt cắt ngang màu vàng nâu. Mùi thơm, vị cay hơi tê.

Vi phẫu
Bần gồm nhiều lớp tế bào. Mô mềm vỏ tế bào hình tròn, rải rác có những đám khuyết to và có nhiều ống tiết màu vàng nâu nhạt bên trong có chứa chất tiết. Chất tiết này bắt màu đỏ cam khi nhỏ lên vi phẫu vài giọt dung dịch Sudan III . Libe cấp 2 gồm nhiều lớp tế bào. Trong libe cấp 2 cũng có ống tiết. Gỗ cấp 2 gồm các mạch gỗ rải rác. Mô mềm gỗ thành tế chưa hóa gỗ (có màu hồng). Libe và gỗ  không thành vòng liên tục vì bị cắt bởi các tia ruột rộng. Trong mô mềm ruột rải rác có các ống tiết.

Bột
Nhiều hạt tinh bột hình tròn, bầu dục, hình thận đường kính 5-16mm. Rốn hình chấm, hình vạch ngang, hạt đơn hoặc hạt kép. Mảnh bần màu nâu. Mảnh mạch mạng, mạch vạch, mạch thang. Sợi có thành dày. Mảnh tế bào mô mềm có nhiều hạt tinh bột và có ống tiết.

Định tính
A. Lấy 3 g bột dược liệu trộn với 0,5 ml dung dịch amoniac 10% (TT) thêm 20 ml cloroform (TT), ngâm 4 giờ, thỉnh thoảng lắc, lọc. Dịch lọc cho vào bình gạn, thêm 5 ml dung dịch acid sulfuric 10% (TT), lắc, để yên cho dung dịch tách thành 2 lớp, gạn lấy dịch acid  cho vào 2 ống nghiệm, mỗi ống 1 ml dịch acid.
Ống 1: Thêm 1 giọt thuốc thử Dragendorff (TT) có tủa màu đỏ gạch.
Ống 2: Thêm 1 giọt thuốc thử Bouchardat (TT) có tủa đỏ nâu.

B. Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 5 ml ether dầu hỏa (TT), để yên 10 phút ở nhiệt độ phòng, thỉnh thoảng lắc rồi để yên. Gạn lấy 1 ml dịch chiết ether dầu hỏa đem bốc hơi đến cắn khô, thêm 3 giọt dung dịch acid 3,5-dinitro-benzoic pha trong methanol (TT) và 2 giọt methanol bão hòa kali hydroxyd (TT) sẽ có màu tím hồng.

Độ ẩm
Không quá 13%

Tro toàn phần
Không quá 6%

Tạp chất
Không quá 1%

Chất chiết được trong dược liệu
Không ít hơn 9,0% tính theo dượcliệu khô kiệt.
Tiến hành theo phương pháp chiết nóng, Dùng dung môi là ethanol 96% (TT).

Chế biến
Lấy thân rễ, cắt bỏ gốc thân, rửa sạch, phơi hoặc sấy nhẹ cho khô. Khi dùng thái phiến, vi sao.

Bảo quản
Để nơi khô mát, tránh mốc mọt.

Tính vị, quy kinh
Tân, ôn. Vào  các  kinh can, đởm, tâm bào.

Công năng, chủ trị
Hành khí hoạt huyết, trừ phong, giảm đau. Chủ trị: Điều kinh, nhứcđầu, hoa mắt, cảm mạo phong hàn, phong thấp nhức mỏi, ngực bụng đau tức, nhọt độc sưng đau.

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 6 - 12 g, dạng thuốc sắc, thuốc bột hay rượu thuốc.

Kiêng kỵ
Người âm hư hoả vượng không nên dùng.
www.duoclieu.org

XUYÊN TIÊU (Quả)-Zanthoxylum

XUYÊN TIÊU (Quả)
Fructus Zanthoxyli
Hoa tiêu

Quả đã phơi khô của nhiều loài Xuyên tiêu (Zanthoxylum sp.), họ Cam (Rutaceae).

Mụ tả
Quả nhỏ, khô, thường tập trung từ 1 - 3 - 5 quả trên một cuống chùm quả, xếp thành hình sao. Quả nang, đường kính 3 - 5 mm, khi chín nứt thành hai mảnh vỏ, mặt ngoài màu nâu xám, có nhiều điểm tinh dầu và vân sần sùi hình mạng; mặt trong màu trắng xám, nhẵn bóng. Hạt hình trứng, đường kính 2 - 3 mm, màu đen, nhẵn bóng. Mùi thơm, vị cay tê lưỡi.

Định tính
A. Bột: Màu nâu hơi ánh vàng, vị cay. Soi kính hiển vi thấy: Đám sợi dài của vỏ quả ngoài, tế bào mô mềm của vỏ quả hình chữ nhật hoặc đa giác dài, không màu. Mảnh vỏ hạt màu nâu đen khó nhìn rõ tế bào, đôi khi thấy rõ từng đám tế bào gần như hình nhiều cạnh, màu vàng nâu. Các mảnh mạch của cuống quả. Mảnh nội nhũ chứa hạt aleuron và các giọt dầu.

B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng.
Bản mỏng: Silica gel GF254.
Dung môi khai triển: Ethyl acetat – ethanol 95% - nước (8 : 2 : 1).
Dung dịch thử: 1,0 g dược liệu đó nghiền nhỏ, thêm 100 ml ethanol 70% (TT), lắc kỹ trong 30 phút, lọc và sử dụng dịch lọc làm dung dịch thử.
Dung dịch đối chiếu: Lấy khoảng 1,0 g Xuyên tiêu (mẫu chuẩn) nghiền nhỏ, chiết như dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 ml mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai xong, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, quan sát bản mỏng dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 254 nm. Sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết có cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm
Không quá 12%. Dùng 10 g dược liệu đó nghiền nhỏ.

Tạp chất
Tỷ lệ hạt đó rời hẳn ra ngoài: Không quá 2%.
Cuống hoa và cành: Không quá 5,0%.
Các tạp chất khác: Không quá 1,0%.

Tro toàn phần
Không quá 6,0%.

Tro không tan trong acid
Không quá 1,5%.

Định lượng
Tiến hành theo phương pháp định lượng tinh dầu trong dược liệu. Hàm lượng tinh dầu không ít hơn 2% tính theo dược liệu khô kiệt.

Chế biến
Hái các chùm quả già đó chớn khi cỏc vỏ quả đó mở, đem phơi khô (chỉ lấy quả, tuốt bỏ các nhánh mang quả).

Bảo quản
Để nơi khô mát.

Tính vị, quy kinh
Tân, ôn. Vào ba kinh: Phế, tỳ, thận.

Công năng, chủ trị
Ôn trung tán hàn, trừ thấp, sát trùng. Chủ trị: Đau bụng lạnh, nôn mửa, ỉa chảy, phong thấp, đau răng, đau bụng giun.

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 4 - 8 g, dạng thuốc sắc hoặc bột. Khi chữa đau răng, dùng nước sắc đặc ngậm nhiều lần rồi nhổ đi.

Kiêng kỵ
Huyết áp cao, âm hư hoả vượng, táo bón không nên dùng.

www.duoclieu.org

XUYÊN SƠN GIÁP-Vẩy Tê tê, vẩy Trút-Manis pentadactyla

XUYÊN SƠN GIÁP
Squamatis
Vẩy Tê tê, vẩy Trút

Vẩy đã rửa sạch phơi hay sấy khô của con Tê tê (Manis pentadactyla L.), họ Tê tê (Manidae)

Mô tả
Vẩy tê tê rời thành mảnh dẹt, hình quạt xoè hay hình vỏ hến, giữa dày, mép mỏng, rộng khoảng 1,5 – 4cm. Mặt lưng màu đen hơi xanh bóng có nhiều vân thẳng hình nan quạt, mép có ít vân vòng cung. Mặt trong màu hơi nhạt hơn, nhẵn, ở giữa có đường nổi hình nắp vung chữ V, đầu nhọn, hướng tâm. Chất sừng, chắc, hơi dẻo, hơi trong. Mùi hôi khó chịu, vị  nhạt.

Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng.
Bản mỏng: silica gel G

Dung môi môi khai triển: Benzen - aceton (20 : 1)

Dung dịch thử: Lấy 1g bột dược liệu thêm 60 ml cloroform (TT) đun hồi lưu cáxh thuỷ trong 4 giờ, để nguội. Lọc. Bốc hơi dịch lọc đến cạn, hoà cắn  trong 1 ml cloroform (TT), được dung dịch thử.
Dung dịch đối chiếu: Lấy 1 g bột Xuyên sơn giáp (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 ml mỗi dung dịch thử và và dung dịch đối chiếu. Sau khi khai triển, lấy bản mỏng ra khỏi bình sắc ký, để bay hơi hết dung môi ở nhiệt độ phòng. Phun lên bản mỏng hỗn hợp anhydrid aceticacid sulfuric (9 : 1). Sấy ở 80 oC trong vài phút.
Quan sát dưới ánh sáng thường các vết trên sắc ký đồ có được phải tương ứng về màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký của dung dịch đối chiếu.
Quan sát ở ánh sáng có  bước sóng 366 nm, các vết phát quang trên sắc ký đồ có được phải tương ứng về màu sắc và giá trị Rf với các vết phát quang trên sắc ký của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm
Không quá 13% (1 g, 105 oC, 4 giờ).

Tạp chất
Không quá 4%.

Chế biến  
Bắt con Tê tê, lột lấy cả tấm da nguyên vẩy, nhúng hoặc luộc trong nước sôi, tách lấy vẩy, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp.

Bào chế
Xuyên sơn giáp sống: loại bỏ tạp chất, rửa sạch, sấy khô ở nhiệt độ thấp.
Xuyên sơn giáp sao cách cát: Phân loại vảy Tê tê theo cùng kích thước, cho cát đã rửa sạch vào chảo, đun to lửa (lửa võ) cho nóng, cho Xuyên sơn giáp vào, đảo đều cho đến khi tất cả thuốc đã phồng giòn màu vàng đều, lấy ra sàng loại bỏ cát và để nguội. Giã dập trước khi dùng.
Thố xuyên sơn giáp: Phân loại Xuyên sơn giáp có cùng kích cỡ.Cho cát đã rửa sạch vào chảo, sao to lửa, thêm tiếp xuyên sơn giáp sạch vào sao cho đến khi Xuyên sơn giáp phồng giòn, sàng loại bỏ cát, nhúng hoặc vảy giấm vào Xuyên sơn giáp nóng, sấy khô, giã dập trước khi dùng.Dùng 3 kg giấm cho 10kg Xuyên sơn giáp.
Bảo quản

Nơi khô mát.
Tính vị, quy kinh
Hàm, hơi hàn. Quy vào các kinh can, vị.

Công năng, chủ trị
Hoạt huyết khứ ứ, thông tuyến sữa, tiêu sưng bài mủ, trừ phong kinh lạc. Chủ trị: Kinh bế, kết cục ở bụng, mất sữa, mụn nhọt, phong tê thấp.

Cách dùng, liều lượng
Ngày 6 - 9 g, (sắc) dạng bột sau khi đã chế. Hoặc 1 - 2 g thuốc tán/lần.

Kiêng kỵ
Không nên dùng cho phụ nữ có thai, mụn nhọt đã phá miệng, người hư nhược.

XƯƠNG BỒ-Acorus gramineus

XƯƠNG BỒ
Rhizoma Acori

Xương bồ là thân rễ đã phơi khô, hoặc sấy khô của cây Thạch xương bồ lá to (Acorus gramineus Soland. var. macrospadiceus Yamamoto Contr.), và cây Thủy Xương bồ (Acorus calamus L. var. angustatus Bess), họ Ráy (Araceae).


THẠCH XƯƠNG BỒ LÁ TO (Thân rễ)
Rhizoma Acori graminei macrospadici

Thân rễ hình trụ dẹt, dài 20 - 35 cm, đường kính 5 - 7 mm, đốt dài 7 - 8 mm, hoặc 1 cm về phía ngọn. Phía ngọn đôi khi phân 2 - 3 nhánh phụ, mỗi nhánh dài khoảng 5 cm, ở mỗi đốt có các rễ thưa và cứng. Khi khô vỏ thân rễ có màu nâu gỉ sắt. Thể chất cứng, vết bẻ có nhiều xơ. Thân rễ có mùi thơm đặc trưng của Xương bồ.

Vi phẫu
Thiết diện của thân rễ hình trái xoan. Tỷ lệ giữa phần từ lớp bần đến vòng nội bì và từ nội bì vào trung tâm là 2 : 1.
Lớp biểu bì cấu tạo từ những tế bào nhỏ, thành dày hoá gỗ. Phần mô mềm vỏ có nhiều bó sợi hình tròn, đường kính khoảng 102 mm. Nhiều bó sợi bên ngoài có tinh thể calci oxalat. Có nhiều tế bào chứa tinh dầu, kích thước khoảng 50 mm, Nhiều hạt tinh bột đơn hoặc kép. Sát vòng nội bì có một lớp bó libe gỗ xếp thưa. Mỗi bó có đường kính khoảng 306 mm. Libe ở hai đầu, gỗ ở giữa.
Vòng nội bì có một lớp tế bào hình chữ nhật. Phần mô ruột có nhiều bó libe gỗ. Gỗ ở ngoài, libe ở trong; có một vòng bó libe - gỗ thưa xếp sát vòng nội bì.  Ngoài ra còn có nhiều bó libe -gỗ xếp không theo quy luật.

Bột
Bột hơi màu vàng, mùi thơm đặc trưng của Thạch xương bồ. Mảnh mô mềm gồm tế bào thành mỏng có nhiều hạt tinh bột đơn hoặc kép. Các tế bào chứa tinh dầu màu nâu nhạt. Nhiều đám sợi có tinh thể calci oxalat hình khối lăng trụ. Tinh thể calci oxalat hình khối nằm rải rác, hoặc tập trung trong bó sợi, đường kính 10 - 40 mm. Các mảnh mạch vạch  rải rác riêng lẻ hoặc tập trung thành bó. Nhiều hạt tinh bột hình gần tròn,, đường kính 3- 15 mm. nằm rải rác hoặc trong các mảnh mô mềm

Định tính
Phương pháp sắc ký lớp mỏng.
Bản mỏng: Silica gel G đã hoạt hoá ở 105 0C trong 1 giờ.
Dung môi khai triển: n-Hexan - ethyl acetat (85 : 15).
Dung dịch thử: Lấy phần tinh dầu sau khi định lượng (xem mục định lượng) hoà tan trong methanol (TT) thành dung dịch 5% (tt/tt).
Dung dịch đối chiếu: Lấy thân rễ Thạch xương bồ (mẫu chuẩn), chuẩn bị cùng điều kiện như  dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 ml mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, để khô bản mỏng ngoài không khí, phun dung dịch vanilin 2% trong ethanol có acid sulfuric đặc (TT). Sấy bản mỏng ở 105 oC cho đến khi hiện rõ các vết. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.
Độ ẩm
Không quá 12%

Tạp chất
Không quá 1%.

Tro toàn phần
Không quá 4,6%.

Tro không tan trong acid
Không quá  1,3%.

Định lượng
Tiến hành theo phương pháp định lượng tinh dầu trong dược liệu, đối với tinh dầu nặng hơn nước. Hàm lượng tinh dầu không ít hơn 1,5% tính theo dược liệu khô kiệt.

Chế biến
Thu hoạch vào mùa thu, đào lấy thân rễ, rửa sạch, loại bỏ rễ con, phơi khô.

Bào chế
Loại bỏ tạp chất, ngâm dược liệu trong nước cho mềm, cắt thành  phiến, dài 3-5cm, dầy 2- 3mm phơi khô. Khi dùng sao với cám gạo, tới mùi thơm, mầu hơi vàng.

Bảo quản
Để nơi khô, mát, tránh mốc mọt.

Tính vị, quy kinh
Tân, ôn. Vào các kinh tâm, can, tỳ.

Công năng, chủ trị
Thông khiếu, trục đờm, tăng trí nhớ, tán phong, khoan trung khứ thấp, giải độc, sát trùng. Chủ trị: Bệnh phong điên giản, đờm vít tắc, hôn mê, hay quên, mộng nhiều, viêm phế quản, tai điếc, đi lỵ đau bụng. Dùng ngoài, trị mụn nhọt, ghẻ lở chảy nước.

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 4 -8 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán, thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Kiêng kỵ
Âm hư, hoạt tinh, ra nhiều mồ hôi, không nên dùng.
THUỶ XƯƠNG BỒ (Thân rễ)
Rhizoma Acori calami

Mô tả
Thân rễ hình trụ dẹt, dài trung bình 50 - 60 cm, có khi tới 1m, dày 5 - 1 cm, đốt dài 1 cm, mau về phía gốc về phía ngọn, đôi khi phân 2 – 3 nhánh phụ, mỗi nhánh dài khoảng 5cm, ở mỗi đốt có các rễ phụ thưa. Khi khô vỏ rễ có màu  nâu gỉ sắt, điểm nhiều chấm đen. Thể chất dai, xốp. Thân rễ có mùi thơm đặc trưng của xương bồ.

Vi phẫu
Vi phẫu cắt ngang có hình tròn hơi dẹt. Tỷ lệ giữa phần từ lớp bần đến vòng nội bì và từ nội bì vào trung tâm là 0,7: 1. Lớp biểu bì cấu tạo từ những tế bào nhỏ, thành dày hoá gỗ, dễ bong ra. Phần mô mềm vỏ có nhiều khuyết, đường kính khuyết trung bình 102 mm, có nhiều bó sợi hình tròn, đường kính 102 mm. Nhiều tế bào chứa tinh dầu màu vàng nhạt. Nhiều hạt tinh bột đơn hoặc kép trong tế bào mô mềm. Sát vòng nội bì có một lớp bó libe-gỗ xếp thưa, mỗi bó đường kính trung bình 306 mm, ở giữa có các tế bào chứa các tinh thể calci oxalat bám sát ở bên ngoài các bó sợi. Vòng nội bì có một lớp tế bào hình chữ nhật.
Phần mô ruột: Sát vòng nội bì có một lớp bó libe-gỗ, kích thước tương tự nhau (306 mm) xếp đều đặn. Bên trong ruột cũng có các bó libe-gỗ sắp xếp không có quy luật.

Bột
Màu nâu nhạt, mùi thơm đặc trưng của Xương bồ. Soi kính hiển vi thấy: Nhiều hạt tinh bột đơn hoặc kép, đường kính 3-5 mm. Mảnh mô mềm gồm nhiều tế bào thành mỏng, chứa tinh bột.
Rải rác có mảnh mạch, có sợi và tinh thể calci oxalat hình nhiều cạnh. Tế bào chứa tinh dầu màu nâu nhạt. Mảnh bần gồm tế bào nhiều cạnh, màu nâu.

Độ ẩm
Không quá 12% (Phụ lục 12.13).

Tạp chất
Không quá 1% (Phụ lục 12.11).

Định tính
Phương pháp sắc ký lớp mỏng.
Bản mỏng: Silica gel G
Dung môi khai triển: n-Hexan - ethyl acetat (85 : 15).
Dung dịch thử: Lấy phần tinh dầu sau khi định lượng (xem mục định lượng) hoà tan trong methanol (TT) thành dung dịch 5% (tt/tt).
Dung dịch đối chiếu: Lấy thân rễ Thuỷ xương bồ (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như  dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 ml mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, để khô bản mỏng ngoài không khí, phun dung dịch vanilin 2% trong ethanol có acid sulfuric đặc (TT). Sấy bản mỏng ở 105 oC cho đến khi hiện rõ các vết. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Định lượng
Định lượng tinh dầu theo phương pháp "Định lượng tinh dầu trong dược liệu" đối với tinh dầu nặng hơn nước. Dược liệu phải chứa ít nhất 2% tinh dầu tính theo dược liệu khô kiệt.

Tro toàn phần
 Không quá 4,6%
.
Tro không tan trong acid
Không quá  1,3% .

Chế biến
Thu hái vào mùa xuân, thu. Đào lấy rễ già, rửa sạch, cho lên giàn và đốt lửa ở dưới để cháy hết các bẹ, rễ con và giảm thủy phần. Sau đó cắt thành từng đoạn dài 8 - 15 cm, cắt bỏ rễ con còn sót lại, phơi nắng hay sấy ở 50 - 60 oC đến khô.

Bào chế
Lấy dược liệu khô, loại bỏ tạp chất, ngâm dược liệu trong nước, hoặc trong nước vo gạo từ 6-12 giờ, cho mềm, cắt thành  phiến  dài 5-7cm,  dầy 2-3mm, phơi khô. Khi dùng sao với cám gạo, tới mùi thơm, mầu hơi vàng.

Bảo quản
Để ở nơi khô, trong bao bì kín, tránh mốc, tránh ẩm, nóng.

Tính vị, quy kinh
Tân, ôn. Vào các kinh tâm, can, tỳ.

Công năng, chủ trị
Thông khiếu, trục đờm, kiện tỳ, khoan  trung khứ thấp, giải độc, sát trùng. Dùng trị các bệnh viêm phế quản, trúng phong điên giản, đờm vít tắc, tim loạn nhịp, hôn mê,  mộng  nhiều, hay quên, tai điếc, tiêu hoá kém, trướng bụng, đau bụng ỉa chảy. 

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng  4 - 8 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán, thường phối hợp các dạng thuốc khác.

Kiêng kỵ
Âm hư nội nhiệt, hoạt tinh, ra nhiều mồ hôi không nên dùng.

XÍCH THƯỢC (Rễ)-Paeonia lactiflora

XÍCH THƯỢC (Rễ)
Radix Paeoniae
Bạch thược

Rễ đã phơi khô của cây Thược dược (Paeonia lactiflora Pall.) hoặc cây Xuyên xích thược (Paeonia veitchii Lynch), họ Hoàng Liên (Paeoniaceae).

Mô tả
Dược liệu hình trụ hơi cong, dài 5 - 40 cm, đường kính 0,5 - 3 cm. Mặt ngoài màu nâu, thô, có vân nhăn và rãnh dọc, có vết của rễ con và lỗ vỏ nhô lên theo chiều ngang, đôi khi vỏ ngoài dễ bị tróc. Chất cứng và giòn, dễ bẻ gẫy, mặt bẻ màu trắng phấn hoặc hồng, vỏ hẹp, gỗ có vân xuyên tâm rõ, đôi khi có khe nứt. Mùi hơi thơm, vị hơi đắng, chua và chát.

Vi phẫu
Bần gồm vài hàng tế bào nâu. Tế bào mô mềm của vỏ dạng kéo dài ra theo hướng tiếp tuyến. Libe tương đối hẹp. Tầng phát sinh xếp thành một vòng. Tia gỗ tương đối hẹp, mạch gỗ xếp theo hướng xuyên tâm, kèm theo có các sợi gỗ. Các tế bào mô mềm chứa các cụm tinh thể calci oxalat và hạt tinh bột. Tia gỗ, mạch gỗ, sợi gỗ nằm trong mô gỗ không hoá gỗ.

Định tính
A. Lấy 0,5 g bột dược liệu, thêm 30 ml ethanol 96% (TT), lắc trong 15 phút và lọc. Lắc 3 ml dịch lọc với 1 giọt dung dịch sắt (III) clorid (TT), xuất hiện màu tía xanh da trời tới màu lục lam sau đó chuyển thành màu tía xanh da trời  rồi đến màu lục tối.

B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng.
Bản mỏng: Silica gel G
Dung môi khai triển: Cloroform - ethyl acetat - methanol - acid formic (40 : 5 : 10 : 0,2).
Dung dịch thử: Lấy 0,5 g bột dược liệu, thêm 10 ml ethanol (TT), lắc kỹ trong 5 phút, lọc. Bốc hơi dịch lọc đến khô, hòa tan cắn trong 2 ml ethanol (TT) được dung dịch thử.
Dung dịch đối chiếu: Hòa tan chất đối chiếu paeoniflorin trong ethanol (TT) thành dung dịch có chứa 2 mg paeoniflorin trong 1 ml. Nếu không có paeoniflorin thì dùng 0,5 g bột Xích thược (mẫu chuẩn), tiến hành chiết trong cùng điều kiện như dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng rẽ 4 ml  mỗi dung dịch trên lên bản mỏng. Triển khai sắc ký xong, lấy bản mỏng ra để khô ngoài không khí. Phun dung dịch vanilin 5% trong acid sulfuric (TT), sấy bản mỏng đến khi xuất hiện rõ vết. Trên sắc ký đồ, dung dịch thử phải có vết cùng giá trị Rvà màu sắc với vết của paeoniflorin trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu. Hoặc nếu dùng dược liệu chuẩn để chuẩn bị dung dịch đối chiếu thì trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng giá trị Rvà màu sắc với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm
Không quá 14,0% (1 g, 105 oC, 6 giờ).

Tro toàn phần
Không quá 6,5% (Phụ lục 9.8, dùng 1 g dược liệu, phương pháp 2).

Tro không tan trong acíd
Không quá 0,5%.

Chế biến
Thu hái vào mùa xuân, thu. Đào lấy rễ, loại bỏ thân, rễ con, đất cát, phơi khô.

Bào chế
Loại bỏ tạp chất, phân loại lớn nhỏ, rửa sạch, ủ mềm, thái phiến mỏng, phơi khô. Dược liệu dạng phiến, hình trụ, đường kính 0,3 - 3 cm, dày 0,3 - 0,5 cm, mặt cắt có màu trắng hơi vàng hoặc màu hồng.

Bảo quản
Để nơi khô, thoáng mát.

Tính vị, quy kinh
Toan, khổ, vi hàn. Vào kinh can, tỳ.

Công năng, chủ trị
Lương huyết, tán ứ, giảm đau. Chủ trị: Ôn độc phát ban, ỉa máu, chảy máu cam, mắt đỏ sưng đau, can uất, sườn đau, kinh bế, hành kinh đau bụng, hòn cục trong bụng, sưng đau do sang chấn nhọt độc sưng đau.

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 6 - 12 g, dạng thuốc sắc.

Kiêng kỵ
Không dùng phối hợp với Lê lô.

XÀ SÀNG (Quả)-Cnidium monnieri

Xà sàng (Quả)
Fructus Cnidii
Giần sàng

Quả chín đã phơi hay sấy khô của cây Xà sàng (Cnidium monnieri L.) , họ Hoa tán (Apiaceae).

Mô tả
Quả đóng với hai phân quả dính nhau ở một mặt tạo thành hình trứng nhỏ, có khía lồi; dài 2 - 4 mm, đường kính 1 - 2 mm. Mặt  ngoài màu vàng nhạt hoặc vàng sẫm. Đỉnh có hai vòi mảnh, dài khoảng 2 – 4 mm. Mỗi phân quả có 5 khía lồi nhô cao xen kẽ với 4 rãnh khá sâu, trông giống như quả có cánh; giữa là một hạt hình trứng. Mặt tiếp xúc giữa hai phân quả là mặt phẳng, có 2 đường chỉ dọc nổi lên màu nâu. Mặt cắt ngang qua tâm của quả nguyên vẹn gồm hai phần là hai phân quả dính liền nhau. Nếu vết cắt không ở ngay giữa thì hai phân quả có thể tách rời. Mỗi phân quả có thể nhìn thấy 6 vết tròn nhỏ tương ứng với 6 ống tiết. Hạt nhỏ, màu nâu xám, có dầu. Quả có mùi thơm, vị cay.

Vi phẫu
Quả: vỏ quả ngoài là một lớp gồm các tế bào hình chữ nhật nhỏ, thành mỏng, có cutin hơi răng cưa ở mặt ngoài. Kế đến là 1 – 2 lớp tế bào mô mềm hình chữ nhật. Vùng mô mềm tương ứng với cạnh lồi có bó libe gỗ nhỏ gồm libe và gỗ liền nhau, rải rác có tinh thể calci oxalat hình khối nhỏ. Chung quanh bó libe gỗ, các tế bào của vùng vỏ quả giữa có một phần hóa mô cứng, nhưng thành tế bào khá mỏng, có cấu tạo giống như mạch mạng. Vỏ quả trong là một lớp tế bào tạo thành vòng liên tục, hơi uốn lượn mấp mô, thành tế bào khá dầy. Ở mặt tiếp hợp của hai phân quả, mỗi bên có hai ống tiết, bốn ống tiết còn lại nằm trong mô mềm của vỏ quả giữa, bên dưới bốn rãnh sâu. Ống tiết kiểu ly bào với các tế bào chung quanh còn khá nguyên vẹn, bên trong chứa tinh dầu dưới dạng giọt tròn màu vàng. Ở vùng giữa mặt tiếp hợp, chỗ hạt đính vào, mỗi bên phân quả có một bó libe gỗ nhỏ (sống noãn) gồm gỗ ở giữa, bao quanh là libe.

Hạt: vỏ hạt gồm một vòng tế bào mô mềm hình chữ nhật, thành mỏng, xếp khít nhau theo hướng xuyên tâm. Bên trong là nội nhũ gồm các tế bào hình đa giác, thành mỏng, chứa đầy dầu béo.

Bột
Bột có màu vàng nâu, mùi thơm, vị cay. Soi kính hiển vi thấy: Mảnh vỏ quả gồm các tế bào hình chữ nhật hay đa giác, thành mỏng, chứa chất có màu vàng,  mảnh ống tiết bị vỡ, mảnh mô cứng gồm các tế bào hình chữ nhật hay đa giác có thành tế bào cấu tạo như mạch mạng, mảnh mạch vạch, mạch xoắn nhỏ và hiếm, mảnh nội nhũ chứa nhiều giọt dầu béo to nhỏ không đều, tinh thể calci oxalat hình khối.

Định tính
A. Lấy 2 g bột dược liệu, thêm 20 ml ethanol 96% (TT), đun trong cách thủy dưới ống sinh hàn ngược 10 phút. Lọc, lấy dịch lọc làm các phản ứng sau:
Dịch lọc đem quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở 365 nm, có huỳnh quang màu đỏ tía.
Lấy 2 ml dịch lọc, nhỏ vài giọt dung dịch acid hydrocloric 10% (TT) : dung dịch có tủa đục. Nhỏ tiếp khoảng 10 giọt dung dịch natri hydroxyd 10% (TT) cho đến pH kiềm: dung dịch trở nên trong và tăng màu vàng.

Lấy 2 ml dịch lọc, thêm đồng thể tích dung dịch natri carbonat 3% (TT), đun nóng nhẹ trong 5 phút. Để nguội, thêm 1 – 2 giọt diazo p-nitroanilin (TT) xuất hiện màu đỏ anh đào.

B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng
Bản mỏng: Silica gel GF254 tráng sẵn.
Dung môi khai triển: Cloroform – ethylacetat  (9 : 1).
Dung dịch thử: Lấy khoảng 0,3 g bột dược liệu thô, thêm 5 ml ethanol 96% (TT), lắc siêu âm trong 5 phút, để lắng, lấy phần dịch trong ở trên làm dung dịch thử.
Dung dịch đối chiếu:  Lấy 0,3 g bột Xà sàng (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như dung dịch thử.  
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20 μl dung dịch thử và dung dịch đối chiếu. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được 10 – 12 cm, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm. Sắc đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm
Không quá 13%.

Tro toàn phần
Không quá 6%.

Tạp chất
Không quá 1%.

Định lượng
Định lượng tinh dầu trong dược liệu. Lấy khoảng 30 g dược liệu khô, thêm khoảng 200 ml nước; chưng cất trong 3 giờ với tốc độ 2,5 đến 3,5 ml/phút.
Dược liệu phải chứa ít nhất 1% tinh dầu (tính theo dược liệu khô kiệt).

Chế  biến
Thu hoạch bằng cách nhổ hay cắt cả cây, phơi hoặc sấy nhẹ cho đến khô. Đập lấy quả, loại bỏ tạp chất, phơi hay sấy khô.

Bảo quản
Để nơi khô, thoáng mát, tránh làm mất tinh dầu.
www.duoclieu.org

RẺ QUẠT (Thân rễ)-Xạ can-Belamcanda chinensis

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

RẺ QUẠT (Thân rễ)
Rhizoma Belamcandae
Xạ can

Thân rễ để nguyên hay được cắt thành phiến mỏng đã phơi hay sấy khô của cây Rẻ quạt (Belamcanda chinensis (L.) DC.), họ La dơn (Iridaceae).

Mô tả
Đoạn thân rễ màu vàng nâu nhạt đến nâu, có những gân ngang vết tích của nơi đính lá, còn sót lại những rễ ngắn, nhiều nốt sần nhỏ là vết tích của rễ con, dài 3 - 10 cm, đường kính 1 - 2 cm, hay những phiến có dạng hình trái xoan hay tròn, dài 1 - 5 cm, rộng 1 - 2 cm, dày 0,3 - 1 cm, mép lồi lõm không đều, màu vàng nâu nhạt đến vàng nâu. Mặt cắt ngang nhẵn, màu trắng ngà hay vàng nhạt, nhìn rõ hai phần: phần ngoài màu sẫm, phía trong nhạt hơn, có nhiều điểm nhỏ của các bó libe – gỗ. Phiến cắt dọc có vỏ ngoài màu nâu sẫm, mặt cắt có những sợi dọc. Mùi thơm nhẹ, vị đắng, hơi cay.

Vi phẫu
Lớp bần dày, gồm những tế bào hình chữ nhật xếp đều đặn. Mô mềm vỏ cấu tạo bởi những tế bào thành mỏng, chứa nhiều hạt tinh bột và tinh thể calci oxalat hình lăng trụ, rải rác có thể có các bó libe-gỗ là vết tích bó mạch của lá. Nội bì gồm một lớp tế bào nhỏ bao quanh phần trụ giữa. Các bó libe-gỗ đồng tâm (gỗ bao bọc libe) tập trung ở vùng sát nội bì, thưa hơn ở phần trung tâm. Mô mềm ruột gồm những tế bào thành mỏng có chứa hạt tinh bột và tinh thể calci oxalat hình lăng trụ.

Bột
Mảnh bần gồm những tế bào nhiều cạnh, thành dày, màu nâu. Mảnh mô mềm gồm những tế bào chứa hạt tinh bột. Hạt tinh bột nhỏ, hình tròn và hơi trái xoan, đường kính 2 - 17 µm, thỉnh thoảng gặp những hạt tinh bột kép gồm 2 - 5 hạt đơn. Tinh thể calci oxalat hình lăng trụ nguyên hay bị gãy.

Định tính
Lấy 5 g bột dược liệu, thêm 40 ml ethanol (TT), đun hồi lưu cách thủy trong 30 phút. Lọc, cô dịch lọc còn khoảng 10 ml.
Nhỏ dịch chiết lên giấy lọc thành 2 vết riêng biệt, nhỏ tiếp lên một vết dịch chiết 1 giọt dung dịch natri hydroxyd 10% (TT), để khô, soi dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365 nm. Vết dịch chiết không có natri hydroxyd cho huỳnh quang vàng cam nhạt, vết dịch chiết có natri hydroxyd cho huỳnh quang vàng sáng.
Lấy 2 ml dịch chiết vào ống nghiệm, thêm một ít bột magnesi (TT) và 2 - 3 giọt dung dịch acid hydrocloric (TT). Dung dịch có màu đỏ cam.
Lấy 2 ml dịch chiết vào ống nghiệm, thêm 2 ml cloroform (TT) và 2 ml dung dịch natri hydroxyd 10% (TT), lắc mạnh. Đun trên cách thủy 2 phút, lắc đều, lớp nước kiềm có màu đỏ.

Độ ẩm
Không quá 12%

Tro toàn phần
Không quá 8,5%

Tro không tan trong acid hydrocloric
Không quá 2,0%

Tỷ lệ vụn nát
Qua rây có kích thước mắt rây 4 mm: Không quá 5%

Chất chiết được trong dược liệu
Không được ít hơn 18,0%.
Tiến hành theo phương pháp chiết nóng. Dùng  ethanol 90% làm dung môi.

Chế biến
Thu hoạch vào đầu mùa xuân, khi cây mới nảy mầm hoặc cuối thu, khi lá khô héo, đào lấy thân rễ, loại bỏ rễ con, rửa sạch, phơi khô.

Bào chế
Dược liệu khô đã loại bỏ tạp chất rửa sạch, ủ mềm, thái lát phơi khô.

Bảo quản
Để nơi khô, mát, trong bao bì kín, tránh mốc, mọt.

Tính vị, quy kinh
Khổ, hàn. Vào kinh phế, can.

Công năng, chủ trị
Thanh nhiệt giải độc, hoá đàm bình suyễn. Chủ trị: Họng sưng đau, ho đờm, suyễn tức.

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 3 - 6 g, dạng thuốc sắc hoặc bột; làm viên ngậm, uống. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Kiêng kỵ
Phụ nữ có thai không nên dùng.