Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯỢC ĐIỂN B. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯỢC ĐIỂN B. Hiển thị tất cả bài đăng

BỒ KẾT (Quả) Fructus Gleditsiae australis Trư nha tạo, bồ kết răng lợn, tạo giác

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

BỒ KẾT (Quả)

Fructus Gleditsiae australis

Trư nha tạo, bồ kết răng lợn, tạo giác

Quả chín, khô của cây Bồ kết (Gleditsia australisHemsl.), họ Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Quả dẹt và hơi cong, dài 5 - 11 cm, rộng 1,5 - 2 cm. Mặt ngoài nâu tía phủ chất sáp màu trắng tro, lấm tấm như bột, lau sạch có màu sáng bóng, dễ thấy các vết nứt dạng vân lưới hoặc dạng tuyến nhỏ lấm tấm và dạng bướu nhú lên. Đỉnh quả có gốc vòi nhụy tồn tại dạng mỏ chim, gốc quả có vết của cuống quả. Chất cứng, giòn, dễ gẫy. Mặt gẫy màu vàng nâu đến lục nhạt, giữa xốp hoặc là khoang chứa hạt. Mùi hăng nhẹ, vị ngọt sau hơi cay.

Bột

Màu vàng nâu, nhiều tế bào đá hình tròn hay hình bầu dục hoặc hình không đều, đường kính 15-53 mm. Nhiều sợi thường xếp thành bó, đường kính sợi 10-35 mm, thành hơi hoá gỗ, được bao quanh bởi các tế bào mô mềm có chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và một vài cụm sợi tinh thể, đi kèm bó sợi thường có tế bào vách dày hình gầnvuông. Các tinh thể calci oxalat hình lăng trụ dài 6-15 mm, những bó tinh thể đường kính 6-14 mm. Nhiều tế bào mô mềm có thành tế bào hoá gỗ, có nhiều vết lõm (hốc) và ống trao đổi rõ. Tế bào biểu bì vỏ quả màu nâu đỏ, hình đa giác, thành tương đối dày, với lớp cutin có gợn vân dạng hạt.

Định tính

A. Lấy khoảng 1 g bột dược liệu, thêm 8 ml ethanol (TT), đun hồi lưu trên cách thuỷ khoảng 5 phút, để nguội, lọc. Lấy khoảng 0,5 ml dịch lọc cho vào 1 chén sứ nhỏ, bốc hơi tới khô trên cách thuỷ, để nguội. Thêm 3 giọt anhydrid acetic (TT), khuấy đều rồi thêm 2 giọt acid sulfuric (TT) dọc theo thành chén, sẽ xuất hiện màu đỏ tía.
B. Đun sôi khoảng 1 g bột dược liệu với 10 ml nước trong 10 phút, lọc. Lắc mạnh dịch lọc, 1 lớp bọt được tạo thành bền vững trên 15 phút.

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 105oC, 4 giờ).

Tạp chất

Không quá 1 % (Phụ lục 9.4).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa thu, hái lấy quả, loại bỏ tạp chất, rửa sạch, phơi khô, khi dùng giã nát.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng, tránh mọt.

Tính vị, quy kinh

Tân, hàm, ôn, hơi độc. Vào các kinh phế, đại trường.

Công năng, chủ trị

Khai khiếu, tiêu đờm, tán kết, tiêu thũng. Chủ trị: Trúng phong cắn răng, đàm thịnh, quan khiếu không thông, họng đau tê đờm trướng ngại, ho suyễn khó khạc đờm, đại tiện táo kết. Dùng ngoài trị nhọt độc sưng tấy.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 1 - 1,5 g, thường dùng loại hoàn, tán. Dùng ngoài lượng thích hợp, tán thành bột mịn, thổi nhẹ vào mũi cho hắt hơi, hoặc đắp nơi đau.

Kiêng kỵ

Có thai hoặc thổ huyết, khạc huyết cấm dùng.

BỒ KẾT (Gai) Spina Gleditsiae australis Tạo giác thích

BỒ KẾT (Gai)

Spina Gleditsiae australis

Tạo giác thích

Gai ở thân và cành đã phơi hay sấy khô của cây Bồ kết (Gleditsia australis Hemsl.), họ Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Gai phân nhánh gồm có gai chính và các gai nhánh, có khi 2 - 7 gai xếp thành cụm xoắn ốc. Gai chính dài 3 - 15 cm hoặc hơn, đường kính 0,3 - 1 cm. Các gai nhánh dài 1 - 6 cm. Mặt ngoài màu nâu hoặc nâu tía. Chất nhẹ, cứng, khó bẻ gẫy, thái lát 0,1 - 0,2 cm thường thon về phía trên. Phần gỗ màu trắng vàng, phần tuỷ giòn xốp, màu hồng nhạt. Không mùi, vị nhạt.

Vi phẫu

Biểu bì gồm 1 hàng tế bào được phủ cutin, đôi khi có lông che chở đơn bào. Mô mềm vỏ gồm 2 -3 hàng tế bào, rải rác có tế bào chứa chất màu đỏ nâu. Bó sợi trụ bì xếp thành vòng không liên tục, xung quanh có các tế bào mô mềm chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và hiếm khi là cụm tinh thể calci oxalat, thường kèm 1 hoặc 2 - 3 nhóm tế bào đá. Libe hẹp. Gỗ thành vòng, tia gỗ có 1 -2 tế bào rộng. Ruột rộng, đôi khi tế bào mô mềm ruột có chứa hạt tinh bột.
Bột
Màu nâu, có nhiều sợi. Soi kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì màu nâu nhạt, gồm các tế bào nhiều cạnh, màng dày, chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và chất màu nâu. Mảnh mô mềm gồm các tế bào nhiều cạnh màng mỏng. Sợi gồm nhiều loại, có loại màu vàng nhạt, dài, thành dày, khoang không rõ, có khi kèm theo loại sợi thành mỏng, có chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và chất màu nâu. Có loại sợi gỗ dài, thành dày, khoang rộng, đứng riêng lẻ hay kèm theo mảnh mạch. Đám tế bào mô cứng thành dày, khoang rộng, có ống trao đổi rõ. Còn có mảnh mạch mạng, mạch chấm.

Định tính

A. Lấy 1 g bột dược liệu ngâm với 5 ml nước trong 1 giờ, lắc, có nhiều bọt.
B. Lấy 1 g bột dựơc liệu, thêm 10 ml ethanol 90% (TT), đun sôi trên cách thuỷ, lắc, lọc. Lấy 1 ml dịch lọc thêm 0,5 ml anhydrid acetic (TT), thêm từ từ 0,5 ml acid sulfuric (TT) xuống đáy ống nghiệm, tại lớp phân cách giữa 2 dung dịch có màu nâu đỏ

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 4 giờ).

Tạp chất

Không quá 1 % (Phụ lục 9.4).

Chế biến

Gai bồ kết thu hái quanh năm, phơi khô hoặc thái lát rồi mới phơi hay sấy khô.

Bào chế

Loại bỏ tạp chất, khi chưa thái lát, ngâm qua nước cho mềm, thái lát dày rồi phơi khô.

Bảo quản

Để nơi khô, định kỳ phơi sấy, tránh ẩm, tránh mọt.

Tính vị, quy kinh.

Tân, ôn. Vào các kinh can, vị.

Công năng, chủ trị

Tiêu thũng, trừ độc, trừ mủ, sát trùng. Chủ trị: Nhọt độc sơ khởi hoặc làm mủ không vỡ. Dùng ngoài điều trị ngứa, lở, hủi.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 3 - 9 g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài lượng thích hợp, có khi chưng giấm, bôi, đắp nơi đau.

Kiệng kỵ

Phụ nữ có thai không nên dùng.

BẠCH QUẢ (Hạt) Semen Ginkgo-(Ginkgo biloba L.), họ Bạch quả (Ginkgoaceae)

BẠCH QUẢ (Hạt)

Semen Ginkgo

Hạt già đã phơi hay sấy khô của cây Ngân hạnh hay Bạch quả (Ginkgo biloba L.), họ Bạch quả (Ginkgoaceae)

Mô tả

Hạt hình trứng, chắc,vỏ cứng, một đầu hơi nhọn, dài từ 1,5 - 2,5 cm, rộng 1 - 2 cm, dầy 1 cm. Vỏ ngoài cứng nhẵn, màu vàng nhạt hay xám nhạt, có 2 đến 3 đường gân chạy dài nổi lên rõ rệt. Vỏ hạt có 3 lớp, lớp ngoài cứng, hai lớp trong mềm, mỏng. Hạt có một nhân hình bầu dục, một đầu có màng mỏng màu nâu nhạt, mặt ngoài nhân vàng hay vàng sẫm, mặt trong màu trắng có bột, giữa rỗng có một tâm nhỏ. Nhân không có mùi, vị ngọt, hơi đắng.

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 105oC, 5 giờ).

Tạp chất

Không quá 0,5% (Phụ lục 9.4).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa thu, hái quả chín, bỏ hết chất thịt và vỏ ngoài, rửa sạch, hấp hoặc luộc qua, phơi hoặc sấy khô.

Bào chế

Bỏ tạp chất và vỏ cứng của hạt, lấy nhân, khi dùng giã nát.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng, Đựng trong bao bì kín.

Tính vị, quy kinh

Cam, khổ, sáp, bình, có độc. Vào kinh phế.

Công năng, chủ trị

Liễm phế, định suyễn, chỉ đới trọc, súc tiểu tiện. Chủ trị: Đờm nhiều, ho suyễn, đới hạ, bạch trọc, di niệu, niệu tần (đái nhiều lần).

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 4,5 - 9 g, dạng thuốc sắc hay hoàn, tán.

Kiêng kỵ

Không dùng sống vì có độc.

BẠCH ĐÀN (Lá) Folium Eucalypti (Eucalyptus camaldulensis Dehn.; Eucalyptus exserta F. Muell.)

BẠCH ĐÀN (Lá)

Folium Eucalypti

Lá khô của cây Bạch đàn (Eucalyptus camaldulensis Dehn.; Eucalyptus exserta F. Muell.) và một số loài Bạch đàn khác, họ Sim (Myrtaceae).

Mô tả

Lá hình mũi dáo hay hình lưỡi liềm, cuống ngắn và hơi vặn, phiến lá dài và hẹp (ở loài E. exserta) giòn và rộng hơn (ở loài E. camaldulensis), rộng 1 - 5 cm, dài 8 - 18 cm. Hai mặt lá đều có màu xanh ve ít vàng nhạt, lác đác có nhiều chấm nhỏ màu vàng. Khi soi lá trước ánh sáng thấy rất nhiều túi tiết tinh dầu nhỏ li ti. Gân cấp hai tỏa ra từ gân giữa, gặp nhau ở mép lá. Khi vò lá có mùi thơm mạnh đặc biệt, mùi dịu hơn ở loài E. camaldulensis. Vị thơm nóng, hơi đắng chát, sau có cảm giác mát và dễ chịu.

Vi phẫu

Biểu bì trên và dưới phủ lớp cutin dày. Mô dày ở phần lồi của gân giữa. Cung libe - gỗ ở chính giữa gân và hai bó libe - gỗ nhỏ xếp ở trên hai đầu cung libe - gỗ. Có nhiều đám sợi bao quanh cung và hai bó libe - gỗ.Mô mềm gồm tế bào tròn, màng mỏng, mô mềm giậu gồm 3 - 4 hàng tế bào hình chữ nhật xếp dọc ngay sát hàng biểu bì trên và dưới. Mô mềm khuyết. Có nhiều túi tiết to ở trong mô mềm giậu và rải rác có trong mô dày ở gân giữa.

Độ ẩm

Không quá 13% (Phụ lục 9.6).

Tạp chất (Phụ lục 9.4)

Tỷ lệ lá sẫm màu: Không quá 1%.
Bộ phận khác của cây: Nụ, hoa, quả non và cành mang lá: Không quá 2%.

Định lượng

Dùng 30 g dược liệu đã cắt nhỏ, cất với 150 ml nước trong thời gian 3 giờ. Dược liệu phải chứa ít nhất 1,2% tinh dầu (Phụ lục 9.2).

Chế biến

Thu hoạch vào cuối mùa xuân, hái lá già, phơi âm can đến khô hoặc chưng cất lấy tinh dầu.

Bảo quản

Để nơi khô mát, đựng trong bình hay túi kín.

Tính vị

Khổ, tân, lương.

Công năng, chủ trị

Khu phong, thanh nhiệt, giải độc, sát trùng. Chủ trị: Cảm mạo phong nhiệt, phong ôn mới phát, sốt, ho, thấp nhiệt, tiêu chảy, kiết lỵ do thấp nhiệt, đái rắt thấp nhiệt, họng sưng đau do nhiệt độc.
Dùng ngoài: Sát trùng chống viêm nhiễm, trị loét chi dưới, âm đạo nhiễm khuẩn, bỏng lửa; ung thũng (nhọt độc sưng), ghẻ lở, thấp chẩn ngoài da (eczema), ngứa.

Cách dùng, liều lượng

Dùng 10 - 12 g thuốc thang, thuốc hãm 20 g/1 lít nước.
Dùng ngoài lượng thích hợp, sắc nước rửa, nấu cao, bôi, đắp.

BA GẠC-(Vỏ rễ và rễ)-Cortex et Radix Rauvolfiae (Rauvolfia vomitoria Afz. và Rauvolfia canescens L.), họ Trúc đào (Apocynaceae)

BA GẠC (Vỏ rễ và rễ)

Cortex et Radix Rauvolfiae

Vỏ rễ và rễ phơi trong râm hay sấy khô của các cây Ba gạc (Rauvolfia vomitoria Afz. và Rauvolfia canescens L.), họ Trúc đào (Apocynaceae).

Mô tả

Vỏ rễ là những mảnh vỏ dài ngắn, to nhỏ không đều nhau, mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, mặt trong có thể dính một ít gỗ mỏng. Có lẫn một ít rễ nhỏ (đường kính nhỏ hơn 0,5 cm), cong queo, mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc và lớp bần dễ bong. Mặt bẻ lởm chởm không đều. Mặt cắt ngang có lớp bần dày (đối với loài R. vomitoria Afz.), hoặc lớp bần mỏng hơn (đối với loài R. canescens L.). Mô mềm vỏ mỏng, màu nâu nhạt. Vị rất đắng.

Vi phẫu

Loài R. vomitoria Afz. có lớp bần rất dày, gồm 5 - 11 lớp tế bào, mỗi lớp có 4 - 5 hàng tế bào hình chữ nhật. Loài R. canescensL. có lớp bần mỏng hơn nhiều, chỉ gồm 4 - 5 hàng tế bào hình chữ nhật, màng mỏng, xếp chồng khít lên nhau.Mô mềm vỏ: tế bào hình trứng hay hình tròn, kích thước không đều (đối với R. vomitoria Afz.), hoặc méo mó dẹt (đối với loài R. canescens L.). Rải rác có tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và đám mô cứng. Libe bị chia cắt bởi các tia ruột, tế bào libe màng mỏng. Tầng sinh libe - gỗ (ở loài R. vomitoria Afz.) tạo thành đường uốn lượn. Gỗ chiếm từ tầng sinh libe - gỗ vào đến tâm, mạch gỗ tròn, to (đối với R. vomitoria Afz.), mạch gỗ nhỏ, thưa (đối với loài R. canescens L.), xen kẽ với nhiều đám sợi gỗ và mô mềm gỗ. Tia ruột gồm những tế bào màng mỏng.

Soi bột

Nhiều tế bào mô cứng màu vàng, hình trái xoan hay chữ nhật, màng rất dày, phần lớn có khoang rộng, có ống trao đổi rõ, hợp thành từng đám hoặc đứng riêng lẻ; hạt tinh bột tròn có đường kính 16 - 32 mm (đối với loài R. vomitoria Afz.), 6 - 9 mm (đối với loài R. canescens L.). Sợi đứng riêng lẻ hay tụ thành từng bó. Mảnh mạch (loài R. canescens L. có mạch điểm). Mảnh bần gồm tế bào hình nhiều cạnh màu vàng nâu nhạt. Tinh thể calci oxalat hình trụ có đường kính 20 - 45 mm.

Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 4.4).
Bản mỏng: Silicagel G Hệ dung môi khai triển: Cloroform - methanol - amoniac (50: 90: 1) (pha khi dùng).
Dung dịch thử (dung dịch alcaloid toàn phần): Cân chính xác khoảng 2 - 3 g bột dược liệu, cho vào bình nón nút mài dung tích 500 ml. Thấm ướt dược liệu bằng 3 ml dung dịch amoniac 25% (TT) và 1 ml ethanol 96% (TT), thêm 200 ml cloroform (TT). Lắc một giờ rồi để yên qua đêm trong chỗ tối, hôm sau lắc tiếp 30 phút. Gạn lấy dịch chiết cloroform, cất thu hồi dung môi còn khoảng 100 ml. Để nguội, chuyển vào bình định mức 100 ml, thêm cloroform đến vạch, lắc đều.Các dung dịch chuẩn: Dung dịch reserpin 0,02% và ajmalin 0,02% trong cloroform (pha riêng, bảo quản trong lọ màu, để tủ lạnh).Cách tiến hành: Chấm 10 ml dung dịch alcaloid toàn phần đã chiết và 10 ml dung dịch chuẩn mỗi loại. Phát hiện vết bằng cách quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm và phun dung dịch sắt (III) clorid 5% (TT) trong acid nitric 50% (TT), sắc ký đồ phải có:Một vết cùng giá trị Rf và cùng phát quang xanh lục so với vết chuẩn reserpin, đồng thời khi phun dung dịch sắt (III) clorid 5% phải có một vết cùng giá trị Rf và cùng màu đỏ so với vết chuẩn ajmalin (đối với loài R. vomitoria Afz.).Một vết phát quang màu tím lơ có giá trị Rf = 0,4 - 0,5 (serpentin), đồng thời có một vết cùng màu đỏ và cùng giá trị Rf so với ajmalin chuẩn; ngoài ra còn một số vết đỏ khác (đối với loài R. canescens L.).

Độ ẩm

Không quá 13% (Phụ lục 5.16).

Tạp chất

Rễ nguyên đường kính lớn hơn 0,5 cm: Không quá 2% Rễ nguyên đường kính nhỏ hơn 0,5 cm: Không quá 30%.Các tạp chất khác: Không quá 1% .
Định lượng alcaloid toàn phần
Chiết alcaloid toàn phần như đã mô tả ở phần định tính. Cất thu hồi dịch chiết cloroform đến gần cạn (còn 2 - 5 ml). Thêm 20 ml dung dịch acid phosphoric 3% (TT), đun nóng trên cách thủy đến khi bay hết cloroform. Để nguội, lọc. Tiếp tục rửa bình và giấy lọc 3 lần, mỗi lần 10 ml dung dịch acid phosphoric 3%. Gộp các dịch acid, thêm dung dịch amoniac 10% (TT) đến pH 10. Chiết alcaloid bằng cloroform lần lượt với 25, 20, 10, 10 ml. Gộp dịch cloroform, lọc qua natri sulfat khan vào bình đã biết khối lượng. Cất thu hồi dung môi đến khô và sấy ở 80 - 90oC đến khối lượng không đổi.Alcaloid toàn phần trong dược liệu khô tính theo công thức:
X=a.100.100/p.(100-b)
X: Hàm lượng alcaloid toàn phần (%).a: Cắn alcaloid sau khi sấy đến khối lượng không đổi (g).b: Độ ẩm dược liệu (%).p: Khối lượng dược liệu (g).Dược liệu phải chứa ít nhất 1,5% alcaloid toàn phần đối với R. canescens L. và 2,5% alcaloid toàn phần đối với R.vomitoria Afz.
Định lượng ajmalin
Bản mỏng: Silicagel G, kích thước 20 x 20 cm, hoạt hóa ở 120oC trong 2 giờ trước khi dùng.
Dung môi khai triển: Cloroform - methanol - amoniac 25% (50: 9: 1).Dung dịch chuẩn: Pha dung dịch 0,1% ajmalin trong cloroform (có thể dùng dung dịch chuẩn ở phần định tính).Tiến hành: Chia bản mỏng 20 x 20 cm thành 5 khoang (mỗi khoang 4 cm), khoang 1 để không (làm mẫu trắng), khoang thứ 2 và 4 chấm một lượng thích hợp dung dịch alcaloid toàn phần chiết như ở phần định tính (V2) sao cho có độ hấp thụ từ 0,2 - 0,4, khoang 3 và 5 chấm dung dịch chuẩn với thể tích 0,2 ml. Triển khai sắc ký từ dưới lên khoảng 15 - 18 cm. Lấy bản mỏng ra, làm khô hết dung môi, xác định vị trí vết ajmalin bằng phun thuốc thử xanh bromothymol (TT) trong môi trường kiềm [hòa tan xanh bromothymol trong dung dịch ethanol - natri hydroxyd 0,2 N theo tỷ lệ 1:1 (tt/tt)]. Ajmalin cho vết màu xanh có giá trị Rf ngang với ajmalin chuẩn. Đánh dấu vết ajmalin trên bản mỏng. Cạo lớp silicagel băng đầu tiên cho vào bình số 1 (làm mẫu trắng), cạo băng 2 và 4 cho vào bình 2 và 4 (mẫu phân tích), cạo băng 3 và 5 cho vào bình 3 và 5 (mẫu chuẩn), các bình có dung tích 100 ml. Thêm vào các bình 0,2 ml dung dịch xanh bromothymol hòa tan trong nước, thêm 15 ml cloroform, lắc đều. Sau đó thêm 9,8 ml dung dịch đệm pH 7,6, đậy nắp và lắc trên máy lắc trong 10 phút. Tách lớp cloroform bằng phễu chiết. Hợp chất ajmalin với xanh bromothymol có màu vàng. Lắc lớp cloroform của mỗi mẫu với 15 ml dung dịch natri hydroxyd 0,05 N, thêm nước đến 20 ml sẽ nhận được dung dịch nước màu xanh bền vững. Đo độ hấp thụ của dung dịch màu xanh ở bước sóng 597 ± 10 nm. Dùng dung dịch mẫu trắng làm dung dịch so sánh.Nồng độ của ajmalin trong dung dịch phân tích được tính theo công thức:
Cx=Dx.Cc/Cc
Cx: Nồng độ % của ajmalin trong dung dịch phân tích.Dx: Mật độ quang của dung dịch phân tích.Cc: Nồng độ % của ajmalin chuẩn.
Dc: Mật độ quang của dung dịch chuẩn.
Lượng ajmalin trong dược liệu tính theo công thức:
X=a.V1.100.100/p.(100-b).V2
X: Hàm lượng ajmalin trong nguyên liệu (%).
a: Lượng ajmalin tìm được.
V1: Tổng thể tích dung dịch phân tích.
p: Khối lượng dược liệu đem thử.
b: Độ ẩm nguyên liệu (%).
V2: Thể tích dịch chiết mẫu thử chấm trên kính sắc ký
Dược liệu phải chứa ít nhất 0,8% ajmalin (đối với R. canescens L.) và 1,3% ajmalin (đối với R. vomitoria Afz).

Chế biến

Rễ đào về rửa sạch đất (chú ý không làm bong lớp vỏ rễ). Loại rễ có đường kính nhỏ hơn 0,5 cm để nguyên, những rễ có đường kính lớn hơn 0,5 cm thì bóc lấy vỏ rễ, phơi trong râm hoặc sấy ở 50 - 60oC đến khô.
Dược liệu nên thu hái vào lúc cây có nụ hoa, chớm nở hoa hoặc vào lúc cây tàn lụi.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng, tránh nắng, mốc mọt.

THẠCH CAO-băng thạch-Gypsum fibrosum

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

THẠCH CAO
Gypsum fibrosum
Đại thạch cao, băng thạch

Chất khoáng thiên nhiên có thành phần chủ yếu là calci sulfat ngậm 2 phân tử nước (CaSO4 . 2H20).

Mô tả
Thạch cao là 1 khối tập hợp của các sợi theo chiều dài, hình phiến hoặc các miếng không đều, màu trắng, trắng xám hoặc vàng nhạt, đôi khi trong suốt. Thể nặng, chất xốp, mặt cắt dọc có sợi óng ánh. Thạch cao màu trắng, bóng, mảnh to, xốp, mặt ngoài như sợi tơ, không lẫn tạp chất là tốt. Không mùi, vị nhạt.

Kim loại nặng
Không quá 10 ppm.
Dung dịch thử: Lấy 16 g bột chế phẩm thêm 4 ml acid acetic băng (TT) và 36 ml nước, đun sôi 10 phút, để nguội, cho thêm nước cho vừa đúng thể tích ban đầu, lọc. Lấy 25 ml dịch lọc cho vào ống Nessler A.
Dung dịch đối chiếu: Cho vào ống Nessler B gồm 1 ml dung dịch chì mẫu 10 phần triệu,  2 ml dung dịch đệm acetat pH 3,5, thêm nước vừa đủ 25 ml.
Thêm vào mỗi ống Nesler trên 2 ml dung dịch thioacetamid (TT), để yên 2 phút. So sánh màu của dung dịch thử và dung dịch đối chiếu bằng cách  quan sát từ trên xuống dọc theo trục của ống nghiệm trên nền trắng. Màu của dung dịch thử không được đậm hơn màu của dung dịch đối chiếu.

Arsen
Không được quá 2 phần triệu.
Lấy 1 g chế phẩm, thêm 15 ml acid hydrocloric (TT) và nước đến 40 ml, đun nóng để hoà tan. Tiến hành thử giới hạn arsen. Dùng 2 ml dung dịch arsen mẫu 1 phần triệu làm dung dịch so sánh.

Định tính
A. Lấy một miếng thạch cao (chế phẩm) cho vào một ống nghiệm có nút bần đã đục lỗ, đốt lên, hơi ẩm sẽ đọng lại ở thành ống nghiệm, miếng thạch cao trở nên trắng đục.

B. Lấy khoảng 0,2 g bột chế phẩm, thêm 10 ml acid hydrocloric loãng (TT), đun nóng, hoà tan được dung dịch thử, tiến hành thử phản ứng calci và sulfat như sau:
Sulfat:
Thêm 1 ml dung dịch bari clorid (TT) vào 3 ml dung dịch thử, có tủa trắng, tủa không tan trong acid hydrocloric (TT) và acid nitric (TT).
Thêm vài giọt dung dịch chì acetat (TT) vào 3 ml dung dịch thử, có tủa màu trắng, tủa này tan trong dung dịch amoni acetat hoặc dung dịch natri hydroxyd (TT).
Calci:
Tẩm chế phẩm với acid hydrocloric (TT), lấy que dây Bạch kim (Pt) chấm vào, hơ lên ngọn lửa không màu, sẽ thấy màu đỏ vàng nhạt
Trung hoà hoặc kiềm hoá nhẹ dung dịch thử trên, thêm vài giọt dung dịch amoni oxalat (TT), sẽ có tủa trắng không tan trong acid hydrocloric (TT) nhưng tan trong acid acetic (TT).

Định lượng
Cân chính xác 0,2 g bột chế phẩm mịn, cho vào một bình nón, thêm 10 ml dung dịch acid hydrocloric loãng (TT), đun nóng để hoà tan, thêm 100 ml nước và 1 giọt đỏ methyl (CT), thêm nhỏ giọt dung dịch kali hydroxyd 10% (TT) đến khi dung dịch chuyển sang màu vàng nhạt, sau đó thêm tiếp 5 ml. Thêm một lượng nhỏ hỗn hợp chỉ thị màu calcein (CT), chuẩn độ bằng dung dịch dinatri edetat 0,05 M (CĐ) đến khi huỳnh quang lục vàng nhạt mất đi và chuyển sang màu da cam. 1 ml dung dịch dinatri edetat 0,05 M tương đương với 8,608 mg CaSO4.2H2O. Thạch cao phỉ có hàm lượng calci sulfat hydrat  (CaSO4. 2H2O) không được dưới 95,0%.

Chế biến
Lấy thạch cao, rửa sạch, phơi khô, đập ra thành miếng nhỏ, loại bỏ các đá tạp, sau nghiền thành bột thô, gọi là sinh thạch cao.

Bào chế
Đoạn thạch cao: Lấy sinh thạch cao sạch, đập thành khối nhỏ, bỏ vào lò lửa không khói, nung đến khi tơi bở, lấy ra, để nguội, đập vụn.

Bảo quản
Để nơi khô.

Tính vị, quy kinh
Sinh thạch cao: Cam, tân, đại hàn. Vào các kinh phế, vị, tam tiêu, tâm bào.
Đoạn thạch cao: Cam, tân, sáp, hàn.

Công năng, chủ trị
Sinh thạch cao: Thanh nhiệt tả hoả, trừ phiền chỉ khát. Chủ trị: Thực nhiệt ở phần khí của phế vị (sốt cao, mồ hôi nhiều khát nhiều, mạch hồng đại), nhiệt độc thịnh ở kinh mạch (sốt cao phát ban), giai đoạn sau của bệnh ôn (còn sốt nhẹ, tâm phiền, miệng khô, hơi đỏ), viêm lợi.

Đoạn thạch cao: Thu thấp, sinh cơ, liễm sang, chỉ huyết. Chủ trị: Dùng ngoài điều trị vết loét không thu miệng, ngứa do thấp chẩn, bỏng nước, bỏng lửa, ngoại thương chảy máu.

Cách dùng, liều lượng
Sinh thạch cao: Ngày dùng 10 - 36 g, dạng thuốc sắc (sắc trước các loại thuốc khác).
Đoạn thạch cao: Tán bột đắp nơi đau, lượng thích hợp.

Kiêng kỵ
Chứng hư hàn không dùng.

TẰM VÔI-Bạch cương tàm-Bombyx Botryticatus

TẰM VÔI
Bombyx Botryticatus
Bạch cương tàm, Cương tàm

Toàn thân phơi hoặc sấy khô của Tằm nhà nuôi giai đoạn 4 - 5 (Bombyx mori L.), họ Tằm tơ (Bombycydae) bị nhiễm vi nấm Bạch cương (Botrytis bassiana Bals.), họ Mucedinaceae, phân ngành Nấm bất toàn (Deuteromycotina).

Mô tả
Tằm vôi hình trụ, thường cong queo, nhăn nheo, dài 2 - 5 cm, đường kính 0,5 - 0,7 cm, mặt ngoài màu vàng tro, bao phủ bởi sợi nấm khí sinh và bào tử dạng phấn trắng. Toàn thân chia đốt rõ rệt. Đầu tương đối tròn, mắt ở 2 bên, hai bên lườn bụng có 8 đôi chân giả, đuôi hơi chẻ đôi. Chất cứng giòn, dễ bẻ gẫy, mặt gẫy bằng phẳng, sáng bóng, lớp ngoài trắng như bột, lớp giữa có 4 vòng tuyến tơ màu đen sáng hay nâu sáng. Mùi hơi tanh, vị hơi mặn.

Bột
Màu nâu xám hoặc nâu xám thẫm. Sợi nấm hầu như không màu, cong queo hoặc hình dấu ngoặc, với các sợi xoắn ốc màu nâu hoặc nâu thẫm. Mặt ngoài, mô biểu bì có vân nhăn nheo, hình lưới và những điểm nhỏ nhọn mọc cao lên từ những đường sọc, với những lỗ lông cứng tròn, mép của các lỗ này màu vàng. Lông cứng màu vàng hoặc màu nâu vàng, mặt ngoài trơn bóng, thành hơi dày. Trong mô lá dâu tằm chưa tiêu hoá hết, phần lớn chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ.

Độ ẩm
Không quá 11% (1 g, 105 0C, 4 giờ).

Tạp chất
Không quá 0,5%

Tro toàn phần
Không quá 7,0%

Chế biến
Vào mùa xuân và mùa thu, chọn những con tằm nguyên vẹn, chết cứng, trong và ngoài đều trắng do bị nhiễm vi nấm Botrrytis bassiana Bals, rửa sạch, phơi nắng (có phủ vải xô), hoặc sấy nhẹ (40  – 50 oC) đến khô.

Bào chế
Loại bỏ tạp chất, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.
Tầm vôi sao: Bỏ cám vào chảo, rang đều cho đến khi bốc khói. Cho tầm vôi đã rửa sạch vào và đảo đều cho đến khi bề mặt của tầm vôi biến thành màu vàng. Sàng loại bỏ cám, để nguội. Dùng 1kg cám cho 10 kg tầm vôi.

Bảo quản
Nơi khô mát, tránh mốc mọt.

Tính vị, qui kinh
Hàm, tân, bình. Qui vào các kinh tâm, can, tỳ, phế.

Công năng, chủ trị
Trừ phong, định kinh giản, tiêu đờm. Chủ trị: kinh giản, họng sưng đau, đơn độc, mẩn ngứa da, loa lịch, liệt thần kinh mặt.

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 5 - 9 g, phối ngũ trong các bài thuốc. Trẻ em dùng liều thích hợp theo chỉ dẫn của thầy thuốc.

SÂM BỐ CHÍNH (Rễ)-Abelmoschus sagittifolius

SÂM BỐ CHÍNH (Rễ)
Radix Abelmoschi sagittifolii
Bố chính sâm, Thổ hào sâm, Nhân sâm Phú Yên

Rễ củ đã phơi hay sấy khô của cây Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.), họ Bông (Malvaceae).

Mô tả
Rễ củ hình trụ, đầu dưới thuôn nhỏ, đôi khi phân nhánh, dài 10 cm trở lên, đường kính 0,5 – 1,5 cm. Mặt ngoài màu trắng ngà, có nhiều vết nhăn và vết sẹo của rễ con. Vết bẻ màu trắng, có nhiều bột, không có xơ. Mùi hơi thơm, vị nhạt và nhày.

Vi phẫu
Lớp bần gồm 3 - 6 lớp tế bào, có khi đến 10 - 15 lớp, mô mềm vỏ cấu tạo bởi tế bào hình nhiều cạnh, chứa hạt tinh bột. Rải rác trong mô mềm có các tinh thể calci oxalat hình cầu gai và các túi tiết chất nhầy. Bó libe hình nón, rải rác có vài đám sợi. Bó gỗ cấu tạo bởi những đám mạch gỗ rải rác trong mô mềm gỗ. Tia ruột gồm 2 - 3 hàng tế bào từ vùng gỗ ra tới vùng libe thì loe thành phễu. Tế bào tia ruột cũng chứa tinh bột.

Bột
Bột màu trắng ngà hay vàng nhạt, có nhiều hạt tinh bột riêng lẻ, hình dạng thay đổi, kích thước từ 12-34 µm, có khi 2-3 hạt dính với nhau. Sợi libe có thành hơi dày rộng khoảng 20 µm. Mảnh mạch điểm, mạch mạng. Tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Mảnh mô mềm gồm nhiều tế bào chứa tinh bột.

Định tính
A. Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 10 ml nước cất, lắc trong 15 phút, lọc qua bông thu được dung dịch A.
Lấy 1 ml dung dịch A, thêm 1 ml dung dịch natri hydroxyd 10% (TT), dung dịch có màu vàng chanh.
Lấy 2 - 3 ml dung dịch A, thêm vài giọt dung dịch chì acetat 20% (TT), sẽ có tủa trắng.

B. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại (365 nm), bột dược liệu phát quang màu trắng sáng.

C. Lấy 2 g bột dược liệu, thêm 10 ml ethanol 96% (TT), đun cách thủy 10 phút, để nguội, lọc. Lấy 1 ml dịch lọc, thêm 1 ml dung dịch natri hydrocarbonat 5% (TT), đun cách thủy trong 3 phủt, để nguội. Thêm 1 - 2 giọt thuốc thử Diazo (TT), màu đỏ cam xuất hiện.

Độ ẩm
Không quá 13% (1 g, 105 oC, 4 giờ).

Tro toàn phần
Không quá 12%.

Tro không tan trong acid hydroclorid
Không quá 7%.

Tạp chất
Không quá 1%.

Định lượng
Cân chính xác khoảng 2 g bột dược liệu đã qua rây có kích thước mắt rây 2 mm, cho vào bình nón và chiết bằng ethanol 25% (TT) ở nhiệt độ 40 – 45 oC trong bể rửa siêu âm cho hết chất nhầy (kiểm tra bằng dung dịch chì acetat 20% (TT): Lấy 1ml dịch chiết lần cuối cùng, thêm vài giọt dung dịch chì acetat 20% (TT), không còn tủa nữa là được). Gộp các dịch chiết ethanol lại, bốc hơi dịch chiết đến dạng cao lỏng (1/5). Kết tủa chất nhầy bằng dung dịch chì acetat 20% (TT) (dùng 15-20 ml). Lọc qua giấy lọc đã cân bì trước. Rửa tủa trên giấy lọc đến khi nước rửa hết phản ứng của chì (kiểm tra bằng dung dịch natri sulfat 10% (TT): lấy 1 ml dịch lọc, thêm vài giọt dung dịch natri sulfat 10% (TT), khi không còn tủa trắng là được). Sấy khô tủa ở 110 oC  đến khối lượng không đổi và cân.  
Dược liệu phải chứa không ít hơn 25,0% chất chiết được bằng ethanol 25% (TT) tính theo dược liệu khô kiệt.

Chế biến
Thu hoạch vào mùa thu, đông. Đào lấy rễ củ, loại bỏ rễ con, phơi hoặc sấy khô. Có thể đồ chín hoặc ngâm nước gạo, vớt ra rửa sạch, đồ chín rồi phơi khô.

Bào chế
Rễ khô đã loại bỏ tạp chất, rửa sạch, thái phiến phơi khô. Khi dùng có thể chế gừng.

Bảo quản
Để nơi khô, tránh mốc, mọt.

Tính vị, quy kinh
Cam, đạm, bình. Vào hai kinh tỳ, phế.

Công năng, chủ trị
Bổ khí, ích huyết, sinh tân dịch, chỉ khát, chỉ ho, trừ đờm. Chủ trị: Cơ thể suy nhược, hư lao, kém ăn, kém ngủ, thần kinh suy nhược, hoa mắt, chóng mặt, đau dạ dày, tiêu chảy, ho, viêm họng, viêm phế quản.

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 10 - 12 g, dạng thuốc sắc, tán bột, hoặc ngâm rượu uống.

Kiêng kỵ
Thể tạng hư hàn, phải chích gừng. Không dùng chung với Lê lô.

PHỤC LINH-Bạch linh-Poria cocos

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

PHỤC LINH
Poria
Bạch linh

Thể quả nấm đã phơi hay sấy khô của nấm Phục linh-Poria cocos (Schw.) Wolf, họ Nấm lỗ (Polyporaceae), mọc ký sinh trên rễ một số loài Thông.

Mô tả
Thể quả nấm Phục linh khô: hình cầu, hình thoi, hình cầu dẹt hoặc hình khối không đều, lớn, nhỏ không đồng nhất, mặt ngoài màu nâu đến nâu đen, có nhiều vết nhăn rõ và lồi lõm. Thể nặng, rắn chắc. Mặt bẻ sần sùi và có vết nứt, lớp viền ngoài màu nâu nhạt, phần trong màu trắng, số ít có màu hồng nhạt. Có loại bên trong còn mấy đoạn rễ thông (Phục thần). Nấm phục linh không mùi, vị nhạt, cắn dính răng.
Phục linh bì: Là lớp ngoài Phục linh tách ra, lớn, nhỏ, không đồng nhất. Mặt ngoài từ nâu đến nâu đen, mặt trong màu trắng hoặc nâu nhạt. Chất tương đối xốp, hơi có tính đàn hồi.
Phục linh khối: sau khi tách lớp ngoài, phần còn lại được thái, cắt thành phiến hay miếng, lớn nhỏ không đồng nhất, màu trắng, hồng nhạt hoặc nâu nhạt.
Xích phục linh: Là lớp thứ hai sau lớp ngoài, hơi hồng hoặc nâu nhạt.
Bạch phục linh: Là phần bên trong, màu trắng.
Phục thần: Là phần nấm Phục linh ôm đoạn rễ thông bên trong.

Bột
Màu trắng tro, có những khối sợi nấm dạng hạt không đều và những khối phân nhánh, không màu, nhỏ dung dịch cloral hydrat, sẽ tan dần. Soi kính hiển vi thấy: sợi nấm không màu hoặc màu nâu nhạt, mảnh dẻ, nhỏ, dài, hơi cong, phân nhánh, đường kính 3-8 µm, ít khi có sợi nấm đường kính tới 16 µm.

Định tính
A. Lấy 1,0 g bột dược liệu, thêm 5 ml aceton (TT), đun hồi lưu trên cách thủy 5 phút, thỉnh thoảng lắc, lọc. Bốc hơi dịch lọc trên cách thuỷ đến cạn. Hoà tan cặn trong 0,5 ml anhydrid  acetic  (TT), thêm 1 giọt acid sulfuric (TT), xuất hiện màu đỏ nhạt, sau chuyển thành màu xanh.

B. Nhỏ 1 giọt dung dịch iod- iodid (TT) lên bột dược liệu sẽ có màu đỏ thẫm.

Độ ẩm
Không quá 12,0 % (1g, 105 oC, 5 giờ).

Tạp chất
Không quá 1%.

Tỷ lệ vụn nát:
Tỷ lệ qua rây có kích thước mắt rây 3,150 mm: Không quá 5%.

Chế biến
Thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 9, loại bỏ đất cát, chất đống cho ra mồ hôi rồi rải ra chỗ thoáng gió cho se bề mặt, tiếp tục chất đống, ủ vài lần cho đến khi khô nước và xuất hiện nhăn nheo bề mặt, phơi âm can đến khô. Hoặc Phục linh tươi thái miếng và phơi âm can nơi thoáng gió. Tuỳ theo các phần thái và màu sắc của Phục linh mà có tên gọi khác nhau: Bạch phục linh, Phục linh bì, Xích phục linh, Phục linh khối, Phục linh phiến.

Bào chế
Ngâm Phục linh vào nước, rửa sạch, đồ thêm cho mềm, gọt vỏ, thái miếng hoặc thái lát lúc đang mềm và phơi hoặc sấy khô.

Bảo quản
Nơi khô mát tránh ẩm, vụn nát.

Tính vị, qui kinh
Cam, đạm, bình. Quy vào kinh tâm, phế, thận, tỳ, vị.

Công năng, chủ trị
Lợi thuỷ, thẩm thấp, kiện tỳ hoà trung, ninh tâm an thần. Chủ trị: Thuỷ thũng kèm tiểu sẻn, đánh trống ngực, mất ngủ, kém ăn, phân lỏng, tiết tả.

Cách dùng, liều lượng
Ngày  9 - 15g, phối ngũ trong các bài thuốc.

Kiêng kỵ
Âm hư thấp nhiệt không nên dùng.

MƠ MUỐI-Diêm mai, Bạch mai-Prunus armeniaca

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

MƠ MUỐI
Fructus armeniacae praeparatus
Diêm mai, Bạch mai
Quả già màu vàng đã chế muối của cây Mơ (Prunus armeniaca L.), họ Hoa hồng (Rosaceae).

Mô tả
Quả hạch hình cầu dẹt, to nhỏ không đều, đường kính 1 - 3 cm. Mặt ngoài màu nâu nhạt có nhiều nếp nhăn. Đáy có vết cuống quả hình tròn lõm sâu. Thịt quả mềm dính muối, thịt quả bị rách để lộ vỏ quả trong cứng rắn, màu nâu nhạt. Hạt hình trứng dẹt, màu vàng nhạt. Vị chua, mặn.

Định tính
Phương pháp sắc ký lớp mỏng
Bản mỏng : Silica gel G .
Dung môi khai triển: Cyclohexan - cloroform - ethyl  acetat  - acid formic (20: 5 : 8 : 0,1).
Dung dịch thử: Lấy 5 g bột chế phẩm (phần thịt quả), thêm 30 ml methanol (TT), lắc siêu âm trong 30 phút, để nguội và lọc. Bay hơi dịch lọc tới khô, hoà tan cặn trong 20 ml nước và chuyển vào bình gạn; chiết với ether (TT) hai lần, mỗi lần 20 ml, gộp dịch chiết và bay hơi dịch chiết tới khô. Ngâm cặn thu được trong 15 ml ether dầu hỏa (TT)(độ sôi 30 - 60 ºC)  loại bỏ lớp ether dầu hoả, làm như vậy 2 lần, trong khoảng 2 phút. Hoà tan cạn còn lại trong 2 ml ethanol (TT).
Dung dịch đối chiếu: Sử dụng 5 g Mơ muối (mẫu chuẩn), tiến hành như với Dung dịch thử ở trên. Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 μl dung dịch thử và dung dịch đối chiếu. Sau khi triển khai sắc ký, để khô bản mỏng ngoài không khí. Phun dung dịch acid sulfuric 10% trong ethanol (TT) và sấy ở 105 ºC cho đến khi xuất hiện rõ vết. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết có cùng vị trí và màu sắc với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm
Không quá 15 % (1 g, 105 oC, 4 giờ).

Chế biến
Diêm mai (Bạch mai): Hái quả Mơ gần chín vàng, không bị rụng, phơi héo, dùng nước rửa sạch, để ráo, sau đó cho vào vại sành, muối như muối cà (không đổ nước). Được 3 ngày, 3 đêm, vớt ra, phơi khô tai tái rồi lại cho vào vại muối lần thứ 2 một ngày một đêm nữa. Sau đó lấy ra, phơi, sấy đến độ ẩm dưới 15%, trên quả Mơ muối kết tinh thành lớp màu trắng là được.

Bảo quản
Để nơi khô, tránh ẩm.

Tính vị, quy kinh
Toan, hàm, ôn. Vào các kinh can, tỳ, phế, đại trường.

Công năng, chủ trị
Nhuận phế, sinh tân dịch, sáp trường, sát trùng. Chủ trị: Ho lâu ngày phế hư, hư hoả tiêu khát, ỉa chảy, lỵ mạn đau bụng, hồi quyết (đau bụng giun đũa).

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 6 - 10 g, dạng thuốc sắc. Thường phối hợp với các loại thuốc khác. Bạch mai có thể dùng thịt quả bỏ hạch cứng, dùng sắc thuốc thì không cần bỏ hạch cứng.

Kiêng kỵ
Bệnh cần phát tán không nên dùng.

MÒ HOA TRẮNG-Bạch đồng nữ, Bấn trắng, Lẹo trắng, Mò mâm xôi-Clerodendrum philippinum

MÒ HOA TRẮNG
Herba Clerodendri philippini
Bạch đồng nữ, Bấn trắng, Lẹo trắng, Mò mâm xôi

Thân, cành mang lá đã phơi hay sấy khô của cây Mò hoa trắng (Clerodendrum philippinum var. symplex Wu et Fang), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).

Mô tả
Dược liệu còn nguyên: Đoạn thân non vuông, đoạn thân già tròn, dài 20 - 40 cm, đường kính 0,3 - 0,8 cm, có lông vàng nhạt. Thân chia thành nhiều gióng dài 4 - 7 cm, quanh mấu có một vòng lông tơ mịn. Lá mọc đối, gốc tròn hoặc hình tim, đầu nhọn, dài 10 - 20 cm, rộng 8 - 15 cm, mép nguyên hoặc có răng cưa rất nhỏ, có ít lông cứng và ở mặt dưới thường có tuyến nhỏ tròn, màu vàng, gân lá nổi rõ, gân phụ có hình mạng lưới, cuống lá phủ nhiều lông. Lá vò có mùi hăng đặc biệt. Cụm hoa do các xim nhỏ tập hợp thành chuỳ ở đỉnh thân, phủ dầy lông màu hung, dài 11 - 15 cm. Lá bắc hình trái xoan hoặc hình mũi mác. Hoa màu trắng hoặc vàng ngà. Nhị và vòi nhụy thò dài. Quả hạch hình cầu, đen bóng, có tồn tại lá đài màu đỏ.
Dược liệu đã cắt đoạn: Đoạn thân, cành lá được cắt thành đoạn dài khoảng 1 cm.

Vi phẫu
Lá: Biểu bì trên và dưới mang lông che chở đa bào, có 3 - 8 tế bào. Lông tiết đa bào nằm sâu trong biểu bì, chân ngắn, đầu to, tròn, gồm 6 - 8 tế bào xếp xoè ra, ngoài có lớp cutin bao bọc, phồng lên hình đầu. Tuyến tiết đa bào to, hình đĩa, nằm sát biểu bì. Mặt dưới gân chính lồi nhiều hơn. Hai đám mô dày ở 2 chỗ lồi của gân chính. Có 9 - 11 bó libe - gỗ xếp thành một vòng tròn ở gân giữa. Libe ở bên ngoài, gần như nối liền nhau. Tinh thể calci oxalat hình khối chữ nhật, thường ở mô mềm ruột của gân giữa. Mô giậu gồm một hàng tế bào.

Bột
Màu lục xám, mảnh lông che chở, lông tiết đa bào nhìn thẳng từ trên xuống có hình tròn, nhìn nghiêng đầu to, chân bé, tuyến tiết hình đĩa đa bào, có khi vỡ thành từng mảnh. Mảnh biểu bì dưới có nhiều lỗ khí gồm 2 - 4 tế bào kèm, có khi có cả lông tiết và vết tích lông che chở. Lỗ khí bị tách riêng. Tinh thể calci oxalat hình khối vuông hoặc hình khối chữ nhật. Mảnh mô mềm gân lá gồm các tế bào hình chữ nhật.

Định tính
Lấy 3 g bột lá cho vào bình nón có nút mài, dung tích 100 ml. Thêm 1 ml dung dịch amoniac 10% (TT). Trộn đều. Thêm vào bình 20 ml cloroform (TT), lắc nhẹ 10 phút, để yên trong 1 giờ, lọc dịch chiết vào 1 bình gạn, thêm 3 ml dung dịch acid sulfuric 10% (TT), lắc nhẹ vài phút, để lắng. Gạn lấy lớp dung dịch acid cho vào ống nghiệm, nhỏ vài giọt thuốc thử Dragendorff (TT) sẽ có kết tủa màu vàng cam.

Độ ẩm
Không quá 13 % (1 g, 105 oC, 4 giờ).

Tạp chất
Không quá 1 %.

Tro toàn phần
Không quá 8 %.

Chế biến
Thu hái cành lá quanh năm, tốt nhất vào lúc cây sắp ra hoa hoặc đang ra hoa, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Bào chế
Khi dùng thái nhỏ, sao vàng, sắc uống. Có thể nấu cao đặc.

Bảo quản
Để nơi khô.

Tính vị, quy kinh
Vị đắng, mát. Vào các kinh tâm, tỳ, can, thận.

Công năng, chủ trị
Thanh nhiệt giải độc, khu phong, tiêu viêm. Chủ trị: Khí hư, bạch đới, kinh nguyệt không đều, mụn nhọt, lở ngứa, vàng da, gân xương đau nhức, lưng mỏi, huyết áp cao.

Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 12 - 16 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các loại thuốc khác.