Gấu-Họ Gấu - Ursidae

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

GẤU


Ở Việt Nam có mấy loại gấu:
- Gấu ngựa - Selenarctos thibetanus G. Cuvir
- Gấu chó - Ursus aretos lisiotus Gray
Họ Gấu - Ursidae

Gấu

Đặc điểm, phân bố và nuôi gấu

Gấu ngựa có khoang trắng hình chữ V ở ngực. Thính giác và khứu giác phát triển nhiều hơn so với thị giác. Trọng lượng mỗi con 50 - 60 kg, có khi nặng trên 300 kg.
Gấu ngựa béo nhất vào mùa thu, lúc này lớp mỡ dưới da ở vùng háng, hông và lưng dầy 8 - 10cm. Cuối tháng 3, đầu tháng 4 lớp mỡ này tiêu hết. Gấu để vào lúc 6 tuổi, mỗi lứa 2 con. Ở phía Bắc thời gian sinh đẻ rải rác từ tháng 11 đến tháng 7 năm sau.
Ở nước ta hay gặp gấu ngựa ở miền núi và trung du; ở Liên Xô (cũ) gặp ở vùng Viễn Đông, Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Myanma, Ấn Độ, Afganistan.
Nghề nuôi gấu hiện nay chưa phát triển, nhưng đã được nuôi nhiều trong các trại thú, cánh xiếc. Mấy năm gần đây nhiều người nuôi gấu để lấy mật bán, dùng làm thuốc chữa bệnh, đặc biệt là người tra tuyên truyền chữa được ung thư, cho nên nhiều người mua mật gấu về dùng. Nhưng chúng tôi chưa thấy có một bệnh nhân bị bệnh ung thư nào khỏi bệnh vì uống mật gấu.

Bộ phận dùng:

Xương gấu

Gấu có xương đầu hẹp, dài, không có gờ ở giữa môi hàm trên và môi hàm dưới. Có 26 răng (16 răng cửa, 2 răng nanh và 8 răng hàm). Xương cổ gồm 7 cái, cái thứ nhất gần như đầu xoè ngang hình con bướm.
Xương sống gồm 23 đốt (20 đốt có gai ở giữa và 3 đốt xương cùng), 7 đốt xương đuôi ngắn, 19 đôi xương sườn và xương ức.
Xương chậu: Xương chậu trước gồm: 1 xương bả vai nhỏ, hơi khum, không có gờ cao, 1 xương cánh có gờ vặn, không có lỗ hổng, 1 xương trụ, 1 xương quay và 5 xương ngón chân; Xương chậu sau gồm: 1 xương chậu, 1 xương đùi, 1 xương ống, 1 xương mác, 1 xương bánh chè và 5 xương ngón chân.

Mật gấu (Fel ursi)

Là túi mật đã phơi hay sấy khô của nhiều loại gấu. Mật gấu là cái túi hình trứng dẹt, có cuống dài từ 10 - 15 cm, rộng 5 - 8 cm, dày 2 - 4 mm. Mặt ngoài nhẵn, màu nâu tro hay tro đen. Túi mật chứa một chất màu đen nhánh, gồm những hạt lổn nhổn, màu vàng óng ánh. Vị hơi đắng, sau hơi ngọt, dính lưỡi, ngậm lâu sẽ tan hết trong miệng.
Phương pháp lấy mật gấu
Theo kinh nghiệm của nhân dân: Khi săn bắt được gấu, giết lấy mật ngay.
Phương pháp hiện đại: Lấy mật gấu bằng phương pháp hút chân không nhờ có máy siêu âm để xác định vị trí túi mật.

Thành phần hoá học

Xương gấu ít được nghiên cứu.
Mật gấu chứa các muối kim loại của acid cholic, a. chenodesoxycholic, a. ursodesoxycholic, cholesterol và các sắc tố mật.
Chúng có công thức hoá học như sau:


A.chenodesoxycholic
A.chenodesoxycholic
A.cholic A.urodesoxy
A.cholic A.urodesoxy

Kiểm nghiệm

Sơ bộ thử mật gấu: Lấy vài hạt mật thả vào bát nước, sẽ thấy hạt mật quay tròn rồi chìm xuống đáy, cho một sợi vàng không toả ra. Khi mật gấu đã bị pha loãng, mật của các động vật khác không có hiện tượng này.
Lấy vài hạt mật đốt trên ngọn đèn cồn sẽ thấy hạt mật sủi bọt, phồng lên rất lâu cháy, khoảng 50 phút thì cháy hết. Khi cháy hết để lại vết trắng.

Tác dụng và công dụng

- Xương gấu đã loại bỏ thịt, gân, tuỷ, rửa sạch, phối hợp với xương hổ và các loại xương khác hoặc để riêng xương gấu nấu thành cao gấu, đóng thành từng bánh, mỗi bánh 100 g. Xem cao hổ cốt.
- Cao gấu có tác dụng bồi bổ khí huyết, chân tay đau buốt, gân xương nhức mỏi, trẻ em trúng phong, chân tay co giật.
Dùng 10 - 15 g/ngày trước khi đi ngủ.
- Mật gấu: Mật gấu chữa đau dạ dày, đau bụng, chấn thương: ứ máu, sưng bầm, cơ thể đau nhức, giải độc, hoàng đản. Chữa mắt sưng đỏ có màng, kinh giản co giật, đau răng, ỉa ra máu nhưng không phải lỵ amíp.
Ngày nay, người ta dùng mất gấu để chữa bệnh sỏi mật ở dạng bùn, có kết quả tốt.
Mỗi ngày uống 0,50 - 2 g mật hoà với nước.
Dùng ngoài, hoà với rượu trị sung huyết (5% mật trong cồn 700), xoa bóp chữa sưng đau do ngã, bị đánh đập, các vết sưng tấy khác.
Không nên nuôi gấu trong lồng vì chúng không sinh sản, dẫn đến tuyệt chủng. Cần nghiên cứu nuôi gấu bán tự nhiên, gấu vẫn sinh sản và có thể vẫn lấy được mật làm thuốc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật. 

BA GẠC-Rauvolfia spp. Họ Trúc đào (Apocynaceae)

BA GẠC


Có nhiều loại Ba gạc. ở Việt Nam hiện nay có các loại ba gạc sau:
- Rauvolfia verticillata (Lour). Baill. (Ba gạc Việt Nam).
- Rauvolfia serpentina Benth (Ba gạc Ấn Độ).
- Rauvolfia vomitoria  Afz. (Ba gạc bốn lá).
- Rauvolfia tetraphylla  L. (=R. canescens L., R. heterophylla Roem. Et Schult) (Ba gạc Cu Ba).
- Rauvolfia cambodiana  Pierre ex Pitard (Ba gạc lá to).
- Rauvolfia indochinensis  Pichon (=R. littoralis Pierre ex Pitard) (Ba gạc lá nhỏ).
Họ Trúc đào (Apocynaceae).

Đặc điểm thực vật

- Rauvolfia verticillata: Cây nhỡ, cao 1-1,5m, cành non dẹt. Lá mọc vòng 3-4, cũng có khi mọc đối, phiến lá hình  mác dài. Hoa trắng mọc thành xim dạng tán kép. Đài 5, ống hình chuông rất ngắn. Tràng 5, ống thường hơi cong, ở họng có lông. Nhị 5, đính ở trên ống tràng. Đĩa mật hình nhẫn ngắn. Bầu có hai lá noãn. Quả hạch 2, khi chín có màu đỏ tươi.
- Rauvolfia serpentina: Cây nhỏ cao 0,4-0,5 m, ít phân nhánh, có nhựa  mủ trắng. Lá mọc vòng 3, có khi mọc đối, lá có màu vàng lục. Cụm hoa có một cuống chung mọc từ kẽ lá. Đài 5, không màu. Tràng 5, có ống phình ở 1/3 phía trên, màu tím hồng. Nhị 5, chỉ nhị bằng nửa bao phấn. Bầu gồm 2 lá noãn rời. Quả hạch hình trứng, khi chín có màu tím đen.
- Rauvolfia vomitoria: Cây  nhỡ cao 2-6 m, vỏ thân xù xì, có nhựa mủ trắng, cành phân nhánh nhiều, cành non màu xanh có cạnh dẹt, cành già hình trụ màu nâu bạc, có nốt sần. Lá đơn nguyên, mọc vòng 3-5, phần nhiều là 4. Cụm hoa là một xim tán dài 8-15 cm mọc ở kẽ lá hay đầu cành. Hoa nhỏ, màu trắng lục gồm 5 lá đài hình tam giác, 5 cánh hoa, tràng hình ống phình ra ở hai đầu, bên trong có lông, 5 nhị dính vào chỗ phình của ống tràng, chỉ nhị rất ngắn. Bầu gồm hai lá noãn. Quả hạch mọc riêng lẻ hoặc đôi một rời nhau, hình cầu hay hình trứng đầu hơi nhọn, khi chín có màu đỏ da cam, có một hạt dẹt hình trái xoan.
- Rauvolfia tetraphylla: Cây nhỏ, cao 0,5-1 m, có nhựa mủ, cành non có lông rất nhỏ, cành già không có lông. Lá thường mọc vòng 4, ít khi 3. Kích thước lá không đều, lá lớn nhất dài 5-15 cm, rộng 2-4 cm, lá nhỏ nhất dài 1-4 cm, rộng 0,8-3 cm. Lá mỏng, hình trứng hoặc hình bầu dục, hai mặt đều có lông. Cụm hoa hình xim tán mọc ở đầu cành hoặc nách lá. Cuống của tổng bao còn non có lông mềm dài, sau rụng dẫn đi. Hoa mẫu 5, có 5 lá đài, tràng màu trắng, ở mặt trong và ngoài của tràng có lông mềm dài, 5 nhị đính trong họng ống tràng. Lá noãn hàn liền, bầu trên. Quả hạch gồm 2 quả dính lion với nhau, khi chín có màu tím đen, có hai hạt tròn.
- Rauvolfia cambodiana: Cây nhỡ cao 1-1.5 m có nhựa mủ trắng, vỏ nâu tươi, lá mọc vòng 3, không có lông, lá to hơn các loài trên (dài 15-30 cm, rộng 3,5-7 cm). Cụm hoa hình xim kép, mọc ở ngọn. Hoa trắng, ống hồng, có đĩa mật. Lá noãn rời. Mỗi hoa sinh ra 2 quả hạch, khi chín có màu tím đen, có một hạt.
- Rauvolfia indochinensis: Cây nhỏ, cao khoảng 0,8 m không có lông. lá thường mọc vòng 3, lá hơi cứng, dài 15-24 cm, nhọn hai đầu. Cụm hoa mọc ở nách lá và ngọn, hoa nhỏ, có đĩa mật. Quả hạch, khi chín có màu tím đen.

Phân bố

- Ba gạc Việt Nam mọc hoang ở nhiều vùng rừng núi Việt Nam: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai, Thanh Hóa…
- Ba gạc 4 lá mới phát hiện thấy mọc hoang ở Phú Thọ.
- Ba gạc lá tô có ở Lâm Đồng, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Gia Lai, Đắc Lắc.
- Ba gạc lá nhỏ mọc ở đảo Phú Quốc, An Giang, Bình Định.
- Ba gạc ấn Độ và ba gạc Cuba là những cây di thực. Gần đây mới phát hiện thấy ba gạc ấn Độ có mọc hoang ở Đắc Lắc.

Cách trồng:

Ba gạc trồng bằng hạt, cũng có thể trồng bằng thân hay rễ. sau một năm rưỡi đến hai năm thì thu hoạch.

Thu hái

Có thể  thu hái quanh năm nhưng tốt nhất là mùa thu, đông. Đào rễ về rửa sạch rồi phơi khô.

Bộ phận dùng:

Rễ (Radix Rauvolfiae)
Rễ: Hình trụ, thường cong queo, ít phân nhánh, dài khoảng 40cm. đường kính 1 -  2cm. Phía trên có khi còn sót lại một đoạn gốc khoảng 2-3 cm. Mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, có những đường nứt dọc. Rất cứng chắc, không mùi, vị đắng.

Vi phẫu:

Lớp bần dày gồm nhiều hàng tế bào hình chữ nhật. Mô mềm với tế bào thành mỏng, trong tế bào có hạt tinh bột và tinh thể calci oxalat, đôi khi có tế bào cứng và tế bào nhựa mủ. Libe phân tách bởi tia tủy gồm 1-3 hàng tế bào. Tầng phát sinh gồm 1 – 2 hàng tế bào. Gỗ cấu tạo bởi mạch gỗ, và sợi gỗ, rải rác có tế bào nhựa mủ.

Bột:

Màu vàng xám nhạt, vị rất đắng. Soi kính hiển vi thấy tinh thể calci oxalat hình lập phương hay nhiều cạnh. Hạt tinh bột đứng riêng lẻ hay chùm 2 – 3 hạt. Mảnh mô mềm chứa tinh bột, mảnh bần, sợi gỗ.

Thành phần hóa học

Hoạt chất trong rễ ba gạc là alcaloid, tập trung ở vỏ rễ.
Trong rễ ba gạc ấn Độ chứa 1,5-3% alcaloid. Tới nay đã phân lập được trên 50 alcaloid, nhiều alcaloid là những đồng phan lập thể (Ví dụ: có tới 7 đồng phân lập thể của Yohimbin). Chia làm 3 nhóm chính:

1. Nhóm yohimbin

(Base indol bậc 3) có tính base yếu, không màu: yohimbin, reserpin, rescinnamin (reserpinin),  sapargin (=raupin), reserpidin, raubasin (ajmalicin).

yohimbin 
raupin

2. Nhóm alstonin

(Base anhydronium bậc 4) có tính base mạnh, màu vàng: alstonin, serpentin…

alstonin

3. Nhóm ajmalin

(Base indolin  bậc 3) có tính base yếu vừa, không màu: ajmalin, iso ajmalin…

ajmalin
-      Ba gạc Việt Nam (Rauvolfia verticillata  (Lour). Baill.): có chứa 0,9-2,2% alcaloid toàn phần trong vỏ rễ, trong đó có reserpin, ajmalicin, serpentin. Lá chứa 0,72-1,69% alcaloid toàn phần.
-      Ba gạc ấn Độ (Rauvolfia serpentina Benth): Mọc hoang ở Đắc Lắc, có chứa 3,3% alcaloid toàn phần trong vỏ rễ, 0,275% ở thân và lá. Trong đó reserpin 0,04% và ajmalin 0,5%.
-      Ba gạc 4 lá (Rauvolfia vomitoria  Afz.): chứa 1-1,5% alcaloid toàn phần trong rễ, 90% alcaloid tập trung ở vỏ rễ. Rễ có reserpin 0,2%, ajmalin, reserpilin, rauvanin và alstonin. Lá chứa 1% alcaloid toàn phần.
-      Ba gạc lá to (Rauvolfia cambodiana  Pierre ex Pitard): vỏ rễ chứa 1,5-2% alcaloid toàn phần, trong đó có reserpin và ajmalin.
-      Ba gạc lá nhỏ (Rauvolfia indochinensis  Pichon): vỏ rễ chứa 3,5-3,8% alcaloid toàn phần, trong đó có reserpin.
-      Ba gạc cuba (Rauvolfia tetraphylla  L.): rễ có 1,5-2% alcaloid toàn phần, trong đó có reserpin 0,05%, rescinnamin, deserpidin…

Kiểm nghiệm

1. Định tính:

Đối với alcaloid của ba gạc, tới nay chưa tìm thấy phản ứng đặc trưng. Để xác định sự có mặt của reserpin, ajmalin, serpentin, ajmalicin… người ta thường sử dụng phương pháp sắc ký lớp mỏng:
- Bản mỏng dùng chất hấp phụ là silicagen G.
- Hệ dung môi khai triển: chloroform: methanol: amoniac [50: 9: 1]
- Dịch chấm sắc ký: Lấy khoảng 2-3 g bột dược liệu thẩm ẩm bằng amoniac rồi chiết kiệt alcaloid trong bình Soxhlet bằng chloroform. Cất thu hồi dung môi, hòa tan cắn bằng 1ml cồn 950.
- Hiện màu bằng soi dưới đèn tử ngoại bước sóng 366nm và phun dung dịch 5% sắt III clorid trong acid nitric 50%. Sắc ký đồ phải có vết có cùng màu và cùng Rf với các vết chấm dung dịch chuẩn reserpin, ajmalin, serpentin, ajmalicin…

2. Định lượng

Định lượng alcaloid toàn phần trong ba gạc bằng phương pháp cân:
Cân chính xác khoảng 2 – 3g bột dược liệu, cho vào bình nón có dung tích 500ml. Thấm ướt dược liệu bằng 3ml dung dịch amoniac 25% và 1ml ethanol 960, thêm 200ml chloroform, cất thu hồi còn 2 – 5ml. Thêm 20ml acid phosphoric 3%, đun nóng trên cách thủy đến khi bay hơi hết chloroform. Để nguội, lọc. Tiếp tục rửa bình và giấy lọc 3 lần, mỗi lần 10 ml acid phosphoric 3%. Gộp các dịch rửa lại. Trung hòa bằng amoniac 10% đến pH 10. Chiết alcaloid bằng chloroform lần lượt với 25, 20, 15, 10. Gộp dịch chloroform lại, lọc qua Na2SO4 khan vào bình đã biết khối lượng. Cất thu hồi dung môi đến khô và sấy đến khối lượng không đổi ở nhiệt độ 80 – 900C.
Alcaloid toàn phần trong dược liệu được tính theo công thức:
X%=ax100/p(100-b)
a: Cắn sau khi sấy đến khối lượng không đổi (g)
b: Độ ẩm dược liệu (%)
p: Khối lượng dược liệu (g)
Dược điển VN II quy định dược liệu phải chứa ít nhất 1,5% alcaloid toàn phần.
Ngoài ra, có thể định lượng bằng phương pháp so màu theo nguyên tắc: Tạo tủa màu của alcaloid với amoni reineckat, tách riêng tủa màu rồi hòa tan trong methanol, đem đo cường độ màu so sánh với dung dịch chuẩn. Phương pháp này dùng định lượng hỗn hợp alcaloid hoặc định lượng riêng reserpin.

Tác dụng

* Reserpin được coi là Alcaloid quan trọng nhất, đại biểu cho dược tính của Ba Gạc. Hai tác dụng dược lý quan trọng của Reserpin được xử dụng trong điều trị là hạ huyết áp và an thần.
Reserpin làm hạ huyết áp cả trên súc vật gây mê hoặc không gây mê. Tác dụng này xuất hiện chậm và kéo dài.cơ chế tác dụng hạ áp là do làm cạn dần kế hoạch dự trữ chất dẫn truyền trung gian Noradrenalin trong các dây thần kinh giao cảm, được coi như hiện tượng cắt hệ thần kinh giao cảm bằng hóa chất. Reserpin không có tác dụng làm liệt hạch, có tác dụng làm chậm nhịp tim, làm dãn các mạch máu dưới da.
* Đối với thần kinh trung ương, Reserpin có tác dụng ức chế, gây trấn tĩnh rõ, giống các dẫn chất Phenothiazin
* Đối với mắt, Reserpin có tác dụng thu nhỏ đồng tử 1 cách rõ rệt (là 1 trong những triệu chứng sớm nhất sau khi dùng thuốc).
Reserpin còn làm sa mi mắt, làm thư dãn mi mắt thứ 3 (Nictitating membrane) của mèo và chó.
* Đối với hệ tiêu hóa: Reserpin làm tăng nhu động ruột và bài tiết phân.
* Đối với  thân nhiệt: sau khi dùng Reserpin, có sự rối loạn về điều hòa thân nhiệt.
* Đối với hệ nội tiết: Reserpin có tác dụng kích thích vỏ tuyến thượng thận giải phóng các Corticoid. Có tác dụng kháng lợi niệu yếu. Trên chuột cống cái, Reserpin làm ngừng chu kỳ động dục, ức chế sự phóng noãn. Trên chuột đực, ức chế sự phân tiết Androgen.
* Độc tính của Reserpin:
+ Liều chịu đựng được bằng đường uống đối với súc vật: 10-2000mg/kg.
+ LD50 bằng đường tiêm tĩnh mạch trên chuột cống trắng: 28 ± 1,6mg/kg, bằng đường uống trên chuột nhắt là 500mg/kg.
- Rescinnamin cũng có tác dụng hạ áp gần giống reserpin nhưng có nghiên cứu cho rằng thuốc có tác dụng an thần kém hơn.
- α – yohimnbin cũng có tác dụng hạ áp, có nghiên cứu cho rằng thuốc có tác dụng ức chế tim, gây ngủ, có độc tính tương đối cao.
- Ajmalin không có tác dụng hạ huyết áp và an thần, có tác dụng làm mất nhịp tim không đều nên được dùng  trong bệnh tim đập không đều (ngoại tâm thu, tim nhanh loạn nhịp).
- Serpentin có tác dụng hạ huyết áp và ức chế hoạt động của ruột, cũng có tác dụng chống rung tim, nhưng serpentin độc hơn ajmalin.
- Raubasin (=Ajmalicin) có tác dụng làm giảm sức cản ở động mạch nhỏ nên tăng cường lượng máu cung cấp cho các mô.

Công dụng

Rễ ba gạc được dùng làm nguyên liệu chiết xuất reserpin, ajmalin, ajmalicin alcaloid toàn phần hoặc nấu cao hay dùng bột rễ làm thuốc
-      Reserpin: dùng điều trị cao huyết áp, với liều 0,1-1,5 mg/ngày. Có dạng viên nén 0,1 mg, 0,25 mg, 0,5 mg.
Liều dùng cho bệnh nhân tâm thần thường cao hơn. Dùng: 5mg/kg cân nặng. Nhưng hiện nay ít dùng cho bệnh nhân tâm thần vì đã có các dẫn chất phenothiazin thay thế.
- Alcaloid toàn phần của R. serpentina có viên Rauviloid (2ml alcaloid toàn phần/1 viên) dùng chữa cao huyết áp với liều 2 – 4 mg/ngày.
-Viên Rauviloid (2mg Alcaloid toàn phần của R. Serpentina), liều dùng cho bệnh huyết áp cao là 2-4mg/ngày
-Viên Raudixin (bột rễ R. Serpentina) 50-100mong, liều dùng trung  bình hàng ngày là 200-400mg
-Viên Raucaxin (R. tetraphylla): 2 mg alcaloid toàn phần/viên.
-Cao lỏng chế từ R. verticillata chứa 5% alcaloid toàn phần, liều trung bình mỗi ngày 30-60 giọt.
-Ajmalin được dùng điều trị loạn nhịp tim. Có dạng viên nén hoặc bọc đường 20 mg, 50 mg, ống tiêm 2ml/50mg. Uống mỗi lần 1-2 viên, uống 3  lần/ngày.
-Raubasin: Viên nén hay bao đường 1-5 mg và 10 mg, ống tiêm 10 mg/3ml dùng trong các trường hợp tai biến mạch máu não, rối loạn tâm thần do chứng suy não ở người già, viêm động mạch chi dưới. Ngày uống 3 lần x 1-2 viên vào bữa ăn. Tiêm tĩnh mạch chậm 1-2 ống/ngày.
Không nên dùng reserpin và các chế phẩm từ cây ba gạc trong các trường hợp loét dạ dày tá tràng, nhồi máu cơ tim, hen suyễn…
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

CỰA KHỎA MẠCH– Claviceps purpurea Tulasne, Họ nấm cựa gà – Clavicipitaceae

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

CỰA KHỎA MẠCH


Cựa khoả mạch là hạch của nấm – Claviceps purpurea Tulasne, Họ nấm cựa gà – Clavicipitaceae sống ký sinh trên lúa mạch đen.
 Cựa khoả mạch còn gọi là nấm cựa gà hay nấm cựa tím.

Quá trình tạo thành hạch nấm

Hạch nấm rơi xuống đất vào mùa thu khi lúa mạch chín, nằm im qua mùa đông, sang mùa xuân ngoài mặt sẽ mọc ra những vật nhỏ hình cầu có cuống nhỏ gọi là cơ chất mang nhiều thể quả hình chai đựng các túi bào tử nhờ gió rơi vào hoa lúa mạch đen, chúng xâm nhập trên đốt quả non. Sau khoảng 10-14 ngày nó tiết ra chất nhày có nhiều đường (thường gọi là dây mật) chứa nhiều chuỗi đính bào tử và qua côn trùng sẽ truyền bệnh sang những hoa khác. Tiếp sau đó, những sợi nấm bông phát triển nhanh chóng thành những hạch nấm có lớp tế bào cứng được nuôi qua cây chủ. Khi ngũ cốc chín, những hạch cứng lại rơi xuống đất và tiếp tục một chu kỳ khác.

Phân bố và trồng hái

Cựa khỏa mạch thu hái do mọc hoang ở Liên Bang Nga, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hungari, Rumani, Ba Lan.
Để giải quyết nhu cầu sản xuất người ta cấy hạch nấm lên môi trường nhân tạo thích hơp rồi lấy bào tử tiêm vào những bông lúa mạch đen.
Các nước trồng nhiều: Đức, Thụy Sĩ, Áo, Tiệp, Ba Lan…
Ở nước ta gặp cựa khỏa mạch trên những vùng cao có trồng lúa mạch.
Thu hái khi nấm bắt đầu chín. Sấy khô ở 30-45ºC.
Năng suất thu hoạch phụ thuộc khí hậu: trung bình khoảng 100-200 kg/ha với thu hoạch hoang; còn trồng đạt tới 450 kg/ha.

Bộ phận dùng

Hạch nấm là 1 khối nhỏ dài 2-3 cm, d = 3-4 mm, hai đầu thuôn, mình hơi cong, mặt ngoài đen tím, có khía dọc và đôi khi nứt ngang, càng để lâu càng khó ngửi, vị buồn nôn và vị đắng.

Thành phần hóa học

Hàm lượng alcaloid phụ thuộc vào nguồn gốc và sinh thái. Đối với loại mọc hoang tỷ lệ alcaloid khoảng 0-1%, đa số là dưới 0,2%, loại trồng đạt trên 1 % và người ta đã tạo ra 1 số alcaloid cần thiết nhất định.
Chúng được chia làm 2 nhóm chính :
1. Nhóm clavin-alcaloid là dẫn chất hydroxy và dehydro của 6,8-dimethylergolin như agroclavin...
Nhóm này không sử dụng.
2. Nhóm lysergic-alcaloid là dẫn chất loại amid của acid lysergic.
Nhóm này có giá trị lớn trong điều trị,chia thành 2 phân nhóm:
a. Các alcaloid có cấu trúc thuộc loại amid đơn giản, thường tan trong nước: ergin, ergobasin.
b. Các chất có cấu tạo peptid alcaloid : trong đó có nhóm carboxyl của acid lysergic kết hợp với 1 vòng tripeptid, thường không tan trong nước: Ecgotamin, ecgosin, ergocristin, ergocryptin và ergoconin...
Những acid amin trong tripeptid có thể là L-prolin, L-leucin, L-phenylamin, L-valin, α-hydroxyalanin, α-hydroxyvalin.
Lysergic-alcaloid dễ biến đổi vị trí C-8 (khi để dịch chiết nước hoặc dược liệu bị ẩm) chuyển sang dẫn chất của acid isolysergic là đồng phân không gian của acid lysergic.
Những lysergic-alcaloid tả tuyền, có tác dụng sinh lý mạnh, danh pháp có tiếp vĩ ngữ “in”.
Những isolysergic-alcaloid hữu tuyền, ít hoặc không có tác dụng sinh lý, danh pháp có tiếp vĩ ngữ “inin”.

acid lysergic
Ecgotamin         
Ngoài alcaloid còn có :
Các amin: gồm aminoalcol như cholin, acetylcholin;các acid amin như a.asparatic, glycin, arginin, valin, leucin, tyramin, histamin...
Những chất màu: Chất có màu đỏ clavorubrin, endocrocin..., những chất màu vàng ergoflavin, clavoxanthin. Những sắc tố màu vàng đều có tính khán khuẩn.
Sterol: ergosterol, fungisterin, squalen, stigmasterin.
Chất béo (khoảng 30%) là glycerid của các acid béo chưa no như a.oleic, linoleic, ricinoleic.
Glucid: glucose, trehalose, clavicepsin.
Nước khoảng 8 %.
Các chất vô cơ  khoảng 3-5 .

Kiểm nghiệm

a, Định tính:

- Phản ứng Keller: Cho vào dịch chiết alcaloid trong acid acetic  một giọt dung dịch FeCl3 sau đó cho nhẹ  nhàng dung dịch H2SO4 đậm đặc,cnếu có mặt alcaloid của cựa khoả mạch sẽ xuất hiện ở bề mặt ngăn cách màu xanh đậm.

Phản ứng Keller
- Phản ứng Van-Urk: lấy 0,5g bột dược liệu hoặc cán đã bốc hơi của 5ml dịch chiết đem lắc với 5ml acid tactric 1% trong 2-3 phút, lọc, rồi trộn 2 ml dịch lọc với 4ml thuốc thử Van-Urk sẽ xuất hiện  màu xanh lam (phản ứng này cũng được dùng để định lượng).
Thuốc thử Van-Urk: Hoà tan 0,2g p.dimethyl- aminobenzaldehyd
Vào hỗn hợp 35ml nước và 65ml H2SO4 đặc, cho vào đó 0,15ml
dung dịch FeCl3.6H2O 10%. Bảo quản trong tối.

b, Định lượng:

 - Phương pháp cân: Theo nguyên tắc chiết alcaloid rồi cho tủa alcaloid ở dạng picrat, lấy riêng tủa, dung ammoniac chuyển alcaloid sang dạng base rồi chiết lấy alcaloid base bằng ether, sấy khô rồi cân.
 - Phương pháp so màu: Dựa vào phản ứng Van-Urk chuyển alcaloid sang dạng muối tactrat, rồi cho tác dụng với thuốc thử Van-Urk,đo cường độ màu,dung chất chuẩn là tactrat ergotamin.

Tác dụng & Công dụng

 a, Tác dụng:

- Kích thích sự co thắt của các cơ trơn: mạch máu, phế quản, trực tràng, bàng quang, nhất là tử cung. Tác dụng kích thích này không những đối với tử cung bình thường mà còn rất mạnh đối với tử cung có thai. Do vậy trước đây có dùng để thúc đẩy đẻ nhanh nhưng vì gây co cứng cơ tử cung quá kéo dài nên nhiều khi lại gây đẻ khó. Hiện nay, trong sản khoa chỉ dùng để cầm máu sau khi đẻ.
- Co mạch mạnh, do đó dùng để cầm máu và giảm viêm, tăng huyết áp và ổn định nhịp tim.

b, Công dụng:

 Cầm máu khi băng huyết, ho ra máu,nôn ra máu, chảy máu ruột trong bệnh thương hàn, đái ra máu, chảy máu cam, trĩ chảy máu. Có tác dụng làm tan máu trong bệnh sung huyết phổi, sung huyết não… Có khi dùng trợ tim trong viêm cơ tim do nhiễm khuẩn, viêm quầng (erysipele).
 * Bột: Người lớn ngày uống 0,50-3g (mới bào chế) chia làm liều nhỏ 0,20-0,50g uống cách nhau 30 phút để cầm máu, trẻ em 0,05-0,10g cho mỗi tuổi.
 * Cao mềm: Người lớn uống ngày 1-6g dạng viên, potio. Trẻ em 0,05-0,10g cho mỗi tuổi.
 * Cao lỏng (30 giọt = 1g): Người lớn ngày uống 1-5g pha thành xirô, potio; trẻ em 0,05-0,10g cho mỗi tuổi.
Dịch chiết cựa khoả mạch tác dụng không ổn định vì hàm lượng hoạt chất dễ thay đổi nên ngày nay người ta thường dùng dạng alcaloid tinh khiết. Trong các alcaloid thì ergobasin và ergotamin có giá trị lớn trong điều trị.
Dùng cầm máu tử cung, ức chế giao cảm,dùng trong bệnh Basedow tim đập nhanh, mạch nhanh kịch phát.
Người lớn ngày uống 0,001-0,006g dạng viên hay giọt, tiêm dưới da 1/2  mg hay tiêm 1/4 -1/3 mg trong chứng đau nửa đầu (migraine).
 - Ergobasin:
Dùng cầm máu,chữa băng huyết. Có thể dùng thúc đẻ trong trường hợp tử cung co bóp rất yếu khi đẻ (không dùng khi tử cung co bóp bình thường). Dẫn chất methyl ergobasin  tactrat (methergin, ergopectin) dùng uống hay tiêm bắp 0,2-0,3 mg.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

TẮC KÈ - Gekko gekko L.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

TẮC KÈ
Tên khoa học - Gekko gekko L.

Họ Tắc kè - Gekkonidae.
Tên khác: Đại bích hổ, cáp gải, cáp.
Đặc điểm
Tắc kè giống như con "mối rách" hay "thạch sùng", nhưng to và dài hơn, các vây trên da to, nhiều màu sắc. Thân dài 15 - 17 cm. Đầu hẹp hơi hình tam giác, mắt có con ngươi thẳng đứng, 4 chân, mỗi chân có 5 ngón rời nhau nối với thân thành hình chân vịt, mặt dưới ngón có những màng phiến mỏng màu trắng, sờ như có chất dính làm cho tắc kè có thể bám chặt vào tường hay cành cây khi trèo lên.
Đầu lưng, đuôi đều có những vẩy nhỏ hình hạt tròn và hình nhiều cạnh, nhiều màu sắc từ xanh lá mạ đến xanh rêu đen, có khi xanh rêu nhạt hay đỏ nâu nhạt. Mầu sắc của tắc kè còn thay đổi nhiều làm cho phù hợp với môi trường xung quanh. Có lúc trên thân tắc kè có nhiều màu óng ánh, lúc này gọi là tắc kè hoa.
Đuôi tắc kè có thể coi là bộ phận tốt nhất của nó. Nếu đuôi bị đứt hay gẫy, nó có thể mọc lại được.

Phân bố và nuôi tắc kè
Ở nước ta tắc kè sống chủ yếu ở các vùng rừng núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Định và ở những hải đảo lớn ven biển.
Tắc kè sống trong hang, hốc đá, hốc cây, khe đá, khe hở của mái ngói, mái tranh. Sau khi tắc kè chọn chỗ ở xong mới sống cố định, chúng ở các hang sâu từ 20 - 30 cm hay hơn nữa, mỗi hang có 1 - 2 con, có khi lên tới 20 - 30 con.
Tắc kè hoạt động chủ yếu vào ban đêm. Chúng ưa hoạt động vào những ngày có thời tiết thay đổi, vào lúc sau khi trời mới mưa xong, trời hửng nắng, nhất là vào ban đêm thời tiết mát dịu. Chúng ăn sâu bọ, châu chấu, cào cào, muỗi, bướm, gián, ruồi, nhện, các loại cánh cứng... Về mùa đông khi nhiệt độ 200C, tắc kè sống sâu trong hang, ngủ đông. Mùa xuân đến chúng bắt đầu ra hoạt động từ tháng 3 - tháng 10.
Tiếng kêu: Tắc kè, tắc kè... tắc kè, chúng gọi nhau trong mùa sinh sản. Có thể bắt tắc kè quanh năm, nhưng thường bắt tắc kè vào mùa này. Tắc kè đẻ trứng vào tháng 3 -10, mỗi năm đẻ 3 - 4 lứa, mỗi lứa 2 trứng, sau 3 tháng nở thành con.
Ở Trung Quốc, người ta đã nuôi tắc kè, nhưng những tài liệu công bố thì còn ít. Ở trạm khí tương Sơn Đông, tỉnh Hà Bắc có nuôi tắc kè trong điều kiện bán tự nhiên: ở những nơi có hồ ao quanh năm có nước, đắp một gò đất nổi ở gần bờ với diện tích 3 -4 m2, tuỳ theo số lượng tắc kè định nuôi mà đắp cao từ 0,80 - 1m. Trên gò xếp đá và gạch thành hang tự nhiên, cửa hang không bố trí tho hướng đông bắc để tránh gió vào mùa đông. Trong hang đặt các khúc gỗ đục rỗng giữa để làm hốc cho tắc kè ở. Hốc có chiều sâu từ 0,50 - 0,80 m và hướng dốc ra ngoài để thoát nước khi trời mưa hắt. Dùng đất sét để đắp lên trên thành mái dốc để thoát nước, không dột vào hang; trên cùng, đổ một lớp đất màu và trồng cỏ tạo vẻ tự nhiên. Trên gò nên trồng một cây si hay cây sung là cây hay sống gần hồ nước vừa tạo bóng mát, vừa thích nghi với đời sống của tắc kè, vừa có tác dụng giữ cho đất bờ khỏi lở. Làm một giá treo đèn để nhử muỗi, côn trùng đến làm thức ăn cho tắc kè, cứ 3 - 5 đêm thắp đèn một đêm. Cuối cùng thả tắc kè giống vào tháng 5 - 8 là lúc tắc kè sinh sản. Tại Việt Nam, công việc nuôi mới bắt đầu ở bộ môn Dược liệu trường Đại học Dược Hà Nội bởi GS. Đỗ Tất Lợi, nhưng kết quả còn khiêm tốn, do vậy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này.
Bộ phận dùng
Dùng cả con còn nguyên cả đuôi, đã bỏ hết nội tạng. Người ta cho rằng đuôi tắc kè là tốt nhất, nếu mất đuôi thì tắc kè rất kém giá trị.
Đuôi tắc kè tái sinh cũng có giá trị chữa bệnh như đuôi tắc kè tự nhiên.
Chế biến
Dùng dưới dạng tươi, sấy hay phơi khô.
Dùng tươi: Chặt bỏ đầu từ 2 mắt trở lên, bỏ bàn chân, lột da, mổ bụng, bỏ mật. Dùng để nấu cháo ăn hay nướng vàng để ngâm rượu.
Dùng khô: Mổ bụng tắc kè, bỏ hết phủ tạng, lau sạch bằng giấy bản, tẩm rượu. Dùng 3 cái que nứa nhỏ, dẹt, 1 cái căng thẳng hai chân trước, 1 cái căng thẳng hai chân sau, 1 cái căng thẳng giữa đầu và đuôi, dùng giấy bản cuộn đuôi với que nứa tránh gẫy đuôi. Đem phơi nắng hay sấy khô ở 50 - 600C đến khô hoàn toàn. Khi sấy nhớ để chúc đầu xuống, để đầu được khô kỹ và đuôi không bị chảy mất mỡ tắc kè. Không được sấy bằng diêm sinh, vì sẽ bị hỏng tắc kè.
Tắc kè phải còn nguyên cả đuôi, không gẫy, không chắp vá, không bị sâu mọt ăn thủng.
Bảo quản tắc kè trong thùng kín, dưới đáy thùng để vôi bột hay gạo rang để hút ẩm.
Thành phần hoá học
Thân tắc kè chứa nhiều chất béo, chúng chiếm 13-15% trọng lượng. Các acid amin, đa số là các acid amin không thay thế được, đó là: lycin, glycin, asparagic, arginin, alanin, cerin, leucin, isoleucin, phenylalanin, prolin, threolin, cystein, valin, histidin và acid glutamic.
Đuôi chứa nhiều lipid, chứa tới 23-25%.
Tác dụng và công dụng
Tắc kè có tác dụng kích thích sự phát triển của cơ thể, làm tăng hồng cầu, tắng huyết sắc tốt, chữa suy nhược cơ thể, ho hen, ho ra máu lâu ngày không khỏi, hen suyễn, chữa liệt dương, người già đau lưng, mỏi gối, làm mạnh gân, cốt, tê thấp, đái dắt, đái són. Có người cho rằng tắc kè là "nhân sâm động vật", vì tác dụng bổ dưỡng của tắc kè ngang với nhân sâm. Có câu: vô nhân sâm, dĩ cáp giới dại chi, nghĩa là không có nhân sâm dùng tắc kè thay thế.
Cách dùng:
Tắc kè tươi: Dùng 50 - 100 g nấu cháo ăn hàng ngày.
Tắc kè khô: Dùng 4 - 5 g bột tắc kè uống làm 2 - 3 lần trong ngày.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.

Dược liệu Việt Nam cần cú hích để phát triển

Nước ta có tài nguyên cây thuốc rất phong phú, nhưng việc khai thác bừa bãi, không bảo tồn hợp lý đã và đang làm cho nguồn tài nguyên quý giá này ngày một cạn kiệt, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Nam  dược trị Nam nhân

Sinh thời, Đại danh y Tuệ Tĩnh đã nêu quan điểm tự chủ trong chữa bệnh của mình: Nam dược trị Nam nhân. Để có quan điểm tự chủ và đầy tự hào đó, hẳn ông “thánh thuốc Nam” Tuệ Tĩnh từ hơn 6 thế kỷ trước đã biết kho tàng dược liệu của nước ta vô cùng phong phú và đáng tự hào.
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng với khoảng 10.350 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo. Kết quả điều tra, cả nước ghi nhận được 3.948 loài thực vật và nấm lớn có thể sử dụng làm thuốc, trong đó có hàng chục loại có giá trị chữa bệnh cao.

Tổng sản lượng dược liệu ở Việt Nam hằng năm ước tính khoảng từ 3 - 5 nghìn tấn. Một số dược liệu quý đã được thế giới công nhận và có tiềm năng phát triển rất lớn như: hồi, trinh nữ hoàng cung, quế, atisô, sâm Ngọc Linh, tràm, thanh hao hoa vàng, hoa hòe...

Tuy nhiên, trong một thời gian dài, do thiếu sự khảo sát đánh giá, điều tra và bảo vệ nên vùng phân bố tự nhiên của nhiều loại cây thuốc bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác một cách cạn kiệt. Nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú nay đã hoàn toàn bị phá bỏ như khu vực núi Hàm Rồng (Sa Pa, Lào Cai); cao nguyên An Khê (thuộc hai tỉnh Gia Lai và Bình Ðịnh)..., thậm chí nhiều loại có nguy cơ tuyệt chủng.

Hiện nay có 144 loài cây thuốc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn: sâm Ngọc Linh (một trong bốn loại sâm giá trị nhất thế giới), sâm Vũ Diệp, tam thất hoang, đảng sâm, ba kích, thanh mộc hương, bách hợp.


 Chăm sóc cây tràm Úc - một dược liệu quý trong khu bảo tồn dược liệu 25ha của Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười. Ảnh: Dương Thế Hùng

Vì sao dược liệu Việt Nam chưa phát triển?

PGS.TS. Lê Minh Sắt - Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ ra rằng, với nguồn dược liệu vô cùng phong phú như đã kể trên nhưng ngành dược liệu của nước ta chưa phát triển vì chúng ta chưa có ngành công nghiệp về dược liệu mạnh để có thể sơ chế, chế biến, bảo quản tốt. Chính vì vậy, khi nhu cầu tiêu thụ giảm, nông dân và
doanh nghiệp kinh doanh dược liệu đều gặp khó khăn như đã từng chứng kiến với cây thanh hao, cây bạch chỉ, ngưu tất, cây quế ở Quảng Nam, cây nghệ ở Tây Nguyên, cây lô hội và bụp dấm ở Bình Thuận.

Bên cạnh đó là dược liệu chất lượng kém từ biên giới, nhập khẩu không kiểm soát đã khiến doanh nghiệp kinh doanh dược liệu trong nước khốn khó. Dược liệu chất lượng kém, dược liệu "rác" từ biên giới nhập khẩu với giá rẻ nên dược liệu trong nước có giá cao không cạnh tranh được...

Hơn nữa, nhiều địa phương có đầy đủ các điều kiện để trồng trọt dược liệu có giá trị cao, nhưng do cách làm manh mún, tự phát, thiếu liên kết và thị trường dược liệu không ổn định nên việc phát triển các vùng dược liệu hiện nay gặp nhiều khó khăn.

Làm thế nào để phát triển bền vữngdược liệu?

Để vực dậy ngành dược liệu, Chính phủ, Bộ Y tế đã có nhiều chính sách, giải pháp để hỗ trợ ngành dược liệu trong nước. Bản thân các doanh nghiệp dược liệu đã và đang thực hiện quản lý chất lượng sản xuất dược liệu theo tiêu chuẩn thực hành nuôi trồng, thu hái và sản xuất tốt.

Hiện cả nước có hơn 300 cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu trong nước, trong đó có 10 cơ sở sản xuất đông dược đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (GMP - WHO). Hơn 1.000 số đăng ký thuốc từ dược liệu còn hiệu lực. Bên cạnh thuốc cao đơn, hoàn, tán cổ truyền, thuốc đông dược sản xuất trong nước hiện khá phổ biến dưới các dạng bào chế như viên nang cứng, nang mềm, cao dán thấm qua da.

Trong nước cũng đã có một số cơ sở trồng trọt dược liệu đạt tiêu chuẩn VietGAP, nhiều đơn vị đang triển khai áp dụng nguyên tắc "thực hành tốt trồng trọt, thu hái cây thuốc". Bên cạnh đó, cũng có những cơ sở chế biến thực hiện việc thu mua dược liệu, lo đầu ra cho các hộ trồng trọt, kết hợp các hoạt động tập huấn quy trình kỹ thuật, cung cấp giống cây trồng, phân bón cho nhà nông, hình thành các vùng dược liệu trọng điểm...Giải pháp gắn kết chặt chẽ giữa 3 nhà: nhà nông – nhà doanh nghiệp – nhà khoa học là giải pháp cần thiết để lấy lại niềm tự hào cho thuốc Nam đất Việt.      

Lá ngón: Gelsemium elegans Benth., Họ Mã tiền (Loganiaceae)

LÁ NGÓN


Tên khoa học của cây lá ngón là: Gelsemium elegans Benth., Họ Mã tiền (Loganiaceae)
Còn gọi là: Cỏ ngón, đoạn trường thảo, hồ mạn đằng, câu vẫn, thuốc rút ruột, ngón vàng.

Đặc điểm thực vật

Cây lá ngón là loại cây mọc leo, thân và cành không có lông, trên thân hơi có khía dọc. Lá mọc đôi, hình trứng, thuôn dài hay hơi hình mác, mép nguyên, nhẵn, dài 7 - 12cm, rộng 2,5 - 5,5cm. Hoa mọc thành xim ở đàu cành hay kẽ lá, cánh mang hoa vàng. Mùa hoa vào tháng 6 – 8 – 10. Quả nang, dài, màu nâu, dài 1cm, rộng 0,5cm. Hạt nhỏ, quanh mép có rìa mỏng, màu nâu nhạt, hình thận.

Phân bố

Mọc hoang phổ biến ở vùng rừng núi nước ta: Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Lạng Sơn, Hòa Bình, Quảng Ninh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, các tỉnh Tây Nguyên.
Ở Trung Quốc người ta thấy ở Phúc Kiên, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên.
Còn có ở một số nước vùng nhiệt đới châu Á và bắc châu Mỹ có loài Gelsemium sempervirens.
Thành phần hóa học
a) Từ loài Gelsemium sempervirens mọc ở Bắc châu Mỹ, nhiều tác giả đã chiết được alcaloid: Gelsemin (C20H22O2N2), gelmicin (C19H24O4N2), sempervirin (C19H16N2), kumin (C20H22ON2)
b) Các tác giả Trung Quốc chiết từ cây lá ngón các alcaloid: kumin, kuminin, kuminicin, kumidin, trong đó kumin là alcaloid chính. Kuminicin là chất có tác dụng chủ yếu và rất độc. Sau đó phân lập được gelsemin; ngoài ra còn có sempervirin. Ở cành và lá có kuminin, gelsemin, chất tan trong nước là kumidin (C21H24O5N) và sempervirin.

c) Năm 1936 F. Guichard nghiên cứu cây lá ngón mọc ở Việt Nam. Tác giả đã chiết được kumin từ lá, vỏ thân, rễ cây, và thấy kumin có cả trong quả và trong hạt. Ngoài ra còn thấy một chất có huỳnh quang dưới đèn tử ngoại không tan trong các acid và ghi là chất thuộc nhóm esculetin.
Năm 1953 M. M. Janot xác định lá ngón ở Việt Nam có chứa gelsemin ở lá, kumin ở thân, rễ và semprevirin ở các bộ phận của cây.
Năm 1971 Phan Quốc Kinh, Phạm Gia Khôi và Lương Văn Thịnh chiết được kumin từ rễ cây lá ngón mọc ở Hòa Bình.
Hoàng Như Tố đã phân tích bằng sắc kí lớp mỏng thấy có 15 vết alcaloid ở cây lá ngón, trong đó đã tách được gelsemin và kumin.

Tác dụng và công dụng

Các alccaloid của cây lá ngón rất mạnh.nhân dân ta không dùng làm thuốc nhưng cần biết với vị thuốc khác để tránh nhầm lẫn với các cây thuốc khác,gây độc chết người. Ở trung quốc người ta dùng để chữa mụn nhọt độc, chữa vết thương do ngó hay bị đánh đòn. Cách dùng: Giã nhỏ đắp ngoài hoặc lấy nước rửa chỗ đau.
Ngộ độc: Nôn mửa, hôn mê, giãn đồng tử, ngạt hô hấp, các cơ bị mềm nhũn, đau bụng dữ dội, chảy máu dạ dày, ruột.
Cấp cứu: Phải lập tức sử dụng phương pháp tổng hợp, lúc đầu rửa dạ dày, duy trì nhiệt độ, hô hấp nhân tạo, dùng thuốc kích thích, đồng thời tùy hiện tượng mà xử lý cho thích hợp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

HOÀNG NÀN-Strychnos wallichiana Steud. ex. DC (Strychnos gaulthierana Pierre.), họ Mã tiền – Loganiaceae

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

HOÀNG NÀN

Tên khoa học của cây hoàng nàn: Strychnos wallichiana Steud. ex. DC (Strychnos gaulthierana Pierre.), họ Mã tiền – Loganiaceae.
Hoàng nàn còn gọi là vỏ dãn, vỏ noãn, mã tiền lá quế.
Đặc điểm thực vật
Hoàng nàn là cây mọc leo, thân gỗ, đơn độc hoặc phân nhánh, cành có tua cuốn và móc cứng như sừng. Vỏ cây xám có những nốt sần sùi màu nâu đỏ, lá mọc đối, nhẵn, có 3 gân nhô lên ở mặt chính dưới lá. Hoa không cuống mọc thành chùy dạng ngù ở đầu cành, phủ lông màu hung đỏ. Quả mọng hình cầu, đường kính 4 -5 cm, vỏ quả cứng dễ vỡ. Hạt nhiều hình cúc áo, dày 8mm, đường kính 22mm, có lông mượt màu vàng ánh bạc. 

Phân bố, thu hái và chế biến

Theo một số tác giả, hoàng nàn chỉ thấy mọc ở một số tỉnh miền bắc: Hòa Bình, Tuyên Quang, Sơn La, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Thanh Hóa (cần nghiên cứu chính xác thêm vì có thể ở những vùng khai thác vỏ gọi là hoàng nàn, nơi khác khai thác hạt lại mang tên mã tiền).
Người ta thường bóc vỏ thân, vỏ cành đem phơi hay sấy khô .
Chế biến: Ngâm vỏ vào trong nước trong 12-24 giờ, cạo hết lớp vàng bên ngoài rồi ngâm nước vo gạo 3 ngày đêm  mỗi ngày thay nước 1 lần). Rửa sạch thái nhỏ phơi hay sấy khô, đựng trong lọ kín. trước khi dùng đem sao qua, nghiền tán thành  bột. Có người trước khi tán bột lại tẩm với dầu vừng sao qua.
Bộ phận dùng
Vỏ cây: Miếng cuộn tròn, dài 10-15 cm, rộng 2-3 cm, dày 1,5 – 2 mm. Mặt ngoài sần sùi, màu nâu xám, có những đốm trắng vàng hay vàng thẫm. Mặt trong nhẵn, màu nâu đen, có đường vân dọc. Vị đắng .
Vi phẫu: Lớp bần gồm nhiều hàng tế bào màu vàng. Tầng phát sinh ngoài. Mô mềm, trong rải rác có tinh thể calci oxalat hình chữ nhật và tế bào cứng đứng riêng lẻ hay chụm lại thành đám. Vòng mô cứng, gồm tế bào thành dày hóa gỗ. Libe hình nón phân cách nhau bởi tia tủy khá rộng, trong có nhiều tinh thể calci oxalat hình thoi. Tầng phát sinh.
Bột: Màu vàng đất, vị đắng. Soi kính hiển vi thấy: tế bào cứng màu vàng nhạt, hình trái xoan hay chữ nhật, thành dày, có ống trao đổi rõ. Mảnh bần màu vàng nâu, gồm tế bào hình nhiều cạnh thành dày. mảnh mô vỏ gồm tế bào thành mỏng, hình gần tròn hay chữ nhật. Nhiều tinh thể calci oxalat hình thoi hay chữ nhật. Mảnh mạch mạng.

Thành phần hóa học

Trong vỏ hoàng nàn có strychnin, brucin. Hàm lượng alcaloid toàn phần lên tới 5,23%, trong đó Brucin 2,81% và Strychnin 2,37 – 2,43 %, ngoài ra còn có rất nhiều nhựa .
Định tính:
-      Nhỏ acid nitric lên mặt trong của vỏ sẽ thấy xuất hiện màu đỏ máu. Nhỏ lên mặt ngoài, trên những nốt sần sẽ xuất hiện màu lục đen nhạt.
-      Lắc 1 g bột dược liệu với 10 ml chloroform, thêm 1 ml amoniac, tiếp tục lắc trong 5 phút. lọc lớp chloroform qua giấy lọc có Na2SO4 khan. chia dịch lọc thành 2 phần rồi đem bốc hơi trên nồi cách thủy tới khô.                                                            
+ Ống 1: Hòa tan cắn trong 2-3 giọt H2SO4 đậm đặc, thêm vài tinh thể kali bicromat sẽ xuất hiện màu tím, màu mất nhanh (Strychnin ).
+ Ống 2: Thêm vào cắn 2-3 giọt acid nitric đậm đặc sẽ xuất hiện màu đỏ (Brucin).
Công dụng và liều dùng
Hoàng nàn là một vị thuốc rất độc, do đó khi dùng phải chế biến để giảm độc. Hoàng nàn chế được dùng để chữa chó dại cắn, chữa phong, ghẻ và một số bệnh ngoài da khó chữa. Ngoài ra trong một số đơn thuốc chữa thấp khớp có người đã dùng vị hoàng nàn chế. Liều tối đa: 0,1g/lần; 0,4g/24 giờ. Một vài nơi còn dùng hoàng nàn chế làm thuốc cường dương, kích thích sinh dục nữ.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.