PHÙ BÌNH-Herba Spirodelae polyrrhizae-Tử Bình (Spirodela polyrrhiza (L.) Schleid.)

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

PHÙ BÌNH

Herba Spirodelae polyrrhizae

Tử Bình

Toàn thân đã phơi hay sấy khô của cây Bèo tấm tía (Tử bình) (Spirodela polyrrhiza (L.) Schleid.), họ Bèo tấm (Lemnaceae).

Mô tả

Dược liệu dạng lá phẳng, dẹt, hình trứng hoặc hình trứng tròn, đường kính dài 2 - 5 mm; phần lớn lá đơn hoặc 2 - 3 phiến lá mọc chụm lại, mặt trên màu lục nhạt hoặc lục xám, cạnh lệch có một chỗ trũng nhỏ, mép nguyên, hơi cong. Mặt dưới màu lục tía hoặc tía nâu, có ít sợi rễ nhỏ dài 2 - 3 mm. Thể nhẹ, chất mềm dễ vỡ nát. Mùi nhẹ, vị nhạt.

Độ ẩm

Không quá 12% (Phụ 5.16, 1 g, 85oC, 4 giờ)

Chế biến

Thu hoạch vào tháng 6 - 9, vớt lấy Bèo tấm tía, rửa sạch, loại bỏ tạp chất, phơi khô.

Bào chế

Loại bỏ tạp chất, sàng bỏ những mảnh vụn, rửa sạch, phơi khô.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng mát, tránh mốc.

Tính vị, quy kinh

Tân, hàn. Vào kinh phế.

Công năng, chủ trị

Tuyên tán phong nhiệt, thấu chẩn, lợi tiểu, phát hãn, thoái nhiệt. Chủ trị: Sởi không mọc, phong chẩn ngứa, phù thũng, tiểu ít.

Cách dùng, liều lượng

Ngày uống 3 - 9 g dạng thuốc sắc, hoặc hoàn tán. Dùng ngoài: Lượng thích hợp sắc lấy nước để ngâm, rửa.

PHẤN TỲ GIẢI (Thân rễ)-Rhizoma Dioscoreae hypoglaucae

PHẤN TỲ GIẢI (Thân rễ)

Rhizoma Dioscoreae hypoglaucae

Thân rễ phơi khô của cây Phấn bối thự dự (khoai mài vai phấn) (Dioscorea hypoglauca Palibin), họ Củ nâu (Dioscoreaceae).

Mô tả

Dược liệu là phiến mỏng không đều, kích thước không đồng nhất, dày khoảng 0,5 mm. Vỏ ngoài màu đen hơi nâu hoặc màu nâu hơi xám. Mặt phiến màu trắng hơi vàng hoặc màu nâu hơi xám nhạt, có bó mạch rải rác. Chất xốp, hơi đàn hồi. Mùi nhẹ; vị hăng cay hơi đắng.

Vi phẫu

Mặt cắt ngang: Lớp bần gồm nhiều lớp tế bào. Vỏ hẹp, tế bào kéo dài ra theo đường tiếp tuyến, màng hơi dày, có lỗ rõ; tế bào nhầy rải rác, chứa tinh thể calci oxalat hình kim. Các bó mạch chồng chất và bó mạch bao quanh, rải rác trong trụ; các tế bào mô mềm thành hơi dày lên, có các lỗ, có chứa hạt tinh bột.

Soi bột

Màu trắng hơi vàng. Hạt tinh bột đơn hình tròn, hình trứng hoặc hình bầu dục dài, đường kính 5 - 32 mm, có khi tới 40 mm; rốn dạng điểm hay dạng khe, ít hạt kép, đa số là hạt kép đôi; nhiều tế bào mô cứng, màng hoá gỗ, có lỗ rõ, một số giống như tế bào đá hình nhiều cạnh, hình thoi hoặc hình gần chữ nhật, đường kính 40 - 80 mm, có khi tới 224 mm. Tinh thể calci oxalat hình kim dài 64 - 84 mm.

Định tính

Ngâm qua đêm 10 g bột dược liệu trong 100 ml nước rồi đun cách thuỷ ở 60oC, trong 10 phút. Lọc nóng. Cho vào ống nghiệm thứ nhất 2 ml dịch lọc, thêm 2 ml dung dịch natri hydroxyd (TT). Cho vào ống nghiệm thứ hai 2 ml dịch lọc, thêm 2 ml acid hydrocloric 5% (TT). Nút kín và lắc mạnh cả hai ống trong 1 phút, bọt trong ống dung dịch kiềm cao hơn bọt trong ống dung dịch acid.

Chế biến

Thu hoạch vào mùa thu, đông. Đào lấy thân rễ, loại bỏ các rễ con, rửa sạch, ngâm nước cho mềm đều, thái phiến, phơi hoặc sấy khô.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng, tránh ẩm mốc.

Tính vị, quy kinh

Khổ, bình. Vào các kinh thận, vị.

Công năng, chủ trị

Lợi thấp, trừ trọc, khu phong, trừ tê đau. Chủ trị: Cao lâm (chứng đái dưỡng trấp), bạch trọc, bạch đới quá nhiều, phong thấp tê đau, khớp xương đau khó cử động; thắt lưng, đầu gối đau.

Cách dùng, liếu lượng

Ngày dùng 9 - 15 g, dạng thuốc sắc.

NGƯU HOÀNG-Calculus Bovis-(Bos taurus domesticus Gmelin)

NGƯU HOÀNG

Calculus Bovis

Sỏi mật khô của Bò (Bos taurus domesticus Gmelin), thuộc họ Bò (Bovidae).

Mô tả

Ngưu hoàng có hình trứng, hình cầu không đều, hình tam giác, hoặc hình khối lớn nhỏ không đều, đường kính 0,6 - 4,5 cm, một số ít có hình ống hoặc mảnh vụn. Mặt ngoài màu vàng đỏ đến vàng nâu; đôi khi mặt ngoài có một lớp màng mỏng, sáng bóng, màu đen thường gọi là "Ô kim y" (áo vàng đen). Ngưu hoàng đôi khi có hòn hơi thô, có vết rạn, có mấu nhô lên, đôi khi có vân nứt như mai rùa. Thể nhẹ, chất giòn, dễ bóc, mặt bẻ màu vàng kim, có thể thấy lớp vân đồng tâm, nhỏ, dày đặc, đôi khi có tâm trắng. Mùi thơm mát, vị đắng sau ngọt, có cảm giác mát lạnh. Cắn dễ vỡ nhưng không dính răng.

Định tính

A. Lấy 1 lượng nhỏ dược liệu, hoà vào nước trong, bôi lên móng tay, nhuộm thành màu vàng.
B. Lấy 1 lượng nhỏ dược liệu hoà với dung dịch cloral hydrat (TT), không đun nóng, soi dưới kính hiển vi thấy các khối không đều, chứa nhiều hạt nhỏ màu nâu vàng, nâu hoặc đỏ nâu kết thành, gặp cloral hydrat, sắc tố này sẽ tan và hiện màu vàng kim sáng, để lâu biến thành màu lục.
C. Lấy 1 lượng nhỏ bột dược liệu trộn với 1 ml cloroform (TT), lắc đều, thêm 2 giọt acid sulfuric (TT) và 2 giọt dung dịch nước oxy già 30% (TT), lắc đều, xuất hiện màu lục.
D. Lấy 0,1 g bột dược liệu cho vào ống nghiệm, thêm 1ml acid hydrocloric 10% (TT) và 10 ml cloroform (TT), lắc kỹ. Lớp cloroform có màu nâu vàng, tách lớp cloroform vào một bình gạn, thêm 5 ml dung dịch bari hydroxyd (TT), lắc đều, có kết tủa màu nâu vàng. Tách, loại lớp nước và tủa, lấy ra 1 ml dung dịch cloroform, thêm vào 1 ml anhydrid acetic (TT), nhỏ thêm 2 giọt acid sulfuric (TT), lắc đều, để yên, dung dịch sẽ có màu lục.
E. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 4.4).
Bản mỏng silicagel G đã hoạt hoá ở 1100C trong khoảng 1 giờ.
Dung môi khai triển: isooctan - ethyl acetat - acid acetic băng (15:7:5).
Dung dịch thử: Lấy 10 g bột dược liệu, thêm 20 ml cloroform (TT), lắc siêu âm 30 phút lọc, bốc hơi dịch lọc đến cắn, hoà tan cắn trong 1 ml ethanol (TT).
Dung dịch đối chiếu: Hoà tan acid cholic và acid deoxycholic trong ethanol (TT) để được dung dịch có nồng độ 2 mg mỗi chất trong 1 ml.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 2 ml mỗi dung dịch thử và dung dịch đối chiếu. Sau khi triển khai, lấy bản mỏng ra để khô ở nhiệt độ phòng. Phun dung dịch acid sulfuric 10% trong ethanol (TT), sấy ở 1050C trong 5 phút, quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365 nm. Trên sắc ký đồ, dung dịch thử phải cho các vết phát quang cùng màu và cùng Rf với các vết của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 9 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 5 giờ).

Chế biến

Khi mổ bò, lấy túi mật, chú ý nắn túi và ống mật nếu thấy có cục rắn, cứng thì rạch ngay túi mật ra, lọc qua rây, lấy ngưu hoàng, bỏ màng mỏng bên ngoài, phơi âm can. Nếu để lâu, dịch mật ngấm vào Ngưu hoàng sẽ làm Ngưu hoàng đen, phẩm chất kém. Lấy Ngưu hoàng, rửa qua rượu, bọc kín, phơi trong bóng râm cho khô. Có nơi tẩm bằng rượu rồi lại tẩm nước gừng loãng, phơi trong bóng râm cho khô. Không được phơi nắng hay sấy lửa, không phơi chỗ có gió mạnh, không để ra ánh sáng để tránh Ngưu hoàng bị nứt vỡ, sẫm đen lại.

Bảo quản

Để nơi khô, mát, tránh ánh sáng, trong bao bì kín, tránh bị đè ép.

Tính vị, quy kinh

Cam, lương. Vào các kinh tâm, can.

Công năng, chủ trị

Thanh tâm, trừ đàm, khai khiếu, mát gan, trừ phong, giải độc. Chủ trị: Nhiệt bệnh, tinh thần hôn ám, trúng phong, đàm mê, kinh giản, co giật, điên cuồng, họng sưng đau, viêm miệng lưỡi, nhọt độc sưng.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 0,15 - 0,35 g, dạng thuốc bột hoặc hoàn tán. Dùng ngoài, lượng thích hợp, tán bột, đắp nơi đau.

Kiêng kỵ

Phụ nữ có thai không được dùng.

MINH GIAO-Colla Bovis

MINH GIAO

Colla Bovis

Chất keo chế từ da trâu, bò.

Mô tả

Miếng keo da hình chữ nhật, dài 6 cm, rộng 4 cm, dày 0,5 cm, màu nâu đen, bóng, nhẵn và rắn. Khi trời nóng thì dẻo, trời hanh khô thì giòn, dễ vỡ, trời ẩm thì hơi mềm. Mỗi miếng nặng khoảng 20 g. Vết cắt nhẵn, màu nâu đen hay đen bóng, dính.

Định tính

A. Dung dịch nước 1/10, thêm ethanol (TT) cho tủa đục.
B. Dung dịch nước 1/10, thêm dung dịch tanin 1% (TT), cho tủa bông màu nâu.

Độ ẩm

Cân chính xác 1 g Minh giao, hoà tan trong 2 ml nước nóng, bốc hơi trên cách thuỷ đến khô, giữ cho lớp keo không không dày quá 2 - 3 mm, tiếp tục tiến hành xác định độ ẩm (Phụ lục 5.16, 100 - 105oC, 5 giờ). Không được quá 15 %.

Tro toàn phần

Không quá 1 % (Phụ lục 7.6).

Kim loại nặng

Không quá 30 phần triệu.
Lấy 1 g chế phẩm, tiến hành theo phụ lục 7.4.7, phương pháp 3. Ống mẫu đối chiếu, lấy 3 ml dung dịch ion chì mẫu 10 phần triệu.

Arsen

Không được quá 3 phần triệu.
Lấy 2 g Minh giao, thêm 1 g calci hydroxyd (TT) và một ít nước, trộn đều, làm khô, đốt nhẹ cho cháy hết carbon, rồi nung ở 500 - 6000C đến hoàn toàn thành tro. Để nguội, hoà tan cặn tro trong 3 ml acid hydrocloric (TT), cho thêm nước vừa đủ 30 ml. Lấy 10 ml dung dịch, tiến hành theo phương pháp thử giới hạn arsen (Phụ lục 7.4.2, phương pháp A).

Chế biến

Ngâm da bò, trâu vào nước vôi cho mềm khoảng 1 ngày 1 đêm, cạo sạch lông, loại bỏ thịt mỡ còn lại, rửa sạch và luộc chín, thái nhỏ, thêm nước ngập xâm xấp rồi đun cho tan hết ra nước keo, lọc nóng. Nước keo đã lọc được đem cô cách thuỷ tới khi đổ một ít ra, để nguội, sờ không dính tay (khi cô đặc nên khuấy luôn tay). Đổ ra khay men đã bôi một lớp dầu hoặc mỡ, sau 3 giờ, cắt thành từng miếng theo kích thước quy định.

Bào chế

Chế với bột vỏ sò: Lấy bột vỏ sò rang cho nóng, cho Minh giao đã thái nhỏ vào, tiếp tục rang đến khi Minh giao nổ giòn thì lấy ra, rây bỏ bột, chế như vậy Minh giao sẽ bớt dính, mùi thơm hơn.

Bảo quản

Để nơi khô, trong bao bì kín, tránh nóng ẩm.

Tính vị, quy kinh

Vi cam, bình. Vào các kinh phế, can, thận.

Công năng, chủ trị

Tư âm, dưỡng huyết, bổ phế, nhuận táo, chỉ huyết, an thai. Chủ trị: Huyết suy, hư lao, gầy yếu, thổ huyết, băng huyết, đờm có lẫn huyết, sản hậu, huyết hư, kinh nguyệt không đều.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 4 - 12 g, khi dùng Minh giao phải làm cho chảy ra rồi hòa với nước thuốc khác để uống. Sắc khó ra nước cốt, hiệu quả điều trị không cao. Hoặc có thể ngâm rượu uống. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Kiêng kỵ

Tỳ vị suy nhược, ăn không tiêu hoặc đang ỉa lỏng không nên dùng.

MIÊN TỲ GIẢI (Thân rễ)-Rhizoma Dioscoreae septemlobae

MIÊN TỲ GIẢI (Thân rễ)

Rhizoma Dioscoreae septemlobae

Thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây Tỳ giải (Dioscorea septemloba Thunb. hoặc Dioscorea futschauensis Uline ex R. Knuth), họ Củ nâu (Dioscoreaceae).

Mô tả

Dược liệu: Phiến vát không đều, cạnh không đều, kích thước không đồng nhất, dày 2 - 5 mm. Mặt ngoài màu nâu hơi vàng hoặc đen hơi nâu, có rải rác vết của rễ nhỏ, dạng hình nón nhô lên. Mặt cắt màu trắng hơi xám đến màu nâu hơi xám, các đốm màu nâu hơi vàng của các bó mạch rải rác. Chất xốp hơi có dạng bọt biển. Mùi nhẹ, vị hơi đắng.

Soi bột

Màu nâu hơi vàng nhạt, nhiều hạt tinh bột, các hạt tinh bột đơn, hình trứng, hình bầu dục, hoặc gần hình cầu, hình tam giác hoặc các loại hình bất định; một số hạt nhọn ở một đầu; một số có nhiều mắt hay mấu, đường kính 10 - 70 mm; rốn hạt là khe hình chữ V, hình điểm, đa số có vân không rõ. Tinh thể calci oxalat hình kim, xếp thành bó, dài 90 - 210 mm. Các tế bào mô mềm hình nhiều cạnh, hình bầu dục hoặc hình chữ nhật, màng hơi dày, có lỗ rõ rệt. Các tế bào bần màu vàng hơi nâu, hình nhiều cạnh, thành tế bào thẳng.

Độ ẩm

Không quá 12% (Phụ lục 5.16, 1 g, 105oC, 5 giờ).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa thu, mùa đông. Đào lấy thân rễ, loại bỏ các rễ con, rửa sạch, thái phiến, phơi khô.

Bảo quản

Để nơi khô, tránh mốc.

Tính vị, quy kinh

Khổ, bình. Vào các kinh thận, vị.

Công năng, chủ trị

Lợi thấp, trừ trọc, khu phong, trừ tê đau. Chủ trị: Bệnh lâm (bệnh đái són đau), bạch trọc, bạch đới quá nhiều; nhọt độc thấp nhiệt, thắt lưng đau, đầu gối tê đau.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 9 - 15 g, dạng thuốc sắc.

MẪU LỆ-Concha Ostreae-Vỏ hàu, vỏ hà

MẪU LỆ

Concha Ostreae

Vỏ hàu, vỏ hà

Vỏ đã phơi khô của nhiều loại Hàu như: Hàu ống hay Trường mẫu lệ (Ostrea gigas Thunberg), Hàu sông hay Cận giang mẫu lệ (Ostrea rivularis Gould) hay Hàu (vịnh) Đại liên (Đại liên loan mẫu lệ) (Ostrea talienwhanensis Crosse), họ Hàu (Ostreidae)

Mô tả

Hàu ống (O. gigas): Dược liệu có hình dạng phiến thon dài, hai vỏ, gân ở lưng và bụng hầu hết song song, dài 10 - 50 cm, dày 4 - 15 cm. Vỏ bên trái lớn hơn vỏ bên phải; vỏ bên phải tương đối nhỏ, vẩy cứng, dày, xếp thành lớp hoặc tầng vân đều đặn, mặt ngoài vỏ phẳng hoặc có một vài chỗ lõm màu tía nhạt, trắng xám, hoặc nâu vàng; mặt trong màu trắng sứ. Hai cạnh của vỏ không có răng cưa nhỏ. Vỏ trái lõm rất sâu, vân thô và to hơn vỏ bên phải. Mặt gắn ở đỉnh nhỏ. Chất cứng nặng, mặt gẫy có dạng tầng, màu trắng tinh, không mùi, vị hơi mặn.
Hàu sông (O. rivularis): Thường dài 15 - 25 cm, hình tròn trứng hoặc hình tam giác, vỏ trái lớn hơn vỏ phải, vỏ phải phẳng hơn. Mặt ngoài vỏ bên phải hơi gồ ghề, có màu xám, tía, nâu, vàng. Có vảy đồng tâm, vảy non mỏng, giòn, vảy sinh trưởng đã lâu năm nhiều tầng, mặt trong màu trắng, mép có khi có màu tía nhạt.
Hàu Đại liên (O. talienwhanensis): Hình tam giác, mép lưng, bụng có hình chữ V. Mặt ngoài vỏ bên phải có màu vàng nhạt, có vảy đồng tâm thưa, gợn sóng lên xuống, mặt trong màu trắng bóng; vỏ bên trái, vảy đồng tâm, dày, cứng; từ bộ phận đỉnh vỏ, toả ra tia sườn rõ rệt, mặt trong lõm có dạng của một cái hộp, mặt khớp nối nhỏ.

Độ ẩm

Không quá 5% (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 4 giờ).

Tạp chất

Không quá 1% (Phụ lục 9.4).

Chế biến

Có thể thu hoạch quanh năm, loại bỏ thịt, lấy vỏ rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Bào chế

Mẫu lệ khô, khi dùng rửa sạch, làm khô, tán vụn thành bột hoặc nung rồi mới tán bột.
Mẫu lệ nung (Đoạn mẫu lệ): Lấy mẫu lệ đã rửa sạch, đặt trên lò than, nung đến khi thành màu trắng tro xốp, lấy ra để nguội, nghiền nhỏ.

Bảo quản

Để nơi khô.

Tính vị, quy kinh

Hàm, vi hàn. Vào các kinh can, đởm, thận.

Công năng, chủ trị

Mẫu lệ: Trọng trấn an thần, tiềm dương bổ âm, làm mềm chất rắn, tán kết khối, thu liễm, cố sáp. Chủ trị: Đánh trống ngực, mất ngủ, chóng mặt, ù tai, tràng nhạc, đờm đặc, hòn cục bĩ khối.
Đoạn mẫu lệ: Cố sáp. Chủ trị: Tự hãn, đạo hãn, di tinh, băng huyết, đới hạ, đau dạ dày ợ chua.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 9 - 30 g, dạng thuốc sắc (cho vào túi vải màn sắc mẫu lệ trước), dạng thuốc tán.

Kiêng kỵ

Nếu âm hư mà không có hoả và ỉa chảy thuộc hàn khí thì cấm dùng.

MẦN TƯỚI-Herba Eupatorii (Eupatorium fortunei Turcz.)

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

MẦN TƯỚI

Herba Eupatorii

Đoạn ngọn cành lá, phơi hay sấy khô của cây Mần tưới (Eupatorium fortunei Turcz.), họ Cúc (Asteraceae).

Mô tả

Dược liệu là đoạn ngọn, cành dài, ngắn không đều, thường dài khoảng 20-30cm, đường kính 0,2-0,5cm, mặt ngoài nhẵn, màu hơi nâu, rỗng giữa, có những rãnh nhỏ chạy dọc, lá mọc đối hình mác, mép lá có răng cưa to và nông, phiến lá hẹp, dài 10-15cm, rộng 1,5-2,5 cm, gân chính nổi rõ, nhiều gân phụ phân nhánh. Cụm hoa là ngù đầu. Hoa màu trắng hoặc phớt tím hồng. Quả đóng màu đen nhạt, 5 cạnh. Thân, lá, hoa có mùi thơm đặc biệt, vị hơi đắng, hơi cay.

Vi phẫu

Gân lá: Biểu bì trên và biểu bì dưới gồm một hàng tế bào hình chữ nhật xếp đều đặn. Mô dày nằm sát biểu bì trên và biểu bì dưới, tế bào mô dày hơi dày lên ở góc. Tế bào mô mềm hình đa giác màng mỏng. Nhiều bó libe - gỗ hình trái xoan, xếp thành hình cung ở giữa gân lá. Libe ở phía ngoài, gỗ phía trong gồm những mạch xếp đều đặn liên tiếp. Phiến lá cấu tạo đồng thể chỉ có mô mềm khuyết tế bào to, xếp lộn xộn.

Bột

Màu nâu gụ, mùi thơm, vị hơi cay. Soi kính hiển vi thấy: Những mảnh biểu bì trên và biểu bì dưới với những tế bào ngoằn ngoèo, có lỗ khí. Mảnh tế bào kèm không bằng nhau, nhiều lỗ khí đứng riêng lẻ. Nhiều mảnh mạch vạch và  mạch xoắn.

Định tính

Ngâm 1 g bột lá trong 10 ml ethanol (TT), đun trên cách thuỷ khoảng 20 phút, lọc. Lấy 2 ml dịch lọc, thêm 2 ml dung dịch natri carbonat 3% (TT), đun sôi, để nguội, thêm 2 giọt thuốc thử Diazo (TT) sẽ xuất hiện màu đỏ anh đào.

Độ ẩm

Không quá 13 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 5 giờ).

Tạp chất

Đoạn ngọn cành dài quá 30 cm:  Không quá 5% (Phụ lục 9.4).

Chế biến

Thu hái vào mùa hạ, mùa thu, cắt lấy đoạn ngọn cành có mang lá, rửa thật sạch, phơi trong bóng râm hoặc sấy ở 45-50oC đến khô.

Bào chế

Dược liệu khô, loại bỏ tạp chất, ủ mềm nhanh, cắt đoạn và phơi khô.

Bảo quản

Để nơi khô, mát.

Tính vị, quy kinh

Khổ, vi ôn. Vào các kinh tỳ, vị, phế.

Công năng, chủ trị

Phương hương, hoá thấp, tỉnh tỳ, khai vị, phát biểu, giải thử. Chủ trị: Thấp trọc trở ngại trung tiêu, thượng vị bĩ tức, buồn nôn, nôn mửa, miệng hôi nhiều nước dãi, biểu chứng thử thấp, ngực tức, đầu trướng.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 3 - 9 g, dạng thuốc sắc.

Kiêng kỵ

Băng huyết, lậu huyết không nên dùng.