Hiển thị các bài đăng có nhãn GLYCOSID TIM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GLYCOSID TIM. Hiển thị tất cả bài đăng

THÔNG THIÊN-Thevetia peruviana ( Pers.) K. Schum. = Thevetia neriifolia Juss. Thuộc họ Trúc Đào- Apocynaceae.

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

THÔNG THIÊN
Semen Thevetiae
Đặc điểm thực vật
Dược liệu dùng là hạt của cây thông thiên - Thevetia peruviana ( Pers.) K. Schum. = Thevetia neriifolia Juss. Thuộc họ Trúc Đào- Apocynaceae.
Cây cao từ 3-4m, cành dài mềm màu trắng xám. Lá mọc so le, màu xanh nhạt, mặt trên của lá bóng, hình mũi mác hẹp. Hoa màu vàng tươi đẹp, tiền khai hoa vặn. Quả hạch hình bán cầu đường kính 3-4cm hơi dẹt phía trên và phía dưới, có một sống nhô lên chia đôi quả làm 2 phần đối xứng. Bên ngoài màu xanh lá, thịt quả trắng nhưng chóng bị đen vì có chứa aucubosid là một iridoid glycosid, khi glycosid này bị enzym có sẵn trong cây thủy phân thì phần aglycon bị trùng hiệp cho sản phẩm màu đen.
Vỏ quả trong rất rắn, toàn bộ nom như đôi sứng, mép trên có khe sâu có thể dung lưỡi dao tách đôi theo chiều dọc. Trong hạch có 4 hạt dẹt màu trắng, thường bị lép còn 3 hoặc 2. Toàn cây có nhựa mủ và độc. Cây nhập nội để làm cảnh, nguồn gốc châu Mỹ.
Thành phần hóa học
- Hạt chứa 50% dầu chủ yếu là acetyl glycerol của acid oleic. Thành phần hoạt chất là các glycosid tim. Việc xác định cấu trúc kéo dài 1 thế kỷ từ khi Devry ở Java phân lập được glycosid đắng  đặt tên là Thevetin (Thevetosid).
+ Thevetin A=Cannogenin+L-Thevetose+D-gucose+D-glucose.
+ Peruvosid=Cannogenin+L-Thevetose.
+ Acetyl peruvosid=Cannogenin+Acetyl L-Thevetose.
+ Theveneriin=Cannogenol+L-Thevetose.
+ Thevetin B=Digitoxigenin+L-Thevetose+D-glucose+D-glucose.
+ Acetyl Thevetin B=Digitoxigenin+Acetyl L-Thevetose+(Glucose)2.
+ Thevebiosid=Digitoxigenin+L-Thevetose+D-Glucose.
+Neriifolin=Digitoxigenin+L-Thevetose.
+ Acetyl Neriifolin=Digitoxigenin+Acetyl L-Thevetose.
+ Thevefolin=Có thể là Uzarigenin+L-Thevetose.
+ Perusitin=Acid Cannogenic+L-Thevetose.
- Thevetin là tên gọi hỗn hợp 2 chất Thevetin A và Thevetin B, thành phần Thevetin B là chính. Chúng có độ chảy giống nhau (190-1950C) và đồng kết tinh. Khi chiết xuất để làm thuốc người ta không tách ra 2 chất riêng. Dưới tác dụng của enzym có trong cây (Thevetinase) thì các triosid này bị cắt hai phân tử glucose cuối mạch (gentibiose) để cho các monosid neriifolin và peruvosid. Ở trong hạt hàm lượng neriifolin chiếm nhiều nhất, có thẻ đến 6-8%. Hạt còn chứa 1 flavonoid: 5-methylether apigenin và một iridoid glycosid: thevesid.

-      Lá cũng có glycoside tim nhưng tỷ lệ thấp
-      Hoa có α- và β-amyrin, β-sitosterol, kaempferol và quercetin.
-      Vỏ thân cũng chứa một iridoid glycoside khác: theviridosid
-      Vỏ quả không chứa glycoside tim mà chỉ chứa aubucosid, epiperuviol acetate và hếpritin 7-glucosid.
Chiết xuất: hạt được loại chất béo bằng ether dầu hỏa rồi chiết bằng methanol nóng. Bốc hơi dung môi, cắn còn lại được hòa tan bằng butanol. Lắc dung dịch butanol với nước, thevetin (thevetin A và B) là những thành phần cực nhiều hơn sẽ tan trong nước. Bốc hơi nước, thevetin sẽ kết tinh nhưng còn lẫn tạp chất cần tinh chế lại, hiệu suất khoảng 1%.    
Tác dụng dược lý
     - Chất Thevetin đã được nghiên cứu nhiều về mặt dược lý. Nói chung có tác dụng cường tim như các glycoside digitalis khác. Nhưng vì dễ tan trong nước nên tác dụng nhanh và cũng bị bài tiết nhanh. Có tác dụng kích thích cơ trơn của bang quang và ruột, có tác dụng thông tiểu, liều cao gây đi lỏng. Độ độc của Thevetin kém hơn ouabain và digitalin. Có thể dùng điều trị hàng tháng mà không có hiện tượng ngộ độc.
     - Khi mới tiêm vào Thevetin làm tim đập chậm và làm cho sự co bóp của tim mạnh lên như vậy chứng tỏ nó có tác dụng rất nhanh. Nếu tiếp tục tiêm sẽ thấy xuất hiện các hiện tượng ngộ độc: Tim đập nhanh và rung tâm thất (fibrillation ventriculaire).
     - Nhưng hiện tượng ngộ độc do Thevetin có thể hết dù đã xuất hiện nhưng triệu chứng ban đầu không giống như digitalin vì digitalin gây ra hiên tượng tích lũy của nó trong cơ thể.
Công dụng và liều dùng
 -  Chất Thevetin đã được một hãng sản xuất của Pháp chế biến thành thuốc trợ tim dưới dạng dung dịch 1%, 1ml ứng với 30 giọt và 1mg Thevetin. Ngày uống tử một đến 2mg (30 đến 60 giọt một ngày) chia làm 2 hay 3 lần uống. Có thể dùng lâu vì thuốc không tích lũy. Đóng thành từng chai 20ml.
 - Có loại lại chế thành thuốc tiêm, một hộp 6 ống, mỗi ống 2ml tương ứng với 1mg Thevetin. Ngày tiêm 1-2 ống (tiêm vào mạch máu) .
Dùng trong những trường hợp kém tim, tim đập loạn nhịp, viêm tâm cân, tim suy nhược sau khi mổ hoặc sau khi nhiễm trùng, đau van tim nhất là những trường hợp bị tổn thương tăng. Trong trường hợp này Thevetin tỏ ra hơn hẳn digitalin. Có thể dùng cho những trường hợp không đáp ứng thuốc digitalin và oubain hoặc luân phiên với digitalin và oubain.
 - Thevetin không nên sử dụng ở trẻ em do nguy cơ ngộ độc hoặc chết, và thiếu các dữ liệu khoa học.
 - Những người dị ứng hoặc quá mẫn cảm với Thevetin hoặc các glycosid tim khác như digoxin hoặc digitoxin có thể phản ứng vói thevetin.
Hạt thông thiên rất độc với động vật có vú bao gồm cả con người. Dựa trên nhưng nghiên cứu ăn tám hạt hoặc nhiều hơn có thể gây tử vong. Tác dụng phụ khi sử dụng uống thevetin chiết xuật từ Thông thiên bao gồm: kích thích làm đỏ môi, lợi, lưỡi, buồn nôn, trầm cảm, khó chịu, thở nhanh, vã mồ hôi, đau bụng, tiêu chảy nhức đầu lũ lẫn, rối loạn thị giác. Xét nghiêm máu bất thường, bao gồm các xét nghiệm chức năng gan, thận (kali, bilirubin, creatinin và urê trong máu) đã được báo cáo ở người.
 - Phụ nữ có thai và cho con bú không nên sử dụng Thevetin vì tính độc cao.
 - Ở Trung Quốc, người ta chỉ dùng lá và quả làm thuốc cường tim; lá dùng chữa đinh đầu rắn. Còn rễ, vỏ thân, hoa, hạt và nhựa cây có độc, chỉ dùng để sát trùng.
 - Ở Ấn Độ, người ta dùng vỏ trị các kiểu sốt gián cách khác nhau, còn nhựa cây rất độc, nhân quả chứa chất độc gây mê và hạt đều có độc nên không dùng trong.
-      Ngoài việc dùng Thevetin chiết xuất từ hạt, có nơi còn dùng hạt giã nát làm thuốc trừ sâu (hạt giã nát, ngâm với nước, thêm một lượng xà phòng bằng trọng lượng hạt). Phun lên sâu bọ, số lượng tùy theo sâu cánh cứng hay cánh mềm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

TRÚC ĐÀO– Nerium oleander L. họ Trúc đào – Apocynaceae

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

TRÚC ĐÀO


Dược liệu là lá của cây trúc đào – Nerium oleander L. họ Trúc đào – Apocynaceae. Loài Nerium odorum Soland. cũng được dùng.

Đặc điểm thực vật

 Trúc Đào là Cây gỗ nhỏ, mọc thành bụi cao 3-5 m. Thân non dẹp, sau đó trở nên tròn, màu xanh, có nhiều lông nhỏ; thân già màu nâu mang thẹo cuống lá. Lá tập trung ở ngọn, đơn, nguyên, mọc vòng 3 hay mọc đối (lá cuối của mỗi cành), lá thon hẹp, có mũi nhọn, dài 7-10 cm, rộng 1-4 cm, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới nhạt. Mép lá cong xuống ở mặt dưới. Cuống lá dài 7-9 mm, hình lòng máng, có nhiều tuyến màu nâu thường tập trung ở mặt trên, đáy cuống lá. Gân lá hình lông chim, gân chính nổi rõ ở mặt dưới; gân phụ nhiều, đều, song song hai bên gân chính, không nổi rõ ở mặt dưới. Cụm hoa: Xim phân nhánh ở ngọn cành. Hoa đều, lưỡng tính. Cuống hoa dài 7-10 mm, màu nâu nhạt. Lá bắc dài 5-6 mm, nhọn, rụng sớm. Lá bắc con dài 4-5 mm, dài nhọn. Lá đài 5, rời, hình tam giác, dài 5-6 mm, màu nâu tím, có lông ở mặt ngoài, mặt trong có nhiều tuyến nhỏ màu vàng. Cánh hoa 13-20, mang phụ bộ hình sợi ở bên trong, 5 cánh trong cùng dính nhau thành hình ống hơi loe ở đỉnh, màu trắng có sọc hồng, dài 7-10 mm; trên chia thành 5 phiến dài 2,5-2,7 cm, màu hồng có sọc trắng, các cánh còn lại có thể dính hoặc rời; phía ngoài các cánh hoa có 5-6 phiến nhỏ không mang phụ bộ, cùng màu cách hoa. Tiền khai vặn 5 nhị rời, đính trên ống tràng. Chỉ nhị dẹp, màu trắng, có nhiều lông ở mặt trong, dài 2-4 mm. Bao phấn hình mũi tên, 2 ô, hướng trong, khai dọc, có lông ở mặt lưng, chung đới kéo dài thành dạng sợi dài 5-6 mm, có nhiều lông. Hạt phấn rời, hình cầu, có 1 lỗ. 2 lá noãn rời thành bầu trên 2 ô, mỗi ô nhiều noãn, đính noãn mép. Bầu có nhiều lông ở 1/2 đỉnh bầu. 1 vòi nhụy hình sợi, màu trắng, dài 6-9 mm, hơi phình ở đỉnh, dính vào bao phấn. Đầu nhụy dạng khối có chóp hình nón, dài khoảng 1 mm, màu vàng. Quả và hạt: 2 quả đại dài 13-20 cm, mặt ngoài có nhiều sọc chứa nhiều hạt có lông dài, màu hung. Toàn cây có nhựa mủ trắng và độc, có thể gây tai  nạn cho người và gia súc.
Ở nước ta, trúc đào được trồng làm cảnh ở các công viên và vườn hoa. Loài Nerium odorum Soland. có hoa thơm và tràng thường kép, màu hồng.
Thu hái: Thu hái vào tháng 10 – 11 hoặc vào tháng 4, hái những lá dài trên 10 cm. Hái về làm khô ngay ở nhiệt độ không quá 500C.
Vi phẫu lá: Gân giữa: Lồi rõ ở mặt dưới, mặt trên phẳng, hơi lõm ở giữa. Biểu bì trên và biểu bì dưới 1 lớp tế bào nhỏ xếp đều đặn, mang lông che chở, bên ngoài có phủ một lớp cutin dày. Dưới biểu bì là đám mô dày góc. Mô mềm gồm những tế bào màng mỏng, hình tròn hay bầu dục dẹp, kích thước khác nhau, chứa tinh bột và nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Có nhiều tinh thể calci oxalat hình khối ở libe. Bó libe-gỗ chồng kép hình vòng cung gồm những đám libe tế bào nhỏ xếp thành 2 cung bao bọc lấy cung gỗ. Nhiều đám sợi vách bằng cellulose xếp mặt trên và mặt dưới cung libe. Phiến lá: Tế bào biểu bì nhỏ, xếp đều đặn mang lông che chở, bên ngoài có phủ một lớp cutin dày. Bên dưới biểu bì trên và dưới có 3-4 lớp tế bào mô dày. Mô mềm giậu gồm 2-3 lớp. Mô mềm khuyết gồm những tế bào màng mỏng, phân nhánh, chừa khuyết to. Biểu bì dưới có nhiều phòng ẩn lỗ khí lớn, có nhiều lông che chở đơn bào dài. Tinh thể calci oxalat hình cầu gai ở phần tiếp giáp giữa mô mềm giậu và mô mềm khuyết.
Bột lá: Màu xanh lục nhạt, gồm các thành phần: Mảnh tế bào biểu bì chứa lỗ khí, mảnh tế bào biểu bì, mảnh mô mềm, mảnh mô dày, mô mềm khuyết, mô mềm giậu, có nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai, tinh thể calci oxalat hình khối, đám sợi mô cứng, mạch xoắn, mạch vạch, hạt tinh bột, lông che chở.

Thành phần hóa học

Trong lá Trúc đào người ta nghiên cứu thấy bốn glucosid chủ yếu là oleandrin, nerin, neriantin, adynerin.
1. Oleandrin còn gọi là Neriolin (Liên Xô cũ) hay folinerin (Theo Schering)  hoặc Oleandrosid có công thức nguyên là C32H48O9 Trọng lượng phân tử là: 576,70 là 1 glucosid không màu, có tinh thể hình kim, vị rất đắng. Nhiệt độ nóng chảy 245 – 250 độ C, năng suật quay cực là αD= -50 -51 01 Trong rượu methylic kém hơn trong rượu ethylic). Cho phản ứng Legel và phản ứng Keller – Kiliani.
Oleandrin
Thủy phân acid (dùng HCl 0.1 N, trên nồi cách thủy 2 giờ). Sẽ cho phản ứng là Oleandrigenin (hay 16 acetyl gitoxigenin) và một chất đặc biệt là Cleandrosa. Nhưng nếu dùng dung dịch 0,5 N HCl thủy phân trong  4 giờ trên nồi cách thủy
Tạo ra dianhydrogitoxigenin. Nếu dùng dung dịch kiềm nhẹ để thủy phân thì sẽ thu được gốc Desaxtyloleandrin.
Desaxtyloleandrin., hoạt tính sinh vật là 6000 Đ.V.E trong 1 gam.
2.         Nerin:
Còn gọi là Neriosid. Đây không phải là một nguyên chất mà là 1 hỗn hợp các glucosid trợ tim không có tinh thể, bột vô định hình, màu vàng tan trong nước và rượu, không tan trong ether ethylic và ether dầu hỏa, chloroform, benzen, acetat ethyl, dung dịch lỏng, trong nước dễ tạo bọt, vị đắng, đun tới 160 – 170 0C thì phân giải, năng suật quay cực α d = -20 0 C (C = 5%  trong cồn ) cho phản ứng Legal, không cho phản ứng  Keller – Kiliani mặt phân cách 2 lớp dung dịch có màu đỏ, lớp acid acetic có màu vàng xanh. Sau khi thủy phân bằng dung dịch 3 HCl đun sôi đến 37 – 39 % chất genin vô định hình, trong đó chỉ có 7- 10 % là không tan trong clorofoc. Do đó Zabolotnaiu là người nghiên cứu chất này đã đi đến kết luận là ít nhất neriin gồm 2 chất khác nhau. Nerin có tác dụng trợ tim yếu.
3. Adynerin
Là một glucosid có tinh thể, không tan trong nước và benzen, tan trong cồn cao độ 97 0C, chloroform, khó tan trong cồn methylic. Độ chảy 219-220 0C. Năng suất quay cực αD = + 9 038, trong công thức có một nối kép giữa C8 và C9, do đó không có tác dụng trợ tim.
Adynerin
4.         Neriantin
Là một glucosid có tinh thể hoặc vô dịnh hình, vị đắng, tan trong nước và cồn, không có tác dụng trợ tim. Công thức cấu tạo chưa được xác định rõ ràng, trong phân tử có 2 nối kép nhưng vị trí chưa xác định.
Neriantin, tuy hàm lượng nhiều nhưng hoạt tính sinh vật rất thấp vì không có nhóm OH ở C-14 nên không có ý nghĩa thực tế.
Neriantin
Ngoài ra, trong lá còn các thành phần khác như: acid ursolic, các dẫn chất flavonoid: rutosid và nicotuflovin (=3 rhamnoglucosid của kaempferol).
Vỏ cây có chứa 4 glycosid tim, ngoài ra còn có plumierid là một iridoid glycosid, vỏ cây không có ý nghĩa thực tế.
Hạt chứa 26 glycosid.
Chiết xuất oleandrin
Gồm 4 giai đoạn
a)      Chiết: Lá khô đem xay thô (2-5 mm). Ngâm 5kg bột lá với 50 lít cồn 250 trong 24 giờ. Gạn được chừng 25-27 lít, ép bã lấy thêm được 18-20 lít nữa.
b)      Loại tạp: Dồn các dịch chiết lại rồi thêm 1/2 lít dung dịch chì acetat 30%. Sau đó thử xem đã hết tạp chưa bằng cách lọc một ít và thêm vào dịch lọc một ít chì acetat, nếu còn tủa thì phải thêm chì acetat nữa. Để yên trong 1 đêm, gạn lấy nước trong, phần không gạn được thì lọc, rửa cặn với 2 lít cồn 25O. Dồn các nước trong lại và rót dần vào đấy 2 lít dung dịch Na2SO4 15%, quấy đều, lọc, thử xem đã hết Pb(CH3COOH)2 chưa, nếu còn phải thêm dung dịch Na2SO4.
c)      Bốc hơi dung môi: Cho dịch lọc vào nồi, bốc hơi ở áp suất giảm, nhiệt độ từ 50-55O. Cất cho đến khi còn 1/6 thể tích ban đầu nghĩa là còn khoảng 8 lít, để nguội. Glycosid thô sẽ đọng lại ở đáy nồi (khoảng 48-50g).
d)        Tinh chế:  Cho glycosid thô vào bình, thêm 200ml cồn 700, đặt vào nước nóng cho tan hết, rồi cho vào tủ lạnh trong vài ngày. Lọc lấy tinh thể, kết tinh lại một vài lần, sẽ thu được 5-6g oleandrin tinh chế.

Tác dụng dược lý và độc tính

a)        Tác dụng dược lý:
Lá trúc đào chứa nhiều loại glycosid. Đã chứng minh tác dụng trợ tim của 16-anhydrodigitalinum verum monoacetat, odorosid D, K, odorobiosid K, monoacetat của odorotriosid G, odorobiosid G và odorosid H. Hàm lượng thấp của những glycosid này ngăn cản việc đưa chúng vào thử lâm sàng. Hoạt chất chính oleandrin của lá trúc đào hấp thụ tốt khi uống, và khác với Digitalis là ít tích lũy, có tác dụng kích thích tim và lợi niệu rõ rệt. Nerifolin tác dụng yếu hơn nhiều. Các flavonol glycosid có tác dụng đối với độ thấm thành mạch và lợi tiểu. Trên lâm sàng, cornerin có tác dụng đối với các rối loạn về tim, đặc biệt cải thiện chức năng của cơ tim. Vỏ có 1 glycosid độc, rosaginin.
Trúc đào có hoạt tính ức chế sự sinh trưởng đối với các dòng tế bào ung thư người, với liều có tác dụng ED50 xê dịch từ 0,008 đến 2,13 microgam/ml, tùy thuộc vào dòng tế bào. Cao cồn trúc đào (lá, thân, rễ) có tác dụng kháng siêu vi khuẩn trong thí nghiệm xác định nồng độ tối thiểu ức chế sự phát triển của siêu vi khuẩn, và tác dụng chống ung thư trong thử nghiệm  xác định nồng độ thấp nhất diệt các tế bào một tầng phát triển nhanh lấy từ thận khỉ được nuôi cấy và gây nhiễm với siêu vi khuẩn bệnh herpes typ 1.
Một phân đoạn polysaccharid thô, thu được do tủa từ cao nước trúc đào bằng cồn, đã có hoạt tính rất cao trong thử nghiệm về thực bào bạch cầu hạt in vitro, với những nồng độ từ 10-6 đến 10-2 mg/ml. Phân đoạn này cho nhiều polysaccharid với trọng lượng phân tử tương ứng từ 17.000 đến 12.000 D, xác định bằng phương pháp lọc đông và sắc ký trao đổi ion. Từ dịch thẩm tách, đã thu được một hỗn hợp polysaccharid do tủa bằng cồn, tiếp theo bởi sắc ký đông. Hỗn hợp này gồm ba polysaccharid có trọng lượng phân tử tương ứng: 3.000; 5.500 và 12.000 D. Chúng đều chứa acid galacturonic cùng với rhamnose, arabinose, xylose, galactose và glucose. Hỗn hợp polysaccharid này có hoạt tính rất cao trong các thử nghiệm miễn dịch học vê thực bào bạch cầu hạt, về yếu tố hoại tử u, và về sự chuyển dạng của tế bào lympho.
Glycosid toàn phần (thuốc neriolin) sản xuất từ lá trúc đào ở Việt Nam dưới dạng thuốc uống, được áp dụng điều trị cho bệnh nhân suy tim, đã có tác dụng trợ tim tốt, làm đỡ triệu chứng khó thở ở bệnh nhân suy tim sau 2-3 giờ (tác dụng rõ rệt). So với digitalin, neriolin (oleandrin) có những ưu điểm sau:
-            Hấp thụ nhanh khi qua bộ máy tiêu hóa nên không bị các men và acid của bộ máy tiêu hóa phá hủy.
-            Tích lũy rất ít.
-            Làm đi tiểu nhiều.
b)        Độc tính:
Độc tính của lá trúc đào đã được biết từ lâu. Tại châu Âu, người ta kể những trường hợp lính vùng đảo Corse (một đảo thuộc miền Nam nước Pháp) đã bị ngộ độc chết do ăn chả dùng cành cây trúc đào xiên vào thịt nướng. Có những người đã ngộ độc nặng do uống nước đựng trong chai nút bằng thân cây trúc đào, hay do uống nước suối có rễ cây trúc đào mọc ở gần. Nhân dân tỉnh Nice đã dùng bột vỏ thân và bột gỗ trúc đào để đánh bả chuột.

Công dụng:

·           Lá trúc đào được dùng làm nguyên liệu chiết xuất oleandrin, là thuốc uống được chỉ định điều trị suy tim, hở lỗ van hai lá, nhịp tim nhanh kịch phát, các bệnh tim có phù và giảm niệu, và dùng luân phiên với thuốc Digitalis. Neriolin dùng dưới hình thức dung dịch rượu và thuốc viên.
Ø        Dung dịch rượu 1/5.000 chế như sau:
Neriolin 0,20g, cồn 700. Đun cách thủy cho đến khi tan hết neriolin. Để nguội, thêm cồn 70O vào cho đủ 1 lít. Lọc qua giấy. Để vào các lọ màu, mỗi lọ 10-15 hay 20ml. Phải bảo quản ở nơi mát. Ngày uống 3-4 lần, mỗi lần 10 (X) giọt.
Ø         Viên neriolin: Mỗi viên chứa 0,1 hay 0,2mg. Ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên 0.1mg.
Theo kinh nghiệm điều trị ở Bệnh viện Việt – Tiệp Hải Phòng, ngày dùng khoảng 0,4-1,2mg. Có thể dùng liên tục vì thuốc thải trừ nhanh chóng, có bệnh nhân dùng hằng năm mà không có triệu chứng ngộ độc.
·           Vì có tính độc cao, nên trúc đào không được dùng làm thuốc uống trong y học cổ truyền, chỉ dùng để chế thuốc trừ sâu và nấu nước rửa trị ghẻ lở (20-30g lá tươi nấu nước đặc rửa, ngày một lần).
·           Trong y học dân gian ấn độ, lá trúc đào dùng để chữa phát ban ở da. Nước sắc lá được dùng để diệt giòi ở vết thương. Cao nước lá, cành, rễ và hoa độc đối với một số loài sâu bọ. Cây trúc đào được dùng làm bả chuột ở Nam châu Âu. Mật ong từ nhụy hoa trúc đào cũng có thể có độc. ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhân dân dùng cao nước lá trúc đào để điều trị ung thư. ở Angieri, thuốc sắc lá trúc đào trị eczema và chống nhiễm khuẩn. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

PHÂN BỐ GlYCOSID TIM TRONG TỰ NHIÊN

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

V. PHÂN BỐ TRONG TỰ NHIÊN


Người ta tìm thấy glycosid tim trong các họ thực vật: Apocynaceae, Asclepiadaceae, Celastraceae, Clusiaceae, Euphorbiaceae, Leguminosae, Liliaceae, Meliaceae, Moraceae, Ranuculaceae, Scrophulariaceae, Sterculiaceae và Tiliaceae.
Glycosid tim có thể gặp trong mọi bộ phận của cây: lá, hoa, vỏ thân, rễ, thân rễ, dò, nhựa mủ.
Người ta còn phát hiện thấy glycosid tim có mặt trong một số côn trùng như bướm và sâu bướm nữ hoàng thường sống trên cây Asclepias syriaca; hoặc rệp Aphis nerii sống trên cây Asclepias curassavica. Chúng thu nhận cardenolid từ cây để làm chất bảo vệ chống kẻ thù ăn thịt. Tuy nhiên gần đây người ta phát hiện các loài bọ cánh cứng Chrysolina spp. thu nhận các sterol từ thức ăn thực vật rồi tổng hợp thành  glycosid tim. Người ta phát hiện 14 glycosid mới có các đường hiếm như lyxose, allose, ribose và một aglycon mới trong loại bọ nói trên.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

TÍNH CHẤT, ĐỊNH TÍNH, ĐỊNH LƯỢNG GLYCOSID TIM

IV. TÍNH CHẤT, ĐỊNH TÍNH, ĐỊNH LƯỢNG


1. Tính chất
Glycosid tim là những chất kết tinh, không mầu, vị đắng, có năng suất quay cực, tan trong nước, cồn, không tan trong benzen, ether.
Glycosid tim có đường 2-desoxy sẽ rất dễ bị thủy phân khi đun với acid vô cơ 0,05N trong methanol 30 phút, trong khi những glycosid khác trong điều kiện đó khó bị thủy phân.
Glycosid tim dễ bị thủy phân bởi các enzym. Các enzym, thường có sẵn trong cây, có khả năng cắt các đơn vị đường cuối mạch (xa aglycon) thường là glucose để chuyển thành các glycosid thứ cấp như enzym digilanidase trong lá Digitalis lanata, digipurpidase trong lá Digitalis purpurea, strophanthobiase trong hạt Strophanthus courmontii, scillarenase trong Urginea maritima.
Vòng lacton 5 cạnh hay 6 cạnh dễ bị mở bởi tác dụng của kiềm rồi tạo thành dẫn chất iso không tác dụng. Dưới đây là cơ chế tạo thành dẫn chất iso của nhóm cardenolid.


2. Các thuốc thử định tính và định lượng
Các thuốc thử định tính cũng như để định lượng chủ yếu dựa trên các thuốc thử tạo mầu ở ánh sáng thường hoặc tạo huỳnh quang dưới ánh sáng cực tím.
Trước khi tiến hành các phản ứng, người ta loại tạp chất trong nguyên liệu bằng ether dầu hỏa hoặc hexan, sau đó chiết bằng cồn, pha loãng độ cồn rồi lại loại tạp tiếp bằng dung dịch chì acetat 15%, lọc, dịch lọc được lắc với chloroform hoặc hỗn hợp chloroform-ethanol (4:1). Bốc hơi dịch chiết rồi hòa glycosid trong dung môi thích hợp để tiến hành phản ứng.
Các thuốc thử có thể chia làm 2 loại: loại thuốc thử phản ứng với đường 2,6 desoxy và loại thuốc thử phản ứng với aglycon.

2.1 Các thuốc thử tác dụng lên phần đường
2.1.1. Thuốc thử xanthydrol
Thuốc thử gồm có 10 mg xanthydrol hòa trong 99 ml acid acetic và thêm 1 ml HCl, trộn đều. Thuốc thử này dương tính với các đường 2,6-desoxy và glycosid có đường này. Phản ứng cho mầu đỏ mận rõ và ổn định. Thuốc thử chỉ giữ được 1-2 ngày do vậy khi dùng mới pha.
Phản ứng kém nhạy với đường 2,6-dexosy đã acetyl hóa và âm tính với đường 2,6-desoxy đã nối với glucose ở vị trí 4. Do đó trong digitoxin thì cả 3 đơn vị digitoxose của mạch đường đều phản ứng với xanthydrol, trong lúc đó purpureaglycosid A chỉ có 2 đơn vị digitoxose phản ứng vì đơn vị thứ ba đã nối với glucose. Các đường 2,6-desoxy âm tính với thuốc thử.
Thực hiện: Lấy khoảng 20-200 μg glycosid cho vào ống nghiệm khô, thêm 5ml thuốc thử rồi trộn đều, đậy nút bông, đặt trên nồi cách thủy sôi 3 phút sau đó làm lạnh bằng cách ngâm 5 phút vào nước đá và để ở nhiệt độ phòng 10 phút. Đọc trên quang phổ kế ở bước sóng 550 nm. Nếu định tính thì không cần làm lạnh.
2.1.2. Thuốc thử acid phosphoric đậm đặc
10-20 μg đường 2,6-dexosy hoặc một lượng glycosid có lượng đường tương đương được hòa trong 1 ml aceton. Thêm 5 ml acid phosphoric đậm đặc (d=1,70) trộn đều, nhúng vào nước nóng 15 phút, làm nguội. Dung dịch có mầu vàng được đo bằng quang phổ kế ở λ 474 nm.
2.2.3. Thuốc thử Keller-Kiliani
Thuốc thử được pha làm 2 dung dịch:
- Dung dịch 1 gồm 100 ml acid acetic đậm đặc trộn với 1 ml dung dịch FeCl3 5%.
- Dung dịch 2 gồm 100 ml acid sulfuric đậm đặc trộn với 1 ml dung dịch FeCl3 5%.
Hòa tan 5 mg glycosid vào dung dịch 1 rồi cho thêm dung dịch 2. Mặt ngăn cách có mầu đỏ hoặc nâu đỏ và dần dần sẽ thấy lớp trên có mầu xanh từ dưới khuếch tán lên. Độ nhạy của phản ứng kém thuốc thử xanthydrol. Mầu không ổn định nên ít dùng để định lượng.
Cần chú ý thuốc thử Keller-Kiliani và xanthydrol cũng dương tính với các digitanol glycosid (glycosid có trong Digitalis không phải glycosid tim nhưng có phần đường 2,6-desoxy).
2.2. Các thuốc thử tác dụng lên phần aglycon
Các thuốc thử này có thể phân làm 2 nhóm: nhóm thuốc thử phản ứng lên nhân steroid và nhóm phản ứng lên vòng lacton.
2.2.1. Các thuốc thử phản ứng lên nhân steroid
Thuốc thử cho mầu
Thuốc thử Liebermann-Burchardt: Phản ứng này không những chỉ lên mầu với glycosid tim mà còn lên mầu với nhiều dẫn chất có nhân steroid khác.
Thực hiện theo Stoll: chất thử cho vào ống nghiệm, thêm vài giọt acid acetic sau đó thêm vài ml hỗn hợp gồm 50 phần anhydrid acetic và phần acid sulfuric, trộn đều, mầu thay đổi từ hồng đến xanh lá.
Thực hiện theo Brieskorn: một ít chất thử (10 ml) hòa tan trong chloroform, thêm 2 ml hỗn hợp thuốc thử (gồm 1 ml H2SO4 đậm đặc và 20 ml anhydrid acetic). Tùy theo glycosid mà mầu thay đổi từ đỏ đến hồng dần dần đến xanh lá, xanh chàm.


Thuốc thử cho huỳnh quang dưới ánh sáng UV.
Các tác nhân dehydrat hóa làm mất nước tạo huỳnh quang do hình thành nối đôi ở vị trí 14 (15); đối với cardenolid có OH ở C-16 thì thêm nối đôi vị trí 16 (17) tạo thành hệ nối đôi liên hợp vói vòng butenolic nên huỳnh quang càng mạnh hơn.
Acid phosphoric (phản ứng Pesez-Jensen): phản ứng này rất nhạy (mức μg), cho huỳnh quang xanh ve. Nếu thực hiện với glycosid có đường 2-desoxy mầu vàng của thuốc thử trên phần đường có thể ảnh hưởng đến kết quả phản ứng. Có thể khắc phục bằng cách thêm hydrazin hydrat, chất này sẽ gắn vào nhóm aldehyd của đường.
Thuốc thử Tattje: Thuốc thử gồm 62,5g acid phosphoric 85%, 37,5 g H2SO4 đđ. và 0,05 g FeCl3.6H2O. Thuốc thử này cho phản ứng với các cardenolid có OH ở C-16 (kể cả trường hợp đã bị ester hóa) mầu đỏ đậm sau khi đun 5 phút ở 1000 C. Mầu bền trong 2 giờ. Đối với các dẫn chất không có nhóm OH này thì mầu kém khoảng 100 lần so với chất tương ứng. Nếu định lượng, đọc ở bước sóng 271 nm.
Thuốc thử Svendsen-Jensen: dung dịch acid trichloracetic 25% trong cồn 95% hoặc CHCl3 dùng phun để phát hiện khi tiến hành sắc ký. Các cardenolid có OH ở C-16 cho huỳnh quang xanh (độ nhạy ở mức μg).
2.2. Các thuốc thử tác dụng lên vòng butenolic
Các glycosid và aglycon thuộc nhóm cardenolid khi cho tác dụng với những dẫn chất nitro thơm ở môi trường kiềm sẽ tạo nên những sản phẩm có mầu đỏ đến tím. Phản ứng phụ thuộc vào nhóm methylen hoạt động của vòng butenolic.
Thuốc thử Baljet
Baljet nghiên cứu oxy hóa digitoxigenin bằng acid picric (2,4,6-trinitro phenol) trong môi trường kiềm thấy có mầu đỏ da cam, sau đó thấy các glycosid tim khác cũng có mầu. Mầu tương đối bền nên dùng cả định tính lẫn định lượng. Phản ứng được giải thích do sự tạo thành phức anion có mầu:


Thuốc thử: hòa tan 0,100 g acid picric trong 25 ml ethanol 90% thêm một hỗn hợp gồm 5 ml NaOH 15% và 70 ml nước cho đủ 50 ml, trộn đều, khi dùng mới pha.
Thuốc thử Kedde
Thuốc thử là dung dịch 3,5-dinitro benzoic acid 2% trong ethanol. Chất thử được hòa tan trong ethanol, thêm thuốc thử rồi thêm dung dịch NaOH, phản ứng có mầu đỏ tía. Nếu định lượng, đọc ở bước sóng 540 nm.
Thuốc thử Raymond-Marthoud
Thuốc thử là m-dinitrobenzen 1% trong  cồn tuyệt đối, cũng thực hiện trong môi trường kiềm. Phản ứng có mầu tím, mầu không bền nên cũng cản trở việc định lượng.
Ngoài những thuốc thử nitro thơm nói trên, người ta còn dùng một số thuốc thử nitro thơm khác như 2,4-dinitronaphatalen (thuốc thử Frère Jacque); 2,2’,4,4’-tetranitro diphenyl; 2,4-dinitrophenyl sulfon; 3,5-dinitroaisol.. cũng thực hiện trong môi trường kềm.
Thuốc thử Legal
Các chất thuộc nhóm cardenolid khi hòa tan vào pyridin rồi thêm dung dịch natri nitroprussiat 0,3 – 0,5% sau đó thêm vào dung dịch NaOH 10 – 15% để đảm bảo môi trường kiềm sẽ xuất hiện mầu đỏ.
Chú ý rằng các thuốc thử nitro thơm nói trên và thuốc thử Legal âm tính với các dẫn chất thuộc nhóm bufadienolid. Muốn phát hiện nhóm này có thể dùng thuốc thử SbCl3 trong chloroform sẽ có mầu tím sau khi đun nóng. Tốt nhất là dựa vào quang phổ tử ngoại. Ngoài ra một số hợp chất tuy không thuộc nhóm cardenolid nhưng có nhóm methylen hoạt động đứng cạnh nhóm carbonyl cũng dương tính với các thuốc thử thuộc nhóm nitro thơm và thuốc thử Legal nói trên ví dụ như chất neoandrographolid, thujon, benzalceton…
3. Sắc ký
Để xác định đối chiếu hoặc tách từng chất để nghiên cứu ta có thể thực hiện sắc ký lớp mỏng, dùng chất hấp phụ là silicagel G.
Sau đây là một vài hệ dung môi: ethylacetat-methanol-nước (80:5:5), chloroform-pyridin (60:10), chloroform-methanol (98:2), butanol-acid acetic-nước (100:4:24) hay (100:10:30), ethyl acetat-pyridin-nước (5:1:4), dichloromethan-methanol-formamid (80:19:1).
Để hiện mầu các dẫn chất nhóm cardenolid, có thể dùng một số thuốc thử đã nói ở phần trên, hay dùng là thuốc Kedde (mầu đỏ tía), thuốc thử Raymond-Marthoud (mầu tím). Các dẫn chất có đường 2-desoxy thì dùng thuốc thử xanthydrol.

4. Quang phổ
Trong vùng tử ngoại, nhóm cardenolid có đỉnh hấp thu cực đại 215-218 nm và log ε khoảng 4,1; nếu trong phân tử có thêm nhóm carbonyl (ví dụ strophanthidin) thì có đỉnh hoặc vai ở 272 -305 nm, còn các dẫn chất bufadienolid có đỉnh hấp thu cực đại ở khoảng 300 nm log ε khoảng 3,7.
Trong vùng hồng ngoại, nhóm bufadienolid do có vòng coumarin (pyran-2-on) nên có các đỉnh hấp thu ở 1730 cm-1 và 2 đỉnh ở 1640 và 1540 cm-1.
5. Định lượng
Để định lượng nhóm cardenoid, người ta dựa vào các phản ứng cho mầu hoặc huỳnh quang đã nói ở trên.
Có thể định lượng trực tiếp trên dịch chiết toàn phần đã loại tạp hoặc sau khi tách các cardenolid chính trong dược liệu bằng sắc ký lớp mỏng. Tiếp theo, khi đánh giá các vết bằng máy đo mật độ quang trực tiếp trên sắc đồ hoặc hòa tan cardenolid ứng với các vết, làm phản ứng mầu rồi đo mật độ quang. Có thể định lượng bằng phương pháp phổ huỳnh quang, phương pháp này có độ nhạy cao. Cũng có khi người ta định lượng các genin sau khi thủy phân bằng cách đun sôi với HCl 0,2 N, chiết bằng ether hoặc chloroform, bốc hơi dung môi rồi tiến hành làm phản ứng mầu hoặc huỳnh quang.
Phương pháp đo quang dựa trên phản ứng của glycosid tim với acid picric (thuốc thử Baljet), dinitrobenzen-NaOH (thuốc thử Raymond – Marthoud) cũng được sử dụng để định lượng glycosid tim toàn phần sau khi tinh chế dịch chiết dược liệu. [BP 2009]
Phương pháp sắc ký lỏng cao áp cũng được sử dụng trong glycosid tim. Pha tĩnh thường sử dụng là RP-18, glycosid tim được phát hiện bằng detector UV ở 220 nm.
6. Đánh giá bằng phương pháp sinh vật
Trong nhiều trường hợp, kết quả của phương pháp định lượng bằng hóa học nêu ở trên không ăn khớp với liều tác dụng nên Dược điển các nước và Dược điển Việt Nam qui định đánh giá hiệu lực của glycosid tim bằng phương pháp sinh vật. Súc vật hay dùng là mèo hoặc ếch. Đối với mèo chúng ta căn cứ vào liều gây ngừng tim ở thời kỳ tâm trương, đối với ếch căn cứ vào liều gây ngừng tim ở thời kỳ tâm thu.
Đối với ếch, dung dịch thử được tiêm theo đường dưới da vào túi bạch huyết, đối với mèo tiêm vào tĩnh mạch đùi, sau đó tính ra đơn vị ếch hoặc đơn vị mèo.
Đơn vị ếch (Đ.V.Ê) là liều tối thiểu của dược liệu hay glycosid tim làm cho đa số ếch trong 1 lô ếch thí nghiệm bị ngừng tim. Thí nghiệm tiến hành trong những điều kiện quy định.
Đơn vị mèo (Đ.V.M) là liều tối thiểu của dược liệu hay glycosid tim làm cho tim mèo ngừng đập, tính theo 1kg thể trọng. Thí nghiệm tiến hành trong những điều kiện quy định.
Cần chú ý rằng mỗi loài động vật chịu đựng với các liều độc rất khác nhau. Liều độc với thỏ gấp 2 lần mèo còn đối với chuột cống thì gấp 60 lần. Ếch rất nhạy cảm với glycosid tim, khác với cóc. Người ta còn thấy rằng mèo và chó cùng chịu đựng một liều như nhau đối với cao chiết từ hạt S. kombe nhưng digitoxin tác dụng trên chó yếu hơn trên mèo.
7. Bảo quản
Những dược liệu chứa glycosid tim sau khi đã ổn định, làm khô và để nơi khô ráo cũng chỉ có giá trị sử dụng trong 1 năm. Những dạng bào chế có độ ẩm tối đa 3,5% đựng trong bao bì hàn kín có thể bảo quản tới 5 năm.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

LIÊN QUAN GIỮA CẤU TRÚC VÀ TÁC DỤNG CỦA GLYCOSID TIM

III. LIÊN QUAN GIỮA CẤU TRÚC VÀ TÁC DỤNG

Phần quyết định tác dụng lên tim của glycosid tim là phần aglycon bao gồm nhân steroid và vòng lacton chưa bão hòa. Cả hai phần đều quan trọng:
 - Nếu vẫn giữ vòng lacton nhưng thay nhân steroid bằng nhân benzen, naphtalen… tác dụng lên tim sẽ mất.
 - Nếu vẫn giữ nguyên nhân steroid mà thay đổi vòng lacton như: bão hòa nối đôi, mở vòng, thay vòng lacton bằng vòng lactam thì tác dụng mất hoặc giảm đi rất nhiều.
Sự hấp thu qua dạ dày, tá tràng, ruột, phụ thuộc vào số lượng nhóm OH của phần aglycon, nói cách khác là phụ thuộc vào tính ái dầu của nó. Digitoxin dễ hấp thu qua đường tiêu hóa, tái hấp thu qua thận, gan và có tính tích lũy trong cơ thể vì aglycon (digitoxigenin) chỉ có 2 nhóm OH. Ouabain có nhiều nhóm OH tự do trong phần aglycon nên khó hấp thu qua đường tiêu hóa (nên phải dùng qua đường tiêm tĩnh mạch) và thải trừ nhanh.
Nhóm OH ở C-14 rất quan trọng, thiếu nhóm này tác dụng trên tim sẽ giảm đi rất nhiều.
Nhóm OH ở C-3 hướng α cũng làm giảm tác dụng. Qua quá trình chuyển hóa trong cơ thể, β-OH ở vị trí C-3 bị epimer hóa sang α-OH để thải ra ngoài.
Thí nghiệm trên súc vật cho thấy một số cardenolid khi đưa vào cơ thể sẽ được gắn thêm OH ở C-12 chuyển thành chất có tính phân cực hơn để dễ thải ra ngoài.
Dung hợp giữa các vòng của nhân steroid cũng ảnh hưởng đến tác dụng của glycosid tim: C/D cấu hình cis có tác dụng quyết định lên tim. A/B trans giảm tác dụng 10 lần so với dẫn chất cis tương ứng.
Vòng lacton hướng α cũng giảm tác dụng lên tim.
Ở dạng aglycon, hoạt tính của nhóm bufadienolid mạnh hơn dẫn chất cardenolid tương ứng. Trong hai nhóm cardenolid và bufadienolid thì nhóm đầu được sử dụng nhiều hơn. Nhóm bufadienolid hay gây tác dụng phụ.
Phần đường ít có ảnh hưởng đến tác dụng của glycosid tim, chủ yếu là ảnh hưởng đến độ hòa tan, hấp thu và thải trừ của glycosid tim.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.

CẤU TRÚC HÓA HỌC GLYCOSID TIM

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

I. CẤU TRÚC HÓA HỌC

Glycoisid tim cũng như các glycosid khác, cấu trúc hóa học gồm 2 phần: glycon và phần đường.

1. Phần aglycon có thể chia làm 2 phần: nhân hydrocarbon và mạch nhánh vòng lacton.
1.1. Nhân hydrocarbon
Nhân hydrocarbon có cấu trúc steran: 10, 13-dimethyl cyclopentanoperhydrophenanthren. Đính vào nhân này có các nhóm chức oxy.
Ở C-3 luôn luôn có đính nhóm OH, hầu hết các chất có trong cây đều hướng β, trừ một vài chất ví dụ carpogenin, carpogenol, epidigitoxigenin có OH C-3 hướng α.


Ở C-14 của hầu hết các glycosid tim có tác dụng sinh học đều có nhóm OH hướng β. Một vài chất không có nhóm OH này do trong quá trình thủy phân hoặc do sắc ký cột có xẩy ra sự dehydrat hóa tạo thành nối đôi ở C 14-15. Tuy nhiên, có một số chất do bản chất tự nhiên không có nhóm OH này như các chất diffugenin, strophanthilin A, β-anhydro-uzarigenin.

Sự oxy hóa (gắn nhóm OH hoặc carbonyl) còn có thể xảy ra thêm ở các vị trí như 1, 5, 11, 12,  16, 19. Mức độ oxy hóa ở C-19 có thể là CH2OH, CHO, COOH. Các chất có mức độ oxy hóa khác nhau này thường cùng tồn tại trong cùng một cây. Chất G-strophanthidin có đến 6 OH trong phần aglycon. Nhóm OH có thể bị acyl hóa ví dụ oleandrigenin, gitalixigenin. Có trường hợp các nhóm OH  gần nhau tương tác với nhau để tạo nhóm chức epoxy, ví dụ adynerin. Nhóm OH ở C-11 có thể tác dụng với COOH ở C-19 để tạo thành vòng lacton ví dụ chất sarmentosigenin E có trong Strophanthus sarmentosus.

Sự dung hợp các vòng của khung hydrocarbon: phần lớn các glycosid tim đều có 2 vòng A và B là cis, B và C trans, C và D cis ví dụ digitoxigenin có trong cây Digitalis được vẽ công thức trong mặt phẳng và công thức lập thể dưới đây.



Digitoxigenin


Một số ít có vòng A và B trans. Ví dụ như uzarigenin – aglycon của uzarin (uzarosid) có trong “uzara”, một dược liệu thuộc chi Gomphocarpus họ Asclepiadaceae ở Nam Phi.



1.2. Vòng lacton
Phần glycon của glycosid tim ngoài khung hydrocarbon nói trên, đặc biệt còn có một vòng lacton nối vào vị trí C-17 của khung. Vòng lacton này được co là mạch nhánh.

Hầu hết các chất có tác dụng sinh học đều có vòng lacton ở hướng β. Một số ít ở hướng α do enzym epimerase có mặt trong cây chuyển hóa mà thành. Có hai loại vòng lacton: loại thứ nhất có 4 carbon với một nối đôi ở vị trí α-β, những aglycon nào có vòng lacton này thì có 23 carbon và được xếp vào nhóm “cardenolid”. Loại thứ  hai có 5 carbon có 2 nối đôi (vòng γ-pyron hay coumalin), những aglycon nào có vòng lacton này thì có 24 carbon và được xếp vòa nhóm “bufadienolid” (do chữ bufo = cóc, dien = 2 nối đôi. Trong nhựa cóc có các chất có cấu trúc hoàn toàn giống như aglycon của nhóm này, ví dụ bufotalin).
Các glycosid tim trong thiên nhiên thường là loại cardenolid; một số ít thuộc loại bufadienolid như scillaren A có trong Hành biển (Urginea martima L.) hellebrin có trong cây Helleborus niger L.

2. Phần đường
Phần đường trong glycosid tim nối vào OH ở C-3 của aglycon. Cho đến nay người ta biết khoảng 40 loại đường monosaccharid khác nhau trong các glycosid tim. Ngoài những đường thông thường như D-glucose. L-rhamnose, D-xylose, D-fucose có gặp trong những nhóm glycosid khác, còn lại là những đường đặc biệt của glycosid tim. Trong các đường này, đáng chú ý là các đường 2,6-desoxy. Dưới đây là một số đường 2,6-desoxy làm ví dụ.


Các đường 2,6-desoxy có những đặc tính sau: dễ bị thủy phân, cho phản ứng màu với thuốc thử Keller-Kiliani và thuốc thử xanthydrol.
Mạch đường có thể là monosaccharid hoặc oligosaccharid. Gitoxincellobiosid trong Digitalis tía có mạch đường với 5 đơn vị đường đơn:

Gitoxincellobiosid = Gitoxigenin + (digitoxose)3 + (glucose)2

Người ta nhận thấy rằng ở glycosid tim glucose bao giờ cũng ở cuối mạch (xa aglycon).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

ĐỊNH NGHĨA GLYCOSID TIM

I. ĐỊNH NGHĨA

Glycosid tim là những glycosid steroid có tác dụng đặc biệt lên tim. Ở liều điều trị có tác dụng cường tim, làm chậm nhịm tim và điều hòa nhịp tim. Các tác dụng trên được gọi là tác dụng theo quy tắc 3R của Potair. Nếu quá liều sẽ gây nôn làm chảy nước bọt, mờ mắt, tiêu chảy, yếu các cơ, loạn nhịp tim, nhĩ thất phân ly, ngoại tâm thu, giảm sức co bóp của tim và cuối cùng làm ngừng tim ở thời kỳ tâm thu trên tim ếch và tâm trương trên tim động vật máu nóng.

Glycoid tim còn được gọi là glycoisid digitalic vì glycosid của lá cây Digitalis được dùng đầu tiên trên lâm sàng để chữa bệnh tim.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

GLYCOSID TIM VÀ DƯỢC LIỆU CHỨA GLYCOSID TIM

GLYCOSID TIM VÀ DƯỢC LIỆU CHỨA GLYCOSID TIM


V. PHÂN BỐ TRONG TỰ NHIÊN
DƯỢC LIỆU CHỨA GLYCOSID TIM
Strophanthus
Digitalis
Digitalis tía
Digitalis lông
Hạt đay
Hành biển
MỘT SỐ DƯỢC LIỆU KHÁC CHỨA GLYCOSID TIM