BỒ KẾT (Quả) Fructus Gleditsiae australis Trư nha tạo, bồ kết răng lợn, tạo giác

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

BỒ KẾT (Quả)

Fructus Gleditsiae australis

Trư nha tạo, bồ kết răng lợn, tạo giác

Quả chín, khô của cây Bồ kết (Gleditsia australisHemsl.), họ Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Quả dẹt và hơi cong, dài 5 - 11 cm, rộng 1,5 - 2 cm. Mặt ngoài nâu tía phủ chất sáp màu trắng tro, lấm tấm như bột, lau sạch có màu sáng bóng, dễ thấy các vết nứt dạng vân lưới hoặc dạng tuyến nhỏ lấm tấm và dạng bướu nhú lên. Đỉnh quả có gốc vòi nhụy tồn tại dạng mỏ chim, gốc quả có vết của cuống quả. Chất cứng, giòn, dễ gẫy. Mặt gẫy màu vàng nâu đến lục nhạt, giữa xốp hoặc là khoang chứa hạt. Mùi hăng nhẹ, vị ngọt sau hơi cay.

Bột

Màu vàng nâu, nhiều tế bào đá hình tròn hay hình bầu dục hoặc hình không đều, đường kính 15-53 mm. Nhiều sợi thường xếp thành bó, đường kính sợi 10-35 mm, thành hơi hoá gỗ, được bao quanh bởi các tế bào mô mềm có chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và một vài cụm sợi tinh thể, đi kèm bó sợi thường có tế bào vách dày hình gầnvuông. Các tinh thể calci oxalat hình lăng trụ dài 6-15 mm, những bó tinh thể đường kính 6-14 mm. Nhiều tế bào mô mềm có thành tế bào hoá gỗ, có nhiều vết lõm (hốc) và ống trao đổi rõ. Tế bào biểu bì vỏ quả màu nâu đỏ, hình đa giác, thành tương đối dày, với lớp cutin có gợn vân dạng hạt.

Định tính

A. Lấy khoảng 1 g bột dược liệu, thêm 8 ml ethanol (TT), đun hồi lưu trên cách thuỷ khoảng 5 phút, để nguội, lọc. Lấy khoảng 0,5 ml dịch lọc cho vào 1 chén sứ nhỏ, bốc hơi tới khô trên cách thuỷ, để nguội. Thêm 3 giọt anhydrid acetic (TT), khuấy đều rồi thêm 2 giọt acid sulfuric (TT) dọc theo thành chén, sẽ xuất hiện màu đỏ tía.
B. Đun sôi khoảng 1 g bột dược liệu với 10 ml nước trong 10 phút, lọc. Lắc mạnh dịch lọc, 1 lớp bọt được tạo thành bền vững trên 15 phút.

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 105oC, 4 giờ).

Tạp chất

Không quá 1 % (Phụ lục 9.4).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa thu, hái lấy quả, loại bỏ tạp chất, rửa sạch, phơi khô, khi dùng giã nát.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng, tránh mọt.

Tính vị, quy kinh

Tân, hàm, ôn, hơi độc. Vào các kinh phế, đại trường.

Công năng, chủ trị

Khai khiếu, tiêu đờm, tán kết, tiêu thũng. Chủ trị: Trúng phong cắn răng, đàm thịnh, quan khiếu không thông, họng đau tê đờm trướng ngại, ho suyễn khó khạc đờm, đại tiện táo kết. Dùng ngoài trị nhọt độc sưng tấy.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 1 - 1,5 g, thường dùng loại hoàn, tán. Dùng ngoài lượng thích hợp, tán thành bột mịn, thổi nhẹ vào mũi cho hắt hơi, hoặc đắp nơi đau.

Kiêng kỵ

Có thai hoặc thổ huyết, khạc huyết cấm dùng.

BỒ KẾT (Gai) Spina Gleditsiae australis Tạo giác thích

BỒ KẾT (Gai)

Spina Gleditsiae australis

Tạo giác thích

Gai ở thân và cành đã phơi hay sấy khô của cây Bồ kết (Gleditsia australis Hemsl.), họ Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Gai phân nhánh gồm có gai chính và các gai nhánh, có khi 2 - 7 gai xếp thành cụm xoắn ốc. Gai chính dài 3 - 15 cm hoặc hơn, đường kính 0,3 - 1 cm. Các gai nhánh dài 1 - 6 cm. Mặt ngoài màu nâu hoặc nâu tía. Chất nhẹ, cứng, khó bẻ gẫy, thái lát 0,1 - 0,2 cm thường thon về phía trên. Phần gỗ màu trắng vàng, phần tuỷ giòn xốp, màu hồng nhạt. Không mùi, vị nhạt.

Vi phẫu

Biểu bì gồm 1 hàng tế bào được phủ cutin, đôi khi có lông che chở đơn bào. Mô mềm vỏ gồm 2 -3 hàng tế bào, rải rác có tế bào chứa chất màu đỏ nâu. Bó sợi trụ bì xếp thành vòng không liên tục, xung quanh có các tế bào mô mềm chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và hiếm khi là cụm tinh thể calci oxalat, thường kèm 1 hoặc 2 - 3 nhóm tế bào đá. Libe hẹp. Gỗ thành vòng, tia gỗ có 1 -2 tế bào rộng. Ruột rộng, đôi khi tế bào mô mềm ruột có chứa hạt tinh bột.
Bột
Màu nâu, có nhiều sợi. Soi kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì màu nâu nhạt, gồm các tế bào nhiều cạnh, màng dày, chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và chất màu nâu. Mảnh mô mềm gồm các tế bào nhiều cạnh màng mỏng. Sợi gồm nhiều loại, có loại màu vàng nhạt, dài, thành dày, khoang không rõ, có khi kèm theo loại sợi thành mỏng, có chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và chất màu nâu. Có loại sợi gỗ dài, thành dày, khoang rộng, đứng riêng lẻ hay kèm theo mảnh mạch. Đám tế bào mô cứng thành dày, khoang rộng, có ống trao đổi rõ. Còn có mảnh mạch mạng, mạch chấm.

Định tính

A. Lấy 1 g bột dược liệu ngâm với 5 ml nước trong 1 giờ, lắc, có nhiều bọt.
B. Lấy 1 g bột dựơc liệu, thêm 10 ml ethanol 90% (TT), đun sôi trên cách thuỷ, lắc, lọc. Lấy 1 ml dịch lọc thêm 0,5 ml anhydrid acetic (TT), thêm từ từ 0,5 ml acid sulfuric (TT) xuống đáy ống nghiệm, tại lớp phân cách giữa 2 dung dịch có màu nâu đỏ

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 4 giờ).

Tạp chất

Không quá 1 % (Phụ lục 9.4).

Chế biến

Gai bồ kết thu hái quanh năm, phơi khô hoặc thái lát rồi mới phơi hay sấy khô.

Bào chế

Loại bỏ tạp chất, khi chưa thái lát, ngâm qua nước cho mềm, thái lát dày rồi phơi khô.

Bảo quản

Để nơi khô, định kỳ phơi sấy, tránh ẩm, tránh mọt.

Tính vị, quy kinh.

Tân, ôn. Vào các kinh can, vị.

Công năng, chủ trị

Tiêu thũng, trừ độc, trừ mủ, sát trùng. Chủ trị: Nhọt độc sơ khởi hoặc làm mủ không vỡ. Dùng ngoài điều trị ngứa, lở, hủi.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 3 - 9 g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài lượng thích hợp, có khi chưng giấm, bôi, đắp nơi đau.

Kiệng kỵ

Phụ nữ có thai không nên dùng.

BẠCH QUẢ (Hạt) Semen Ginkgo-(Ginkgo biloba L.), họ Bạch quả (Ginkgoaceae)

BẠCH QUẢ (Hạt)

Semen Ginkgo

Hạt già đã phơi hay sấy khô của cây Ngân hạnh hay Bạch quả (Ginkgo biloba L.), họ Bạch quả (Ginkgoaceae)

Mô tả

Hạt hình trứng, chắc,vỏ cứng, một đầu hơi nhọn, dài từ 1,5 - 2,5 cm, rộng 1 - 2 cm, dầy 1 cm. Vỏ ngoài cứng nhẵn, màu vàng nhạt hay xám nhạt, có 2 đến 3 đường gân chạy dài nổi lên rõ rệt. Vỏ hạt có 3 lớp, lớp ngoài cứng, hai lớp trong mềm, mỏng. Hạt có một nhân hình bầu dục, một đầu có màng mỏng màu nâu nhạt, mặt ngoài nhân vàng hay vàng sẫm, mặt trong màu trắng có bột, giữa rỗng có một tâm nhỏ. Nhân không có mùi, vị ngọt, hơi đắng.

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 105oC, 5 giờ).

Tạp chất

Không quá 0,5% (Phụ lục 9.4).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa thu, hái quả chín, bỏ hết chất thịt và vỏ ngoài, rửa sạch, hấp hoặc luộc qua, phơi hoặc sấy khô.

Bào chế

Bỏ tạp chất và vỏ cứng của hạt, lấy nhân, khi dùng giã nát.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng, Đựng trong bao bì kín.

Tính vị, quy kinh

Cam, khổ, sáp, bình, có độc. Vào kinh phế.

Công năng, chủ trị

Liễm phế, định suyễn, chỉ đới trọc, súc tiểu tiện. Chủ trị: Đờm nhiều, ho suyễn, đới hạ, bạch trọc, di niệu, niệu tần (đái nhiều lần).

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 4,5 - 9 g, dạng thuốc sắc hay hoàn, tán.

Kiêng kỵ

Không dùng sống vì có độc.

BẠCH ĐÀN (Lá) Folium Eucalypti (Eucalyptus camaldulensis Dehn.; Eucalyptus exserta F. Muell.)

BẠCH ĐÀN (Lá)

Folium Eucalypti

Lá khô của cây Bạch đàn (Eucalyptus camaldulensis Dehn.; Eucalyptus exserta F. Muell.) và một số loài Bạch đàn khác, họ Sim (Myrtaceae).

Mô tả

Lá hình mũi dáo hay hình lưỡi liềm, cuống ngắn và hơi vặn, phiến lá dài và hẹp (ở loài E. exserta) giòn và rộng hơn (ở loài E. camaldulensis), rộng 1 - 5 cm, dài 8 - 18 cm. Hai mặt lá đều có màu xanh ve ít vàng nhạt, lác đác có nhiều chấm nhỏ màu vàng. Khi soi lá trước ánh sáng thấy rất nhiều túi tiết tinh dầu nhỏ li ti. Gân cấp hai tỏa ra từ gân giữa, gặp nhau ở mép lá. Khi vò lá có mùi thơm mạnh đặc biệt, mùi dịu hơn ở loài E. camaldulensis. Vị thơm nóng, hơi đắng chát, sau có cảm giác mát và dễ chịu.

Vi phẫu

Biểu bì trên và dưới phủ lớp cutin dày. Mô dày ở phần lồi của gân giữa. Cung libe - gỗ ở chính giữa gân và hai bó libe - gỗ nhỏ xếp ở trên hai đầu cung libe - gỗ. Có nhiều đám sợi bao quanh cung và hai bó libe - gỗ.Mô mềm gồm tế bào tròn, màng mỏng, mô mềm giậu gồm 3 - 4 hàng tế bào hình chữ nhật xếp dọc ngay sát hàng biểu bì trên và dưới. Mô mềm khuyết. Có nhiều túi tiết to ở trong mô mềm giậu và rải rác có trong mô dày ở gân giữa.

Độ ẩm

Không quá 13% (Phụ lục 9.6).

Tạp chất (Phụ lục 9.4)

Tỷ lệ lá sẫm màu: Không quá 1%.
Bộ phận khác của cây: Nụ, hoa, quả non và cành mang lá: Không quá 2%.

Định lượng

Dùng 30 g dược liệu đã cắt nhỏ, cất với 150 ml nước trong thời gian 3 giờ. Dược liệu phải chứa ít nhất 1,2% tinh dầu (Phụ lục 9.2).

Chế biến

Thu hoạch vào cuối mùa xuân, hái lá già, phơi âm can đến khô hoặc chưng cất lấy tinh dầu.

Bảo quản

Để nơi khô mát, đựng trong bình hay túi kín.

Tính vị

Khổ, tân, lương.

Công năng, chủ trị

Khu phong, thanh nhiệt, giải độc, sát trùng. Chủ trị: Cảm mạo phong nhiệt, phong ôn mới phát, sốt, ho, thấp nhiệt, tiêu chảy, kiết lỵ do thấp nhiệt, đái rắt thấp nhiệt, họng sưng đau do nhiệt độc.
Dùng ngoài: Sát trùng chống viêm nhiễm, trị loét chi dưới, âm đạo nhiễm khuẩn, bỏng lửa; ung thũng (nhọt độc sưng), ghẻ lở, thấp chẩn ngoài da (eczema), ngứa.

Cách dùng, liều lượng

Dùng 10 - 12 g thuốc thang, thuốc hãm 20 g/1 lít nước.
Dùng ngoài lượng thích hợp, sắc nước rửa, nấu cao, bôi, đắp.

BA GẠC-(Vỏ rễ và rễ)-Cortex et Radix Rauvolfiae (Rauvolfia vomitoria Afz. và Rauvolfia canescens L.), họ Trúc đào (Apocynaceae)

BA GẠC (Vỏ rễ và rễ)

Cortex et Radix Rauvolfiae

Vỏ rễ và rễ phơi trong râm hay sấy khô của các cây Ba gạc (Rauvolfia vomitoria Afz. và Rauvolfia canescens L.), họ Trúc đào (Apocynaceae).

Mô tả

Vỏ rễ là những mảnh vỏ dài ngắn, to nhỏ không đều nhau, mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, mặt trong có thể dính một ít gỗ mỏng. Có lẫn một ít rễ nhỏ (đường kính nhỏ hơn 0,5 cm), cong queo, mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc và lớp bần dễ bong. Mặt bẻ lởm chởm không đều. Mặt cắt ngang có lớp bần dày (đối với loài R. vomitoria Afz.), hoặc lớp bần mỏng hơn (đối với loài R. canescens L.). Mô mềm vỏ mỏng, màu nâu nhạt. Vị rất đắng.

Vi phẫu

Loài R. vomitoria Afz. có lớp bần rất dày, gồm 5 - 11 lớp tế bào, mỗi lớp có 4 - 5 hàng tế bào hình chữ nhật. Loài R. canescensL. có lớp bần mỏng hơn nhiều, chỉ gồm 4 - 5 hàng tế bào hình chữ nhật, màng mỏng, xếp chồng khít lên nhau.Mô mềm vỏ: tế bào hình trứng hay hình tròn, kích thước không đều (đối với R. vomitoria Afz.), hoặc méo mó dẹt (đối với loài R. canescens L.). Rải rác có tinh thể calci oxalat hình lăng trụ và đám mô cứng. Libe bị chia cắt bởi các tia ruột, tế bào libe màng mỏng. Tầng sinh libe - gỗ (ở loài R. vomitoria Afz.) tạo thành đường uốn lượn. Gỗ chiếm từ tầng sinh libe - gỗ vào đến tâm, mạch gỗ tròn, to (đối với R. vomitoria Afz.), mạch gỗ nhỏ, thưa (đối với loài R. canescens L.), xen kẽ với nhiều đám sợi gỗ và mô mềm gỗ. Tia ruột gồm những tế bào màng mỏng.

Soi bột

Nhiều tế bào mô cứng màu vàng, hình trái xoan hay chữ nhật, màng rất dày, phần lớn có khoang rộng, có ống trao đổi rõ, hợp thành từng đám hoặc đứng riêng lẻ; hạt tinh bột tròn có đường kính 16 - 32 mm (đối với loài R. vomitoria Afz.), 6 - 9 mm (đối với loài R. canescens L.). Sợi đứng riêng lẻ hay tụ thành từng bó. Mảnh mạch (loài R. canescens L. có mạch điểm). Mảnh bần gồm tế bào hình nhiều cạnh màu vàng nâu nhạt. Tinh thể calci oxalat hình trụ có đường kính 20 - 45 mm.

Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 4.4).
Bản mỏng: Silicagel G Hệ dung môi khai triển: Cloroform - methanol - amoniac (50: 90: 1) (pha khi dùng).
Dung dịch thử (dung dịch alcaloid toàn phần): Cân chính xác khoảng 2 - 3 g bột dược liệu, cho vào bình nón nút mài dung tích 500 ml. Thấm ướt dược liệu bằng 3 ml dung dịch amoniac 25% (TT) và 1 ml ethanol 96% (TT), thêm 200 ml cloroform (TT). Lắc một giờ rồi để yên qua đêm trong chỗ tối, hôm sau lắc tiếp 30 phút. Gạn lấy dịch chiết cloroform, cất thu hồi dung môi còn khoảng 100 ml. Để nguội, chuyển vào bình định mức 100 ml, thêm cloroform đến vạch, lắc đều.Các dung dịch chuẩn: Dung dịch reserpin 0,02% và ajmalin 0,02% trong cloroform (pha riêng, bảo quản trong lọ màu, để tủ lạnh).Cách tiến hành: Chấm 10 ml dung dịch alcaloid toàn phần đã chiết và 10 ml dung dịch chuẩn mỗi loại. Phát hiện vết bằng cách quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm và phun dung dịch sắt (III) clorid 5% (TT) trong acid nitric 50% (TT), sắc ký đồ phải có:Một vết cùng giá trị Rf và cùng phát quang xanh lục so với vết chuẩn reserpin, đồng thời khi phun dung dịch sắt (III) clorid 5% phải có một vết cùng giá trị Rf và cùng màu đỏ so với vết chuẩn ajmalin (đối với loài R. vomitoria Afz.).Một vết phát quang màu tím lơ có giá trị Rf = 0,4 - 0,5 (serpentin), đồng thời có một vết cùng màu đỏ và cùng giá trị Rf so với ajmalin chuẩn; ngoài ra còn một số vết đỏ khác (đối với loài R. canescens L.).

Độ ẩm

Không quá 13% (Phụ lục 5.16).

Tạp chất

Rễ nguyên đường kính lớn hơn 0,5 cm: Không quá 2% Rễ nguyên đường kính nhỏ hơn 0,5 cm: Không quá 30%.Các tạp chất khác: Không quá 1% .
Định lượng alcaloid toàn phần
Chiết alcaloid toàn phần như đã mô tả ở phần định tính. Cất thu hồi dịch chiết cloroform đến gần cạn (còn 2 - 5 ml). Thêm 20 ml dung dịch acid phosphoric 3% (TT), đun nóng trên cách thủy đến khi bay hết cloroform. Để nguội, lọc. Tiếp tục rửa bình và giấy lọc 3 lần, mỗi lần 10 ml dung dịch acid phosphoric 3%. Gộp các dịch acid, thêm dung dịch amoniac 10% (TT) đến pH 10. Chiết alcaloid bằng cloroform lần lượt với 25, 20, 10, 10 ml. Gộp dịch cloroform, lọc qua natri sulfat khan vào bình đã biết khối lượng. Cất thu hồi dung môi đến khô và sấy ở 80 - 90oC đến khối lượng không đổi.Alcaloid toàn phần trong dược liệu khô tính theo công thức:
X=a.100.100/p.(100-b)
X: Hàm lượng alcaloid toàn phần (%).a: Cắn alcaloid sau khi sấy đến khối lượng không đổi (g).b: Độ ẩm dược liệu (%).p: Khối lượng dược liệu (g).Dược liệu phải chứa ít nhất 1,5% alcaloid toàn phần đối với R. canescens L. và 2,5% alcaloid toàn phần đối với R.vomitoria Afz.
Định lượng ajmalin
Bản mỏng: Silicagel G, kích thước 20 x 20 cm, hoạt hóa ở 120oC trong 2 giờ trước khi dùng.
Dung môi khai triển: Cloroform - methanol - amoniac 25% (50: 9: 1).Dung dịch chuẩn: Pha dung dịch 0,1% ajmalin trong cloroform (có thể dùng dung dịch chuẩn ở phần định tính).Tiến hành: Chia bản mỏng 20 x 20 cm thành 5 khoang (mỗi khoang 4 cm), khoang 1 để không (làm mẫu trắng), khoang thứ 2 và 4 chấm một lượng thích hợp dung dịch alcaloid toàn phần chiết như ở phần định tính (V2) sao cho có độ hấp thụ từ 0,2 - 0,4, khoang 3 và 5 chấm dung dịch chuẩn với thể tích 0,2 ml. Triển khai sắc ký từ dưới lên khoảng 15 - 18 cm. Lấy bản mỏng ra, làm khô hết dung môi, xác định vị trí vết ajmalin bằng phun thuốc thử xanh bromothymol (TT) trong môi trường kiềm [hòa tan xanh bromothymol trong dung dịch ethanol - natri hydroxyd 0,2 N theo tỷ lệ 1:1 (tt/tt)]. Ajmalin cho vết màu xanh có giá trị Rf ngang với ajmalin chuẩn. Đánh dấu vết ajmalin trên bản mỏng. Cạo lớp silicagel băng đầu tiên cho vào bình số 1 (làm mẫu trắng), cạo băng 2 và 4 cho vào bình 2 và 4 (mẫu phân tích), cạo băng 3 và 5 cho vào bình 3 và 5 (mẫu chuẩn), các bình có dung tích 100 ml. Thêm vào các bình 0,2 ml dung dịch xanh bromothymol hòa tan trong nước, thêm 15 ml cloroform, lắc đều. Sau đó thêm 9,8 ml dung dịch đệm pH 7,6, đậy nắp và lắc trên máy lắc trong 10 phút. Tách lớp cloroform bằng phễu chiết. Hợp chất ajmalin với xanh bromothymol có màu vàng. Lắc lớp cloroform của mỗi mẫu với 15 ml dung dịch natri hydroxyd 0,05 N, thêm nước đến 20 ml sẽ nhận được dung dịch nước màu xanh bền vững. Đo độ hấp thụ của dung dịch màu xanh ở bước sóng 597 ± 10 nm. Dùng dung dịch mẫu trắng làm dung dịch so sánh.Nồng độ của ajmalin trong dung dịch phân tích được tính theo công thức:
Cx=Dx.Cc/Cc
Cx: Nồng độ % của ajmalin trong dung dịch phân tích.Dx: Mật độ quang của dung dịch phân tích.Cc: Nồng độ % của ajmalin chuẩn.
Dc: Mật độ quang của dung dịch chuẩn.
Lượng ajmalin trong dược liệu tính theo công thức:
X=a.V1.100.100/p.(100-b).V2
X: Hàm lượng ajmalin trong nguyên liệu (%).
a: Lượng ajmalin tìm được.
V1: Tổng thể tích dung dịch phân tích.
p: Khối lượng dược liệu đem thử.
b: Độ ẩm nguyên liệu (%).
V2: Thể tích dịch chiết mẫu thử chấm trên kính sắc ký
Dược liệu phải chứa ít nhất 0,8% ajmalin (đối với R. canescens L.) và 1,3% ajmalin (đối với R. vomitoria Afz).

Chế biến

Rễ đào về rửa sạch đất (chú ý không làm bong lớp vỏ rễ). Loại rễ có đường kính nhỏ hơn 0,5 cm để nguyên, những rễ có đường kính lớn hơn 0,5 cm thì bóc lấy vỏ rễ, phơi trong râm hoặc sấy ở 50 - 60oC đến khô.
Dược liệu nên thu hái vào lúc cây có nụ hoa, chớm nở hoa hoặc vào lúc cây tàn lụi.

Bảo quản

Để nơi khô, thoáng, tránh nắng, mốc mọt.

A GIAO-Colla Corii Asini-Equus asinus L.

A GIAO

Colla Corii Asini

Chất keo nấu bằng da con Lừa (Equus asinus L.), họ Ngựa (Equidae).

Mô tả

Miếng keo hình chữ nhật hay hình vuông, dẹt, trong, bóng, màu nâu đen, chất cứng giòn. Mặt gẫy óng ánh, mùi nhẹ, vị hơi ngọt.

Độ ẩm

Cân chính xác 1 g A giao, hoà tan trong 2 ml nước nóng, bốc hơi trên cách thuỷ đến khô, giữ cho lớp keo không dày quá 2 - 3 mm, tiếp tục tiến hành xác định  

Tro toàn phần

Không quá 1 % (Phụ lục 7.6).

Kim loại nặng

Không quá 30 phần triệu.
Lấy 1 g chế phẩm, tiến hành theo phụ lục 7.4.7, phương pháp 3. Ống mẫu đối chiếu, lấy 3 ml dung dịch ion chì mẫu 10 phần triệu.

Arsen

Không được quá 3 phần triệu.
Lấy 2 g A giao, thêm 1 g calci hydroxyd (TT) và một ít nước, trộn đều, làm khô, đốt nhẹ cho cháy hết carbon, rồi nung ở 500 - 6000C đến hoàn toàn thành tro. Để nguội, hoà tan cặn tro trong 3 ml acid hydrocloric (TT), cho thêm nước vừa đủ 30 ml. Lấy 10 ml dung dịch, tiến hành theo phương pháp thử giới hạn arsen (Phụ lục 7.4.2, phương pháp A).

Chế biến

Ngâm da lừa trong nước cho mềm. Cạo rửa sạch lông, làm trắng. Thái thành miếng mỏng nhỏ. Rửa sạch, đun sôi nhiều lần. Lọc, gộp các dịch lọc. Đun, cô nhỏ lửa, thỉnh thoảng cho thêm rượu hoàng mễ, đường kính, dầu đậu nành. Cô đặc thành cao, đổ ra khay, để nguội, cao sẽ đặc lại, cắt thành miếng theo kích thước quy định. Phơi trong râm.

Bào chế

Đun nóng, làm mềm A giao, cắt thành miếng nhỏ bằng hạt ngô. Rang đều với bột vỏ sò hoặc bột mẫu lệ, khi hạt A giao phồng đều và giòn, lấy ra, rây loại hết bột vỏ sò hoặc bột mẫu lệ, không rang với cát.

Bảo quản

Để nơi khô, trong bào bì kín, tránh nóng.

Tính vị, quy kinh

Cam, bình. Vào các kinh phế, can, thận.

Công năng, chủ trị

Dưỡng huyết tư âm, nhuận táo, nhuận phế, chỉ huyết. Chủ trị: Huyết suy, chóng mặt, gầy yếu đánh trống ngực, yếu cơ, chân tay tê run, mất ngủ, ho khan, ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, băng huyết, dong huyết, động thai ra máu, đại tiểu tiện ra máu.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 3 - 9 g. Khi dùng cần hoà tan trước rồi mới hoà với thuốc khác mà uống. Không nên sắc chung với các vị thuốc khác.

Kiêng kỵ

Tỳ vị suy nhược, ăn không tiêu, nôn mửa ỉa chảy không nên dùng, không kết hợp với Đại hoàng.

BÁCH BỘ-Stemona tuberosa Lour., Họ Bách Bộ -Stemonaceae

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

BÁCH BỘ

Tên khoa học của cây bách bộ: Stemona tuberosa Lour., Họ Bách Bộ -Stemonaceae
Tên khác: Dây Ba Mươi, Đẹt Ác, Bẳn Sam, Síp (Thái), Chầu Chàng (H’mông), Robat Tơhai, Hiungui (Giarai), Sam Sip lạc (Tày).

Đặc điểm thực vật

Cây: Dây leo, sống nhiều năm, có thân mảnh, nhẵn, dài đến 6-8m, ở gốc có nhiều rễ củ, nhiều nạc mọc thành chùm, 10-20 hoặc 30 củ (Củ ba mươi), có khi tới gần một trăm củ, dài 15-20cm, rộng 1,5-2cm.
Lá mọc đối hay so le, giống lá Củ nâu, phiến lá hình tim,có khi thuôn dài nhưng đặc biệt có hệ gồm 10-12 gân ngang  nhỏ dày song song với các gân chính hình cung chạy dọc từ cuống lá đến ngọn lá.
Hoa mọc ở kẽ lá, gồm 1-2 hoa to ,cuống dài 2-4cm, mặt ngoài màu vàng lục, mặt trong màu đỏ tiá, có mùi thối; 4 nhị dài 4-5cm, chỉ nhị ngắn. Bao hoa gồm 4 phận, 4 nhụy giống nhau. Bầu hình nón, quả nặng có 4 hạt, ra hoa vào mùa hè  
Quả nang chứa nhiều hạt.

Phân bố

Cây mọc hoang nhiều ở vùng rừng núi nước ta: Hòa Bình, Phú Tho, Bắc Giang,Thanh Hóa ....
Ngoài ra còn mọc ở Ấn độ, Trung Quốc, Nhật Bản,Austraylia, Malaysia... Ở Trung Quốc vị thuốc Bách bộ còn được khai thác từ các loài S. japonica Miq., S.sessilifolia (Miq.) Franch. et Savat

Thu hái, chế biến

Mùa thu đông, người ta đào củ về rửa sạch để nguyên củ hoặc bổ đôi đem phơi hay sấy khô.

Bộ phận dùng

Rễ củ đã chế biến khô của cây Bách bộ (Radix Stemonae).
Củ thường cong queo, bổ đôi hay để nguyên, dài 5cm trở lên, rộng trên 0,5cm đầu trên hơi phình to, đầu dưới thuôn nhỏ. Mặt ngoài màu vàng nâu, có nhiều nếp nhăn. Mặt cắt ngang mô mềm vỏ dày, trụ giữa cứng. Vị đắng, hơi ngọt.

Vi phẫu

Mặt cắt rễ củ tròn. Từ ngoài vào trong có: Lớp bần cấu tạo bởi những tế bào thành dày hoá gỗ. Mô mềm vỏ các tế bào to, nhỏ không đều, thành mỏng, xếp lộn xộn, rải rác có sợi hình đa giác, tròn và những tinh thể calci oxalat cầu gai nhỏ.Nội bì cấu tạo bởi một lớp tế bào hình chữ nhật xếp đều đặn. Vỏ trụ là một lớp tế bào hình chữ nhật xếp xen kẽ với các tế bào nội bì. Libe các tế bào nhỏ tập hợp thành các bó xếp sát vỏ trụ, xen kẽ với những bó gỗ. Các bó gỗ cấu tạo bởi những mạch gỗ to, nhỏ, xếp tuần tự thành hình tam giác đầu nhọn quay ra ngoài sát với vỏ trụ, ở phía trong gỗ liền nhau thành vòng tròn. Mô mềm ruột các tế bào thành mỏng, to, nhỏ không đều, kích thước nhỏ hơn tế bào mô mềm vỏ, xếp lộn xộn. Trong mô mềm ruột rải rác có các mạch gỗ lớn.

Bột dược liệu

Bột màu xám không mùi, vị đắng, nhìn dưới kính hiển vi thấy: Mảnh bần màu vàng gồm các tế bào hình nhiều cạnh, thành dày. Mảnh mô mềm thành tế bào mỏng có khi chứa hạt tinh bột. Hạt tinh bột kích thước khoảng 0,02-0,03mm có rốn hạt và vân khá rõ, riêng lẻ hay tập trung thành đám. Mảnh mạch thường là mảnh mạch chấm, mạch vạch. Sợi dài, có thành hơi dày, khoang rộng.
Thành phần hoá học
Trong rễ củ Bách bộ (Stemona tuberosa) mọc ở Việt Nam có nhiều alcaloid khác nhau (0,50-0,60%), trong đó alcaloid chính là tuberostemonin LG, còn có 8 vết hiện màu với thuốc thử Dragendorff trên sắc ký lớp mỏng nhưng chưa phân lập được để xác định cấu trúc hóa học.
Ngoài ra trong rễ củ còn có glucid (2,3%), lipid (0,84%), protid (9,25%) và acid hữu cơ (acid citric, malic, oxalat…).
Một số tác giả Nhật Bản và Trung Quốc đã xác định trong rễ của loài Stemonatuberosa Lour. có các alcaloid: tuberostemonin (C22H23O4N), neotuberostemonin, oxotuberostemonin (C22H31O5N), stenin (C17H22O2N), stemotinin (C18H25O5N), isostemotinin (C18H25O5N), tuberostemoninol (C22H34O6N), bisdehydro-neotuberostemonin.

tuberostemonin
bisdehydro-neotuberostemonin

Tác dụng và công dụng

- Dịch chiết rễ bách bộ, alcaloid toàn phần và tuberostemonin LG đều có biểu hiện không độc ở liều thí nghiệm (165g rễ, 750mg alcaloid toàn phần, 1875mg tuberostemonin LG/1kg thể trọng chuột nhắt trắng).
- Dịch chiết rễ bách bộ, alcaloid toàn phần và tuberostemonin LG đều có tác dụng giảm ho, long đờm rõ rệt.
- Dịch chiết rễ bách bộ 2/1 làm giảm hoạt động của giun đũa lợn, dung dịch tuberostemonin LG 0,15% làm liệt hoàn toàn và chết giun đũa lợn sau 3 giờ.
- Tuberostemonin LG có tác dụng ức chế một số vi khuẩn như Bacillus subtilis, Bacillus pumilus, Bacillus cereus, Staphylococcus aureus, Klebsiella.
Bách bộ được dùng làm thuốc trị ho, ngày uống 6 – 20g dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu thành cao. Thường dùng phối hợp với một số vị thuốc khác.
Trị giun đũa: Ngày uống 7 – 10g dưới dạng thuốc sắc, uống 5 ngày liền vào buổi sáng lúc đói, sau uống thuốc tẩy.
Trị giun kim: Bách bộ tươi 40g (hoặc 20g bách bộ khô) đun với 200ml nước, cô còn lại 30ml thụt giữ 20 phút. Điều trị liền trong 10 – 12 ngày.
Ngoài ra, bách bộ còn được dùng để trừ chấy, rận, bọ chó.. cho súc vật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.